🏠 Trang chủ 🔎 Tìm kiếm
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.4: Hồi 3: Hảo hán Chương Khâu lập huyết thệ - Trường Bạch sơn loạn đảng dấy binh

~34 phút đọc · 6682 từ · ⚠️ Báo cáo

Đang nói chuyện Phụ Công Thạch đi kiện cáo ở huyện nha. Y nghiến răng quỳ trước công đường, tay vẫn siết chặt quyền kể từ khi vào cửa. Ngay sau phát đập kinh đường mộc của tên Cừu huyện lệnh, tất cả sai nha đều dừng hô "uy vũ" ngay lập tức. Họ Cừu buông phu nhân ra, cho nàng ta an tọa kế bên, hỏi như quát vào mặt Công Thạch:

"Ngươi là ai? Tới đây có chuyện chi trọng đại?"

Công Thạch chắp tay thành khẩn báo:

"Bẩm Lệnh đại nhân, thảo dân là con trai Phụ gia ở thôn Nam. Hôm nay mạo muội làm phiền đại nhân, chính là mong ngài thỉnh ý cấp trên, ra quân diệt cướp, trả lại bình yên cho bá tánh bổn huyện!"

Cừu huyện lệnh vuốt râu, mắt híp lại như một sợi chỉ trên mặt:

"Thỉnh cũng thỉnh rồi, nhưng cấp trên không làm thì chịu thôi? Ngươi tưởng ta rảnh lắm chắc? Hơi đâu lo mấy chuyện cỏn con?"

Công Thạch vốn đã tức giận khi bước chân đến đây, nghe vậy thì không thể cầm cố nữa. Y đập mạnh nền gạch đứng bật dậy, trỏ thẳng mặt họ Cừu mà mắng:

"Mẹ kiếp quân đểu cáng! Ngươi không rảnh thì sao ngồi ôm ấp nữ tử ở đây hả cẩu độn? Bá tánh khổ cực, còn ngươi hưởng phước tới mức mặt tràn mỡ ra mà không biết nhục à? Liêm sỉ ngươi bị chó tha rồi sao?"

Họ Cừu tức giận tột độ, đập mạnh kinh đường mộc rồi hất tay, hét to:

"Thằng ranh con xấc láo! Cả gan xúc phạm mệnh quan triều đình! Bắt lấy nó!"

Đám sai nha cầm côn hùng hổ xông lên vây bọc Công Thạch như kiến bu lấy mật. Công Thạch trừng mắt giữa bầy sai nha, không lùi dù chỉ nửa bộ. Y xoay mũi giày, tung cước đá một kẻ ngã nhào rồi phi thẳng về phía tên huyện lệnh. Họ Cừu và phu nhân hắn sợ chết khiếp, ôm nhau né tránh. Cả viên lục sự già nua bên cạnh cũng nhanh chân trốn ngay sau bức bình phong. Công Thạch phẫn nộ tới mức đánh gãy đôi án thư, gân nổi đầy mặt. Lúc này, bọn sai nha đã cầm côn từ sau đánh tới. Công Thạch lách người né côn một tên rồi tung đấm trúng ngay huyệt Phế du làm hắn gục tại chỗ. Y tay không quần thảo giữa hơn chục sai nha, dần núng thế, bị ép vào chính giữa sảnh đường. Bộ đầu, bộ khoái bên ngoài cũng đã cắp đao tới nơi, không cho Công Thạch có cơ hội trốn thoát. Vì không sử binh khí, Công Thạch càng là bị số đông áp đảo. Y bị một tên nện côn trúng chân, điếng người khuỵu gối, mồ hôi thấm đẫm cổ áo. Một tên bộ đầu tới nơi, lấy vỏ đao giáng thêm vào ngực họ Phụ một đòn, đánh y ngả ngửa ra sau. Cả đám sai nha còn lại xúm vào kề côn sát cổ, khống chế y thành công.

Cừu huyện lệnh bấy giờ mới nắn mũ quan chỉnh tề, từ sau bức bình phong lóp ngóp bò dậy, phun nước bọt vào Công Thạch:

"Ta khinh! Mày cương với ai vậy thằng ranh? Kì này phải đem mày sung vào quân Liêu Đông thì mày mới biết mùi được! Giải nó đi!"

Công Thạch bị thương, bị khống chế nhưng vẫn cố vùng vằng, chửi xối xả:

"Cẩu quan! Mồ mả tổ tông ngươi sẽ bị người đời đào bới! Ngươi chết không được yên! Chết không toàn xác!"

Đám sai nha vụt thêm một gậy vào lưng Công Thạch, cắt đứt một câu chửi thề của y rồi lôi y giam vào đại lao. Đoạn Cừu huyện lệnh gọi lục sự lại, hỏi:

"Ngươi nhớ tên hắn chứ? Nhà hắn ở thôn Nam đúng không?"

Viên lục sự kính cẩn đáp:

"Đúng vậy thưa đại nhân. Nó tên Phụ Công Thạch, Phụ gia ở thôn đó cũng là nhà tương đối khá giả."

Huyện lệnh gật gù, giật mạnh ria mép:

"Dám nhục mạ bổn quan à? Để ta xem cả nhà ngươi làm sao sống yên!"

Nói đoạn bèn kêu người sắp xếp, vũ trang chỉnh tề rồi kéo nhau tới nhà Công Thạch.

Hôm ấy, thúc và thẩm của Công Thạch mới lùa đàn cừu vào chuồng, chỉ vừa ngồi xuống bàn uống chén trà thì bên ngoài đã vang tiếng gõ cửa. Phụ thẩm nói với Phụ thúc:

"Ông mau ra coi đi! Chắc là Phương lão đầu tới mua cừu đó!"

