🏠 Trang chủ 🔎 Tìm kiếm
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.5: Hồi 4: La Sĩ Tín một thương phá trận - Trương Tu Đà đại thắng khấu binh

~52 phút đọc · 10232 từ · ⚠️ Báo cáo

Đang nói đến Tùy quân và nghĩa quân Trường Bạch giao chiến ở bờ nam sông Duy Thủy. Trương Nguyên Bị và Đường Vạn Nhận đoạn hậu cho Tùy quân, bảo hộ binh sĩ rút từ chiến địa về hướng đồi Trụ Tha. Thân hai viên tướng chịu nhiều vết thương, Nguyên Bị còn trúng hai mũi tiễn, trông vẻ khó lòng gượng được đến lúc hai tướng Giả Vụ Bổn với Lưu Đức Uy tiếp ứng.

Bấy giờ lại nói đến quân mai phục ở trên đồi Trụ Tha, thì ra cũng đang nín thở chờ đợi mong cứu viện. Giả Vụ Bổn sốt ruột, quan sát mà siết thật mạnh cây ngân thương trong tay. Lưu Đức Uy bên đồi đối diện cũng không khỏi dáo dác nhìn quanh, chực chờ rút song tiên đã được canh giờ rồi. Sau một khắc nữa, Tùy quân an toàn vượt qua tầm của những người trên đồi, kẻ địch sắp đến nơi song vẫn còn Nguyên Bị, Vạn Nhận và vài mươi binh sĩ đằng sau chưa bắt kịp. Tôn Tuyên Nhã tế ngựa đuổi kịp Nguyên Bị, nhắm lưng y chém một nhát khiến y ngã khỏi ngựa, thương thế rất nguy kịch. Vụ Bổn một nửa không muốn phát lệnh vì địch chưa vào tầm bắn, nửa còn lại vô cùng sốt sắng khi trông thấy Nguyên Bị gặp nạn. Tả hữu vi nan, Vụ Bổn phân vân chưa biết làm thế nào thì một bóng ảnh nhanh hơn chim nhạn đã lao vút ra từ phía sau.

"Tiểu gia La Sĩ Tín ở đây! Tặc tử hãy mau nạp mạng!"

Sĩ Tín hít một hơi dài rồi nhảy khỏi mỏm đá, múa thương đánh xuống. Tuyên Nhã vừa ngước lên, chưa kịp giơ đao đã ăn trọn một nện như thiên lôi mà ngã dúi dụi. Thạch Chi Đồ thấy huynh đệ thất thủ, vội múa phủ lao lên. Sĩ Tín không hề nao núng, tấm thân gầy gò ấy xoay mình chống thương, bật lên tung ra một thức song phi trúng cổ ngựa. Cước lực kinh hồn làm con ngựa hí lên đau đớn, hất văng họ Thạch xuống đất. Nghĩa quân thấy Sĩ Tín đánh lui được hai chủ tướng nên tuyệt không dám lại gần, chỉ thủ binh khí lưng chừng. Vụ Bổn và Đức Uy thấy tình thế nguy cấp, đành giương cao binh khí, hét vang:

"Tùy quân Hoằng Nông Trương Hổ Thần đã tới! Tặc khấu hãy mau chịu chết!"

Nghĩa quân dính chiêu giết gà dọa khỉ, lại thấy từ hai bên sườn đồi xuất hiện quân mai phục, sợ chủ lực quân Tùy công đánh nên dần mất sĩ khí, chuẩn bị tâm thế bỏ chạy. Tuyên Nhã bên này nghiến răng nghiến lợi đỡ Chi Đồ dậy, hai người nhìn nhau, gật đầu rồi lệnh:

"Chủ lực chúng tới! Các huynh đệ mau rút!"

Sĩ Tín tiên phong, cắp thương truy sát, giết liên tiếp mười địch nhân ngáng đường. Tùy quân phô trương thanh thế, theo hai tướng Giả Lưu đuổi giết hết hai dặm nữa. Trận ấy Tùy quân chém hơn trăm đầu, giết vài ngàn địch mới thoái lui về trại. Bọn Nguyên Bị thương thế ra sao, hồi sau sẽ rõ.