Phụ thúc gật đầu rồi đặt chén trà xuống, lật đật chạy ra mở cánh cổng gỗ. Cửa mở toang, bên ngoài không thấy người mua cừu đâu, chỉ thấy chục tên sai nha hung hăng, tay nắm chặt côn đứng chực. Phụ thúc nuốt nước bọt, cung tay hỏi:

"Chẳng hay các vị quan gia giá đáo là có chuyện gì?"

Một bộ đầu cao lớn bước tới trước mặt ông ta, khoanh tay ôm đao, hợm hĩnh nói:

"Bọn ta tới đây bắt người! Phụ Công Thạch nhà các ngươi lăng mạ đại nhân, cấu kết phỉ tặc, âm mưu tạo phản. Theo luật phải chém cả nhà, tịch biên gia sản!"

Phụ thúc trừng mắt, há hốc mồm, quỳ rạp xuống mà lạy:

"Quan gia nhầm rồi! Điệt nhi sao đủ gan làm chuyện đó chứ? Tính tình nó ngang bướng, nhưng tâm tính nó tốt lắm quan gia à!"

Bộ đầu đạp ông ấy ngã lăn rồi rút đao ra:

"Giờ ông thích bao biện không? Ta cho ông về huyện nha mà bao biện! Khôn hồn mà phục đi!"

Phụ thúc chống tay, gắng gượng ngồi dậy nhưng vẫn quỳ mà cầu xin liên hồi. Phụ thẩm thấy ồn ào, ra ngoài xem thì bị một tên sai nha vung côn vào chân, phục xuống. Sau khi nghe bộ đầu kể tội Công Thạch, bà cũng ứa nước mắt thanh minh:

"Quan gia à! Tiểu tử đó tuy thường ngày lêu lổng nhưng rất hay giúp người khốn đốn, có lần tôi còn trách nó đem tiền cho người ngoài, sao có thể là cướp được? Mong quan gia thương tình mà báo lại với đại nhân!"

Bộ đầu hết kiên nhẫn, quay sang nói với đám cấp dưới:

"Phiền quá! Đại nhân nói rồi, không bắt về được thì xử luôn cho gọn! Đằng nào tội mưu phản cũng chết cả nhà!"

Đám sai nha vâng lời, chuẩn bị vung côn vào đôi vợ chồng già bất lực kia. Đột nhiên, một thanh âm bén ngót rít lên giữa tiếng rôm rả của đám sai nha, một tên trong số đó bị đâm chết ngay tức khắc. Ra âm thanh đó là của cây hoành đao trong tay Đỗ Phục Uy. Cả đám quan binh ngây người, hoảng hốt chưa kịp thủ thế. Phục Uy xoay đao quét ngang, tức thì lấy máu một kẻ. Y lại tung đao chém dọc, rạch một đường giữa sống mũi tên bộ đầu, khiến hắn ta hét lên đau đớn, tiếng hét vang vọng khắp thôn làng. Phục Uy không chờ cho đám còn lại ngơi nghỉ, lập tức múa đao như mãnh giao xuất động, giết từng kẻ một. Đám sai nha bấy giờ lác đác vài tên, cố bỏ chạy ra ngoài cửa. Phục Uy nhếch mép rồi thu đao, chẳng bận truy kích. Bọn chúng tưởng vậy là thoát, chưa kịp mừng thầm thì đã bị Khám Lăng từ đằng sau cửa vung mạch đao chém chết tại chỗ. Vương Hùng Đản ngậm một cọng cỏ, từ trên cây bạch dương trước nhà Công Thạch nhảy xuống, vỗ lưng Khám Lăng:

"Ấy chà! Đao pháp không tệ, một chiêu đã chém được ba tên!"

Khám Lăng tay chống đao, tay ôm bụng cười ha hả:

"Hảo! Tiểu tử ngươi có muốn học không?"

"Thôi xin kiếu! Ta không mạnh như huynh được! Hà hà!"

Nói một hồi thì họ mới bước chân qua cửa, vào lúc Phục Uy đang tra khảo tên bộ đầu bị rạch mũi còn sống. Hắn kể lại đầu đuôi mọi việc, vừa khóc vừa kêu gào xin tha mạng nhưng Phục Uy chẳng nói chẳng màng, lạnh lùng rút đao chém hắn. Phụ thẩm hoảng sợ tới mức không nói nên lời, trong khi Phụ thúc thì sốt sắng:

"Đại hiệp! Các người... làm vậy chẳng phải là...?"

Phục Uy cười nhạt, đỡ cả hai cùng đứng dậy, ôn tồn nói:

"Quan phủ đã mục nát tới mức này, sợ là còn hơn đám giặc cướp ngoài kia! Bọn rác rưởi này sống chỉ tổ chật đất! Thúc chớ có lo ngại, bọn ta nhất định đòi lại công đạo cho điệt nhi của thúc!"

Phụ thúc lặng người một lúc, nhìn xác đám quan sai mà lòng trĩu nặng. Phục Uy sai Khám Lăng đưa hai vợ chồng về đại bản doanh lánh nạn, còn mình và Hùng Đản đi cứu Phụ Công Thạch.

Tối ấy, Phục Uy và Hùng Đản lén lút lẻn vào nha phủ, bắt lấy một tên sai nha còn đang mơ ngủ, kề đao vào cổ hắn. Nắm bắt chỗ Công Thạch bị nhốt, Phục Uy giết hắn không chút nhân nhượng, tìm tới khu nhà lao. Công Thạch đang ngồi co rúm ở một góc phòng giam, thân thể tàn tạ vì bị đánh đập, ánh mắt cứ dán vào khoảng không vô định. Phục Uy và Hùng Đản tới nơi, nắm lấy song sắt:

"Huynh đệ! Ta tới cứu cậu!"

Lời vừa dứt, Phục Uy vung đao chặt xích khóa rồi tới gần Công Thạch. Y thấy Phục Uy và Hùng Đản thì gạt tay ra, cao giọng:

"Ai cần các ngươi cứu? Cút lẹ đi!"