Hậu chiến sự, Tùy quân rút vào trại an toàn, Nguyên Bị bất tỉnh, cũng được Sĩ Tín cõng lên ngựa quay về. Đường Vạn Nhận băng bó xong, vừa mới nghỉ ngơi được một chút đã tìm gặp Đức Uy để cảm tạ.

"Hôm nay đúng là nguy hiểm! Không có các ngài e là bọn ta đã bỏ mạng rồi!"

Đức Uy thở dài luyến tiếc nói:

"Có hơi uổng một chút là chúng chưa vào sâu trong vòng mai phục! Bằng không phe ta có thể gây tổn thất cho chúng hơn nữa!"

Vạn Nhận nghe xong thì tặc lưỡi, mặt xị xuống. Đức Uy liền mỉm cười, vỗ vai họ Đường nói:

"Nhưng nói đi cũng phải nói lại! Ngộ nhỡ lúc đó không ai tương cứu, sợ là phe ta cũng tổn mất hai viên đại tướng!"

Vạn Nhận lấy lại tinh thần, đổi sang tò mò, hỏi:

"Lưu đô úy nói chí phải! Thiếu niên kia đúng là dũng mãnh khác người! Nhưng sao ta thấy cậu ấy lạ mặt quá? Mới tòng quân chăng?"

Đức Uy gật đầu đáp:

"Đúng vậy! Cậu ta tên La Sĩ Tín, người huyện Lịch Thành. Mấy bữa trước, vào lúc chuẩn bị xuất quân thì cậu ta mới nhập ngũ. Trương đại nhân vô cùng tán thưởng cậu ta, nên để cho làm trưởng quan một đội binh nhỏ. Quả nhiên hôm nay cậu ta đã có đất dụng võ!"

Vạn Nhận gật gù, trong lòng thầm phục Sĩ Tín, định bụng tìm cậu để tạ ơn cho tử tế. Vụ Bổn bên này trở về đại trướng, báo cáo với Tu Đà:

"Đại nhân! Trận này quân ta tổn thất tương đối ít, nhưng địch cũng chỉ có khoảng bốn, năm ngàn thương vong. So với binh lực của chúng thì hao hụt này không đáng kể!"

Tu Đà nhấp ngụm trà sau án thư rồi khẽ gật đầu một cái, nói:

"Trận này thắng bại chưa phân, ta tạm thời lùi về mười dặm trước!"

"Đại nhân đã có đối sách chăng?"

"Tạm thời thì chưa, nhưng ngươi cứ làm theo lệnh bổn quan đi!"

Vụ Bổn cúi đầu nhận lệnh rồi ra ngoài, vô tình thấy Sĩ Tín đi ngang đại trướng. Tu Đà cũng trông thấy cậu ta, bèn sai Vụ Bổn mời Sĩ Tín vào rồi ban tọa, ôn tồn hỏi:

"Sao rồi? Trận đầu cảm thấy thế nào?"

Sĩ Tín hai mắt sáng rực, chắp tay dõng dạc:

"Bẩm đại nhân! Sĩ Tín ra trận hạ được hai tặc tướng, chặt lấy mười thủ cấp! Có cần mang ra kiểm chứng không thưa ngài?"

Tu Đà cười lớn, vỗ bàn khen:

"Hảo! Bổn quan trộm nghĩ với thực lực của ngươi thì số thủ cấp lần này không đáng nói, nhưng ngươi đã cứu được hai viên đại tướng quân ta, vừa đả bại hai tặc tướng. Như vậy chính là lập được công đầu, giúp Tùy quân ta thị uy trước mặt lũ cướp cạn đó!"

Sĩ Tín cúi đầu nói:

"Đa tạ đại nhân khen ngợi! Sĩ Tín quyết dốc hết sức trong trận lần sau, nhất định có thể đem đầu đảng của giặc phanh thây!"