Hùng Đản gằn giọng:

"Lúc nào rồi mà huynh còn nhỏ mọn vậy? Thúc thẩm của huynh bị quan nha bức hại, giờ họ đang ở chỗ bọn ta rồi! Đi mau lên!"

Công Thạch ngước mặt lên nhìn Hùng Đản, trong mắt y bỗng chốc lóe lên tia sáng. Y đứng phắt dậy như được tiếp thêm sinh lực, cùng hai người Phục Uy chạy gấp ra ngoài. Đám canh phòng lập tức ùa tới, bủa vây tứ phía, ép bọn Phục Uy vào tuyệt lộ. Cừu huyện lệnh phẩy tay, lớn giọng quát:

"Thảo khấu to gan! Dám xông vào cả nha phủ, bộ đây là cái chợ sao? Giết chúng!"

Ba người Phục Uy nhìn nhau, siết chặt đao trong tay. Phục Uy tiên phong phá vây, lưỡi đao rít gió chém tới, loáng một cái đã nếm máu hơn chục tên. Công Thạch dù bị thương vẫn kịp cắp đao từ một tên bộ khoái, được Hùng Đản bảo hộ, ráng sức chém giết mở đường. Sự dũng mãnh của cả ba người làm cho đám quan binh phải run rẩy, kẻ nào kẻ nấy xanh mặt, dần nới lỏng vòng vây. Vừa kịp lúc, Khám Lăng dẫn hơn chục huynh đệ từ ngoài cổng đánh vào, khí thế hừng hực, mạch đao trong tay Khám Lăng chém người chẳng khác gì gọt táo, nhanh chân vượt qua đám sai nha để tiếp cận bọn Phục Uy. Bọn họ đột phá vòng vây, đánh ngược lại bọn quan binh tới tơi tả, không còn manh giáp.

Họ Cừu mặt mày tái mét chẳng còn lấy giọt máu, đẩy đám thuộc hạ chặn địch rồi hối hả chạy về phía hậu viên của nha phủ. Công Thạch đảo quanh trận địa, thấy vậy liền đuổi theo phía sau. Tên huyện lệnh về tới tư phòng, gọi phu nhân dậy để bỏ trốn. Huyện lệnh phu nhân còn chưa kịp mặc xiêm y, thân thể lõa lồ, bị sự thúc giục của hắn làm cho cuống lên, vội dọn đồ bỏ chạy. Vừa đẩy cửa ra, Cừu huyện lệnh cứng đờ người khi thấy Công Thạch đứng đó, áo quần nhuốm màu đỏ thẫm, khuôn mặt không còn giống người, ánh mắt hơn cả hung thú. Y siết chặt chuôi đao, nhắm vào đầu họ Cừu mà chém. Đao đang bổ xuống bỗng lửng lờ giữa không trung khi Công Thạch nghe thấy tiếng la thất thanh của phu nhân huyện lệnh. Lưỡi đao chỉ cách trán nàng khoảng một tấc, làm nàng ta hãi quá mà ngất đi. Tên huyện lệnh sau khi đẩy phu nhân lên làm khiên cũng trèo ra khỏi cửa sổ chạy thoát thân. Công Thạch thở dài, nhìn phu nhân ông ta một chốc, giật tấm màn che thân thể nàng lại rồi tiếp tục truy sát họ Cừu. Thân hình béo ục ịch của hắn chưa chạy được bao xa đã bị Hùng Đản phi đao trúng chân, ngã cắm mặt. Hắn ta hét toáng lên như heo chọc tiết, ôm chân mà cố lết đi, bộ dạng nhếch nhác thảm hại. Cả đám huynh đệ Phục Uy giết hết quan nha, đứng vòng quanh họ Cừu, ánh mắt người nào cũng ngập sát tâm. Bấy giờ Công Thạch mới bước chậm rãi tới. Họ Cừu cố quỳ, vừa đan tay lạy vừa dập đầu:

"Hảo hán xin tha mạng! Các vị hảo hán tha mạng! Ta nhất định làm theo lời các vị! Nhất định làm theo mà!"

Công Thạch chau mày thật sâu, đồng tử giãn ra, chĩa đao vào hắn quát:

"Khốn nạn! Ngươi còn dám hại cả thúc thẩm của ta sao cẩu quan? Hôm nay ngươi tận mạng rồi, đừng mong sống sót! GIẾT!"

Nói xong liền vung đao toan chém thì Phục Uy vội gạt y ra, cản lại. Công Thạch đang trong cơn giận, xoay mũi đao về phía Phục Uy:

"Ngươi làm trò gì vậy? Cút ra để ta chém con lợn cạo này!"

Phục Uy trấn an Công Thạch, chậm rãi nói:

"Khoan đã huynh đệ, ta đoán chúng ta vẫn còn cần hắn! Ít nhất là để hắn sống vài ngày!"

Tránh cho Công Thạch manh động, Phục Uy liền sai Khám Lăng bắt trói Cừu huyện lệnh giải đi trước. Công Thạch xách đao đuổi theo, liền bị Phục Uy ngáng đường.

"Mẹ nhà nó! Thứ chó má đó mà tha được sao?"

Phục Uy vẫn rất bình tĩnh, mặt đối mặt với Công Thạch. Y đứng khoanh tay, mặc cho Công Thạch đang hướng mũi đao nhọn ngày càng gần. Đám huynh đệ xông lên định kéo Công Thạch ra thì Phục Uy ra hiệu dừng lại, nói:

"Hắn chính là thứ giúp được ta khởi sự. Nếu cậu chịu theo bọn ta, tới lúc đó sẽ tự tay cậu xử hắn, muốn chém muốn giết không ai cản."

Công Thạch hoài nghi, kề đao sát cổ Phục Uy:

"Rồi phải đợi tới lúc nào?"

"Ba ngày! Ta hứa khi hết thời hạn, hắn sẽ phải chết dưới lưỡi đao của cậu! Tin ta!"

Công Thạch hạ hỏa, dịu xuống rồi vứt đao, gật đầu:

"Được! Nếu ngươi cứu mạng thúc thẩm ta thật, vậy thì ta tạm tin ngươi! Ba ngày sau mà ngươi còn viện cớ, ta sẽ giết cả ngươi! Mau đưa ta đi gặp thúc thẩm!"

Phục Uy nghe vậy, mỉm cười rồi hô lớn:

"Quyết định vậy đi! Các huynh đệ, làm việc thôi!"

Sau tối hôm ấy, Phục Uy nhờ tay huyện lệnh mà thu được không ít của cải, dùng nó để chiêu mộ binh mã, tích trữ lương thảo và khí giới. Ba ngày sau, số người ủng hộ Phục Uy đã lên tới vài ngàn, xem chừng binh lực đã ổn.

Ngày làm lễ tế khởi sự, Phục Uy dựng một đài lớn trước công đường nha phủ, xung quanh đều là các huynh đệ thân cận, ai nấy đều nghiêm mặt chờ lệnh. Phục Uy cho giải Cừu huyện lệnh bị trói nghiến lên, quỳ trước mặt bá tánh Chương Khâu. Đoạn y bước hùng dũng lên trước mặt hắn, dang tay, nói vọng xuống bá tánh bên dưới:

"Ta là Đỗ Nghiêu Đỗ Phục Uy, thủ lĩnh nghĩa binh! Hoàng đế ngu muội, chinh thảo Di Địch thất bại, chiến tranh liên miên chưa lúc nào ngơi nghỉ. Hoàng đế giết cha tiếm ngôi, dâm mẹ chiếm muội, xây đắp kinh thành, đào kênh ngàn dặm khiến vạn dân khổ cực, mất mùa đói kém khắp nơi. Nay ta còn phát hiện Chương Khâu huyện lệnh là kẻ tham nhũng bất tài, vô đạo bất lương, lúc này đem hắn ra chém, trước là để tế vạn dân Chương Khâu, sau là để an bách tính thiên hạ!"

Phục Uy nói dứt câu, ngay lập tức sự kinh sợ của huyện lệnh dâng lên đến tột đỉnh, mồ hôi đổ như thác, không ú ớ được gì. Dân đen thì cứ reo hò, tán dương Phục Uy không ngừng:

"Giết cẩu quan! Giết hắn! Theo Đỗ đại hiệp! Theo Đỗ thủ lĩnh!"

Phục Uy nở nụ cười vừa ý, nghiêng đầu, đá mắt với Công Thạch. Y lúc này đã thấu tỏ Phục Uy, trong lòng từ thù ghét chuyển sang bội phục từ lúc nào. Phục Uy lại giơ hai tay, ra hiệu tất cả im lặng rồi mới cầm bội đao trao tay Công Thạch, nói rõ với mọi người:

"Phụ Công Thạch là phó thủ lĩnh của ta, từng bị cẩu quan áp bức tới tuyệt lộ. Bởi vậy nên hôm nay, cậu ta sẽ là người đại diện cho lão bá tánh, đứng ra chém tên cẩu quan này!"

Công Thạch nhận lấy bội đao, rút ra, mắt đầy rẫy sát ý mà chằm chằm vào họ Cừu. Ánh thép chói lóa từ bội đao này chính là thứ kết thúc mạng sống của tên huyện lệnh vô đạo. Công Thạch hét thật lớn, vung đao chém đầu hắn lăn xuống thảm, máu đổ đầy sàn. Chỉ kịp nhìn thấy bản mặt hèn hạ từng rất phè phởn của hắn trước khi lưỡi đao chạm cổ, ánh mắt chứa đầy sự kinh hãi. Giết được quan huyện, Phục Uy nhận thấy người ủng hộ vẫn chưa đủ nhiều, nhưng thay vì thôn tính những toán nghĩa quân khác trong khu vực để củng cố thế lực thì y lại chọn gửi thư chiêu mộ tới họ.

Người được Phục Uy chú ý nhất bấy giờ là thủ lĩnh thảo khấu Miêu Hải Triều với mấy ngàn lâu la dưới quyền. Khoảng vài ngày hậu khởi sự, Phục Uy cử Công Thạch đích thân tới trại họ Miêu đưa thư chiêu mộ. Trại của Miêu Hải Triều nằm gần một ngọn núi nhỏ cận Chương Khâu, bố binh đơn giản nhưng khí giới tương đối đầy đủ, lương thực cũng không thiếu. Hải Triều đang ngồi uống rượu, ăn dê nướng cùng đám thủ hạ thì chợt thấy tên lâu la chạy vào báo:

"Trại chủ! Bên ngoài có kẻ tên là Phụ Công Thạch tới gặp!"

Hải Triều mở đôi mắt tròn đầy dã khí ra, râu hùm dựng ngược, đôi chân mày dày nhíu lại, mở giọng văng vẳng:

"Hừm... Tên chém Chương Khâu lệnh à? Cho vào xem hắn muốn gì? Đi!"

Lâu la nghe xong liền chạy ra ngoài ngay. Khoảng một chốc, Phụ Công Thạch từ ngoài cửa bước vào sảnh, mắt quét ngang qua đám thủ hạ đang chực chờ rút đao của Hải Triều. Y nắn thủ hộ giáp, chắp tay cúi đầu với Miêu:

"Tại hạ Phụ Công Thạch, phó tướng nghĩa quân của Đỗ Phục Uy thủ lĩnh. Hôm nay tới gặp Miêu trại chủ đây, chính là muốn đưa bức thư, chuyển lời tới ngài!"

Hải Triều sai tên thủ hạ cầm lấy thư trong tay Công Thạch. Hắn nheo mắt đọc thư, trên đó đề rất sơ lược về việc sáp nhập hai thế lực của hắn và Phục Uy lại với nhau. Hắn đọc xong liền đập tay xuống bàn, hỏi Công Thạch:

"Ngươi nói tại sao ta phải nhập bọn cùng các ngươi? Rồi cho dù có sáp nhập đi nữa, thì ai làm thủ lĩnh? Rốt cuộc chủ tử nhà ngươi có biết viết thư chương ước ra làm sao không?"

Công Thạch khẽ nhếch mép rồi đáp lại theo lời Phục Uy dặn dò:

"Trại chủ, chúng ta đều là vì chống lại sự áp bức của triều đình mà nổi dậy, vậy nhưng môi hở răng lạnh, hai bên yếu nhược không hợp lực, rất dễ bị triều đình truy quét. Thêm nữa, nếu ta không hợp lực thì chuyện đấu đá, tranh giành địa bàn cũng sẽ diễn ra như cơm bữa, vừa chẳng được lợi lộc gì cho đôi bên, vừa tạo sơ hở cho Tùy quân lợi dụng. Về vấn đề chủ vị, nếu như ngài thấy tự thân ngài làm được, bọn ta sẽ phục tùng. Còn nếu ngài không kham nổi, sẽ để Đỗ thủ lĩnh thay ngài nhận ghế."

Hải Triều bĩu môi rồi đứng phắt dậy, một chân đạp mạnh trên ghế. Cả bọn thủ hạ cũng rút phần ba lưỡi đao ra, chuẩn bị xuất thủ. Họ Miêu gác tay lên đùi, thách thức:

"Vậy... nếu ta không thích hợp sức với các ngươi thì sao?"

Công Thạch liếc nhanh qua đám người trong sảnh, cúi đầu đáp:

"Nếu vậy thì mời ngài cùng với Đỗ thủ lĩnh đấu một trận để phân cao thấp!"

Hải Triều tức giận, lật tung cái bàn rồi quát:

"Ngông cuồng! Bắt lấy hắn!"

Công Thạch đang cúi đầu, thuận đường tảo cước một vòng, đánh ngã một tên. Y nhanh tay cắp thanh bội đao của tên đó, đối địch với mấy tay thủ hạ của Miêu, không chút sợ sệt. Hải Triều cũng rút từ trên giá binh khí một cây giản, lao vào trận như cuồng phong. Công Thạch múa đao cự với giản trong tay Hải Triều tới hơn mười hiệp vẫn chưa phân rõ thắng thua. Đám thủ hạ ngày càng dạt ra khi chứng kiến trận đánh nguy hiểm này. Hải Triều múa trọng giản, tung ra một thức như đóng đinh, nhằm vào đỉnh đầu Công Thạch. Y vội giơ đao đỡ lấy, tức thì cây đao gãy làm hai mảnh. Hải Triều nhe răng cười rồi lại xoay mình đánh tiếp, lần này là một chiêu ngang hông. Công Thạch thân pháp linh hoạt, dịch sang một bên tránh được, đồng thời cầm chắc cây đao đã gãy, lộn mèo dưới sàn rồi đâm mạnh vào bàn chân của Hải Triều. Cú đâm làm họ Miêu đau đớn, rống lên một tiếng như sói tru. Đoạn Công Thạch bồi thêm một cước như trời giáng vào đầu gối của họ Miêu, làm hắn té sõng soài. Chớp lấy cơ hội, y kề đao vào cổ hắn rồi trỏ vào đám thủ hạ:

"Kẻ nào không phục thì bước lên đây!"

Đám thủ hạ trố mắt, chỉ biết nhướng mày nhìn nhau. Trong lòng Hải Triều lúc này vừa phục vừa sợ võ nghệ của Công Thạch. Sau một hồi yên tĩnh, hắn cũng giơ hai tay đầu hàng, mặt ướt đẫm mồ hôi:

"Ta nhận thua! Ngươi muốn hợp lực, ta đồng ý! Đỗ thủ lĩnh làm chủ, ta cũng đồng ý nốt!"

Công Thạch kề đao sát hơn, hỏi:

"Lấy gì bảo đảm?"

Hải Triều lập tức lệnh cho bọn thủ hạ lui ra khỏi sảnh, đóng cửa lại. Khi sảnh chỉ còn lại hai người, Công Thạch mới thở một hơi dài rồi đẩy Hải Triều ra, nói:

"Sáng suốt đó Miêu trại chủ! Nếu ta mà có mệnh hệ gì thì trại của ngài sẽ thành bình địa!"

Hải Triều khom người, chắp tay với Công Thạch:

"Phụ đầu lĩnh thiện chiến như vậy, e rằng Đỗ thủ lĩnh cũng là một mãnh tướng. Tại hạ có mắt không tròng, xin ngài đừng trách!"

Công Thạch đáp lễ:

"Được! Từ nay chúng ta kết giao, mong ngài dốc lòng vì chủ, chung tay lật đổ triều đình!"

Hải Triều cúi đầu rồi cởi giày ra băng bó vết thương, chuẩn bị tươm tất rồi mới đem bộ chúng quy thuận Đỗ Phục Uy.

Bên ngoài Miêu trại, binh mã của họ Đỗ cũng vừa tới nơi. Phục Uy cưỡi ngựa đen trước cổng trại, trên tay là một cây Trượng bát xà mâu lóe sáng. Hai bên tả hữu của Phục Uy là Khám Lăng, hùng hổ với cây mạch đao Phách Phong cùng Vương Hùng Đản với cặp bội đao dưới yên ngựa. Theo sau bọn họ là mấy ngàn người ngựa, hò hét vang núi rừng.

Nếu Miêu Hải Triều không đồng ý hợp lực, thì hôm nay sẽ phải chôn xác trong trại của chính mình, lời này đoán chừng không hề khoa trương. Sau khi việc sáp nhập cử hành xong xuôi, Phục Uy quyết định dẫn binh mã tới họp cùng với nghĩa quân Trường Bạch sơn là bọn Vương Bạc, Mạnh Nhượng.

Cũng chính vào lúc này phía Tùy quân, Tề quận thừa Trương Tu Đà là người đảm nhận trọng trách thảo phạt núi Trường Bạch, mộ binh rất gấp. Thế nhưng rủi một chuyện, trai tráng địa phương hầu như đều bị sung vào quân đến Trác quận, số đào ngũ trốn ra thì cũng bỏ chạy mà biệt tích, chẳng được mấy người nhập quân Tu Đà.

Hôm ấy vừa kết thúc một buổi tuyển mộ, Tu Đà vươn vai, đứng dậy ra khỏi lều trướng hóng mát. Ông chỉ gần ngũ tuần mà râu tóc bạc trắng, vẻ ngoài phong sương nhưng thân hình vạm vỡ, đầu báo mắt tròn, lưng gấu vai hổ, dáng đi oai nghi như hộ pháp. Đi một lúc tới gần cổng lũy, ông dỏng tai khi nghe tiếng cãi nhau om sòm của một tên lính Tùy và một tiểu tử.

"Mắc mớ gì không được? Ta cũng biết giết địch chứ bộ? Cho ta gặp chủ tướng mấy người!"

Tên lính Tùy không nhẫn nại, giơ mũi giáo lên:

"Thôi phắn hộ cái! Người như ngươi mà ra trận, sợ là tặc khấu thổi một cái cũng bay rồi, nói gì tới đánh giết?"

Tu Đà bắt gặp cảnh ấy, bèn sải bước tới chỗ khẩu chiến. Ông nheo mắt nhìn tiểu tử kia từ trên xuống dưới. Tuy thân thể nó khá cao nhưng gầy còm ốm đói, mặt mày lấm lem, đầu tóc bù xù, áo quần rách rưới, đôi bàn chân rướm máu vừa vặn trong một đôi giày cỏ. Tu Đà tiến gần hơn, thầm tán thưởng đôi ba phần khi thấy ánh mắt sắc lẹm của nó. Đoạn ông vỗ vai tên lính Tùy:

"Có chuyện gì mà ồn ào quá vậy?"

Tên lính giật mình, quay lại cúi chào Tu Đà:

"Đại nhân! Tiểu tử này không biết từ đâu tới mà cứ nằng nặc đòi phải tòng quân bằng được!"

Ông ta gật gù, quay sang tiểu tử đang đứng khoanh tay, hỏi:

"Ngươi tới tòng quân sao? Tên gì? Người ở đâu?"

Tiểu tử ấy thả lỏng tay, nhếch môi rồi lấy ngón cái trỏ vào thân, thanh âm như chuông đồng:

"Tôi họ La tên Sĩ Tín, năm nay mười bốn tuổi! Là người huyện Lịch Thành của bổn quận!"

Tu Đà nghiêng đầu nhìn Sĩ Tín một lần nữa, rồi vuốt râu mỉa mai:

"Ra vậy! Tiểu tử khẩu khí cũng lớn lắm! Nhưng mà ngươi nên biết, xông pha trận địa không phải là dạo bộ hoa viên. Kẻ ốm đói như ngươi, sợ là tới áo giáp còn không mặc nổi, lấy cái gì mà đánh trận?"

Sĩ Tín nghe xong thì giận lắm. Cậu ta đảo mắt một vòng, bộ pháp vút nhanh như cắt, phi thân tới chỗ treo áo giáp, vớ lấy cả ba tấm chồng vào người. Cậu lại xoay mình, bộ tốc không suy, cắp cung và túi đựng tên, nhảy thẳng lên yên một con ngựa, kéo cương, khiển nó hí vang một tiếng. Làm xong, Sĩ Tín ưỡn ngực, quay đầu nhìn Tu Đà. Ông quan sát từ nãy giờ, trong tâm khó mà không thán phục tài nghệ của Sĩ Tín.

"Không ngờ tiểu tử ngươi khỏe tới vậy! Bộ pháp cực tốc không lung! Được lắm!"

Đám Tùy quân gần đó chứng kiến màn thi triển võ nghệ, ai cũng gật gù, nhìn nhau mà khen ríu rít. Đoạn Sĩ Tín xuống ngựa, chắp tay thi lễ với Tu Đà:

"Vậy đại nhân chấp nhận Sĩ Tín rồi chứ?"

Tu Đà vuốt râu cười, đặt tay lên vai Sĩ Tín:

"Được! Tuổi nhỏ mà có công phu như ngươi thật hiếm thấy! Chi bằng để bổn quan cho ngươi một cương vị nhỏ trong quân trước! Đợi khi ngươi lập công trừ giặc, ta đích thân trình tấu lên trên thăng chức cho ngươi, sao hả?"

Sĩ Tín vui vẻ gật đầu tạ ân:

"Đa tạ đại nhân chiếu cố! Sĩ Tín thề dốc hết sức giết lũ tàn khấu đó!"

Tu Đà nhận thấy Sĩ Tín nhanh nhẹn khác người, đã cho làm đội trưởng một đội binh nhỏ. Hôm ấy quân Tùy tập kết, binh mã rần rần khí thế chuẩn bị tiến về Trường Bạch sơn.

Quân Trường Bạch bấy giờ liên hợp với bọn giặc cướp Tôn Tuyên Nhã ở Bột Hải, Hác Hiếu Đức ở Bình Nguyên. Vương Bạc được bầu làm thủ lĩnh, tự xưng "Tri thế lang", sáng tác một bài hát có tên "Vô hướng Liêu Đông lãng tử ca", kêu gọi bá tánh phản đối chiến dịch Liêu Đông, chống lại sự bóc lột của Tùy triều.

"Tri thế lang vung kiếm nổi dậy,
Mặt nạ đỏ mực, chém bầy cẩu quan.
Trời xanh, nắng ánh, trăng tàn,
Liêu Đông chất cốt, ngập mùi oán than.
Tráng sĩ Tùy quân hoài công phí sức,
Vì hôn chủ mà nát cửa tan nhà.
Nay Sơn Đông vốn đất khô cằn,
Cừu non dưới núi há đủ ăn?
Ấy mà quan tham vẫn hoành bá,
Ép thuế má trên hàng lệ dân.
Sơn Đông khốn cùng kiến bất nhân,
Tới đất Liêu cũng chịu bức áp, chẳng bằng theo Tri thế tảo quan.
Bá tánh an cư, vạn dân ấm no, đại nghiệp thiên hạ thành!"

Bài hát lan rộng đến nhiều quận huyện Sơn Đông, dân chúng khốn khổ theo về rất đông. Quân Trường Bạch với chục vạn người kéo đến phía nam Tề quận, ý định tấn công cướp bóc Chương Khâu. Quân Tùy do Trương Tu Đà thống lĩnh dựng trại xong xuôi, đối địch trực diện với nghĩa quân bên bờ sông Duy Thủy. Vương Bạc hay tin bèn hoãn tiến binh, án ngữ cách bờ bên kia sông mười dặm, chuẩn bị kỹ lưỡng.

Trong đại trướng, Trương Tu Đà ngồi trên ghế chủ soái, chư tướng ghế dưới là con trai ông Nguyên Bị cùng bọn Ưng Dương phó lang tướng Giả Vụ Bổn, Bành Thành Lưu thị Lưu Đức Uy, Lưu Đức Mẫn, Đường Vạn Nhận. Tu Đà vuốt râu, nhìn vào tấm địa đồ một lúc rồi hướng mắt về phía các tướng:

"Chư vị! Chúng ta nay đã tụ họp đông đủ, cũng nên tiến công rồi chứ?"

Nguyên Bị tức thì đứng dậy chắp tay:

"Xin phụ soái để mạt tướng dẫn ba ngàn quân tới bên bờ nam sông thăm dò thế giặc trước!"

Tu Đà nhướng mày, hỏi chư tướng:

"Các vị thấy sao? Nếu không ai phản đối, bổn quan sẽ để Nguyên Bị đánh trận đầu!"

Đường Vạn Nhận cũng đứng lên xin đi cùng. Chư tướng đều nhìn về phía hai viên tướng trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, gật đầu tán đồng. Tu Đà nghĩ ngợi một lát rồi ra lệnh:

"Được! Giặc mạnh ta ít, Giả phó lang cùng Lưu đô úy hãy mang thêm ba ngàn quân bản bộ mai phục gần đồi Trụ Tha! Nếu cánh quân tiên phong yếu thế, cứ theo hướng đồi Trụ Tha mà về, quân ta có thể kịp thời tương hỗ!"

Rồi ông đến gần Nguyên Bị, nói nhỏ:

"Ra trận nhớ cẩn trọng, không được liều lĩnh!"

Nguyên Bị cúi đầu vâng mệnh, Tu Đà liền bước về chỗ cũ, nâng chén rượu hô lớn:

"Quân sự trọng đại không thể mở tửu, hôm nay đành cạn một chén này, chính là khiến bọn tặc khấu sợ hãi trước! Sau khi tiêu diệt chúng, chúng ta sẽ cùng uống thỏa thích!"

Cả trướng nâng chén rượu rồi uống cạn, sau đó mỗi người đều gấp rút mặc giáp chỉnh binh, sẵn sàng ra đánh trận đầu.

Bên kia chiến tuyến, Vương Bạc cùng đám thủ hạ tự nhiên cũng đang bàn kế đối phó Tu Đà. Bạc là người cao gầy, mặt mày thư sinh, không giống một thủ lĩnh tặc khấu cho lắm. Tả hữu kế bên y là Mạnh Nhượng, Tả Tài Tướng. Ghế dưới lần lượt là đám Hác Hiếu Đức, Tôn Tuyên Nhã, Thạch Chi Đồ, Giải Tượng, Vương Lượng đều vô cùng hung hãn, tựa hồ chỉ thua mãnh thú mỗi nanh vuốt. Đám người lúc này đều chung một lòng, muốn cùng Trương Tu Đà quyết trận thư hùng. Vương Bạc tay gõ nhẹ án thư, sắc mặt nghiêm túc, cất lời:

"Các vị bằng hữu! Hôm nay tề tựu tại đây, không gì khác ngoài cướp bóc đất Tề, khuếch trương thanh thế. Vậy nhưng nếu đối thủ của chúng ta là Trương Tu Đà, thì tình thế sẽ rất khác!"

Bên trong trướng bắt đầu vang lên tiếng bàn luận rôm rả ngay sau khi Bạc đề cập tới danh tự của Trương Tu Đà. Được một hồi, Hác Hiếu Đức mới hiếu kỳ hỏi:

"Chẳng phải cũng chỉ là một quận thừa ngũ phẩm sao? Ông ta có tài cán gì mà thủ lĩnh nói như vậy?"

Bạc chỉ tay vào Hiếu Đức, từ từ giải thích:

"Ngươi chớ vội, danh tiếng của ông ta không phải mới có cách đây một hai buổi đâu. Từ thời ông ta còn dưới trướng Sử Vạn Tuế đương triều đã lập rất nhiều chiến công. Lúc Hán vương Dương Lượng tạo phản, ông ta tiên phong phá trận, anh dũng không ai bằng, được Hoàng đế Tùy triều nhất mực xem trọng. Ông ta cả đời trên ngựa, dẹp giặc cướp đã thành bản lĩnh, có thể nói ông ta giống như thần bảo hộ ở đất Tề vậy. Các người nghe rõ lời ta vừa nói chứ?"

Bấy giờ, cả đám người mới bày ra bộ mặt thảng thốt. Mạnh Nhượng cũng là người Tề quận, giơ tay đồng tình:

"Đúng vậy! Trương Hổ Thần không phải danh hão đâu! Chớ có xem thường ông ta!"

Tả Tài Tướng vỗ vai Nhượng, nói:

"Tuy là họ Trương dũng mãnh, nhưng tuổi cũng đã qua nửa trăm. Huống hồ hiện giờ quân ông ta chẳng nổi hai vạn, lấy gì đối địch gần chục vạn người chúng ta?"

Cả bọn nghe vậy thì gật đầu nhẹ cho là phải. Đúng lúc ấy, một tên lâu la lật đật chạy vào báo tin:

"Các vị thủ lĩnh! Mật thám báo về, nói là quân Tùy đã cắt cử lực lượng tiên phong đối đầu chúng ta ở bờ bên kia rồi!"

Bạc vuốt dọc tóc mai, hỏi:

"Bao nhiêu quân mã? Ai dẫn đầu?"

"Dạ tầm ba ngàn, hai địch tướng hình như là nhi tử Trương Tu Đà Trương Nguyên Bị, một kẻ họ Đường!"

Bạc phẩy tay cho hắn đi khỏi, ngồi chiêm đi nghiệm lại. Tôn Tuyên Nhã chộp lấy cơ hội lập công, liền chắp tay thỉnh:

"Xin cho tiểu đệ đánh trận này! Đệ nhất định lấy được thủ cấp bọn chúng!"

Thạch Chi Đồ cũng xin đi, các tướng không ai nói gì. Bạc đảo mắt thêm một lượt, xem chừng khí thế chúng rất hăng, trong trướng cũng không ai phản đối nên cuối cùng, y đành gật đầu ra lệnh:

"Nếu không ai có ý kiến, ta cũng không tiện từ chối! Hai người ngày mai đem hai vạn quân vượt sông, dựng trại đối địch họ Trương đó, bọn ta sẽ mang quân tiếp ứng! Nhớ lấy, đừng ham đánh!"

Cả trướng vang lên tiếng hô đồng thanh. Tuyên Nhã và Chi Đồ dẫn quân vượt sông Duy Thủy, sáng hôm sau dàn trận ở bờ nam đón đánh Tùy quân.

Trương Nguyên Bị và Đường Vạn Nhận của quân Tùy bên này đã dẫn ba ngàn binh mã tới trước trận khiêu chiến. Cờ xí Tùy quân bay ngập đồng hoang, đỏ rực như một hàng lửa trời, trống trận vang dội như sấm, thúc giục binh tướng tiến càng gần tới kẻ thù. Tùy quân xếp trận chữ nhất nghiêm chỉnh, thế vững như tường thành. Trương Nguyên Bị là trưởng tử Tu Đà, mặt vuông cao lớn, bụng beo lưng sói, sử một cây kim qua làm binh khí. Đường Vạn Nhận cưỡi ngựa cách Nguyên Bị không xa, cũng là thân mãnh tướng, bọc giáp da kín thân, tay cầm một cây sóc dài hơn trượng.

Bên nghĩa quân dàn trận hình chữ viên với sấp kỵ binh và mộc thuẫn chắn trên đầu, sau lưng là các lớp giáo mác, đao kiếm, cung thủ loạn xạ, tiếng hò hét của đám người vừa trên núi xuống đấy lấn át cả tiếng trống trận của Tùy quân. Tôn Tuyên Nhã và Thạch Chi Đồ cưỡi ngựa đi đầu, Tuyên Nhã mặt dài giống lang sói, trong tay sẵn một cây phác đao to bản. Chi Đồ cao lớn hơn họ Tôn, mặt như báo đốm, râu xòe như quạt, nanh vuốt của hắn là cây đại phủ sắc bén. Tuyên Nhã nâng cán đao chĩa vào Tùy quân, hét lớn:

"Quân Tùy còn có gan tới đây khiêu chiến chúng ta sao? Có biết ta đã giết bao nhiêu quan quân bọn bay chưa?"

Nguyên Bị đáp trả, giọng hùng hồn không kém:

"Quân tặc khấu! Bọn mi cả gan tụ tập, kết bè kết đảng làm loạn, hôm nay hãy để ta lấy hết cẩu đầu trên cổ bọn mi! Giết!"

Dứt câu, cả hai múa binh khí xông lên trước trận, theo sau là hai đội quân đằng đằng sát khí. Đôi bên giao tranh rất kịch liệt. Tuy quan quân ít hơn song trang bị và võ lực vượt trội hơn nghĩa quân. Giao tranh tới hơn hai khắc mà Tùy quân vẫn chưa rơi vào hạ phong. Nguyên Bị múa kim qua xuất thần, món vũ khí này vừa đâm dọc lại có thể chém ngang, móc vòng qua cả khiên thuẫn mà giết địch. Vạn Nhận sức đủ đâm xuyên lớp khiên mây, chém qua một hàng thì chết lần hai, ba người. Y trước sau giết vài chục địch nhân, khắp người sớm đã vấy máu như tắm.

Mà lại nói nghĩa quân dù trận hình lỏng lẻo, trang bị thua xa Tùy quân nhưng dẫu sao quân số vẫn quá chênh lệch, đã vậy còn nhờ Tuyên Nhã và Chi Đồ - hai kẻ địch hung mãnh mà càng liều lĩnh chém giết. Nguyên Bị thấy thế giặc quá mạnh, bản thân thấm mệt, bèn lệnh rút lui theo đường đã định.

"Chúng tướng sĩ mau rút! Bảo toàn lực lượng!"

Tùy quân thổi tù làm hiệu, truyền khắp mặt trận. Rất nhanh, họ đã giải thể trận hình, rút lui về rừng cây phía nam hướng đồi Trụ Tha. Nghĩa quân nhuệ khí đang thịnh, dĩ nhiên không bỏ cuộc, theo hai tướng Tôn Thạch dốc toàn lực truy kích. Thắng bại thế nào, hồi sau sẽ rõ.

💬 Bình luận

📚 Truyện tương tự