Tu Đà càng tiếp xúc càng mến dũng khí của Sĩ Tín, bèn thưởng cho cậu ta một chén rượu rồi hỏi chuyện gia đình cậu ta. Một lát sau, Sĩ Tín mới từ trướng thong dong bước ra, miệng nở nụ cười hăng hái. Vừa đi được mấy bộ thì cậu gặp Đường Vạn Nhận đang nhìn ngang ngó dọc bước tới. Y trông thấy Sĩ Tín thì mừng lắm, vội sáp lại rồi chắp tay nói:

"Cậu là La trưởng quan phải không?Đường Vạn Nhận thay mặt Trương huynh đa tạ cậu hôm nay tương trợ chúng tôi!"

Sĩ Tín cười gượng, hoàn lễ mà rằng:

"Đường giáo úy khách khí rồi! Sĩ Tín nóng vội làm lỡ quân cơ, không dám nhận lễ này!"

Vạn Nhận cũng có mấy phần xấu hổ, ngượng ngùng nói:

"Thực sự là do bọn ta đánh hăng tới nỗi quên mất kế hoạch, nên thương tích hơi nhiều, không kịp dụ địch vào ổ mai phục đã xém mất mạng rồi! Cũng may số ta chưa tận! Hà hà!"

Sĩ Tín phóng thanh một tiếng cười, lại được Vạn Nhận mời đi làm quen với thuộc hạ của y nên trong lòng vô cùng vui vẻ, đôi bên suốt dọc đường cười nói qua lại không ngớt.

Bên này, Tu Đà cũng cởi giáp, bước khỏi đại trướng để đến tư trướng của con trai mình. Trong trướng, Nguyên Bị nằm bất động trên hồ sàng, được một lão quân y chữa trị, tả hữu là hai lính Tùy hỗ trợ. Cạnh chân ghế của lão quân y là một thau nước đầy máu, cùng hai mũi tiễn được rút ra từ người viên tướng trẻ. Ông hướng dẫn hai tên lính Tùy xê dịch Nguyên Bị, băng bó cho y rất chu đáo. Xong việc, ông ta lau tay lau trán, quay mặt ra ngoài thì thấy Tu Đà đang chậm rãi đi vào. Lão quân y nom thấy, bèn thi lễ rồi thưa rằng:

"Tham kiến đại nhân! Lão đã chạy chữa cho công tử xong xuôi!"

Tu Đà gật đầu, liếc vội nhìn hai tên lính đang dọn dẹp mớ hỗn độn sau khi chữa thương, ánh mắt mới dừng lại phía hồ sàng. Đoạn ông quay mặt sang lão quân y:

"Quách ngỗ tác không cần đa lễ! Thương thế của Nguyên Bị sao rồi? Có nghiêm trọng không?"

Ra quân y chữa cho Nguyên Bị bấy giờ là một lão ngỗ tác ở huyện nha trước kia, vì Tùy quân thiếu nhân sự nên ông theo ra chiến trường. Ông ta đáp lễ, hai tay dâng toa thuốc đã kê cho Tu Đà rồi thưa:

"Hồi đại nhân! Công tử bị thương không ít, từ ngực, bắp tay, cánh tay, sống lưng đều có thương tích, nặng nhẹ hơn mười vết. Trên vai còn trúng hai mũi tiễn, khó lòng nhấc đao, phải tịnh dưỡng ít nhất mười ngày mới có thể cử động. Lão hủ đã kê đơn thuốc sẵn, cứ vậy mà dùng, ngày hai lần điều độ, dần dần công tử sẽ hồi sức lại thôi."

Tu Đà cúi đầu đáp tạ rồi nói:

"Quách ngỗ tác tận lực, vất vả cho ông quá! Hay để bổn quan tiễn ông một đoạn?"

Quách ngỗ tác vội khom mình trả lễ:

"Đại nhân khách sáo, lão hủ không dám nhận! Ngài cứ việc ở lại với công tử, lão hủ tự mình ra ngoài là được!"

Dứt câu, Quách ngỗ tác đeo hộp thuốc lên vai, nở nụ cười nhân hậu rồi khuất bóng sau màn trướng. Hai tên lính Tùy thu dọn xong cũng xin Tu Đà cáo lui, để ông một mình cạnh Nguyên Bị. Tu Đà ngồi xuống bên hồ sàng, nắm tay con trai, thở dài rồi khẽ trách:

"Tiểu tử này! Đã dặn là không được liều lĩnh rồi! Giờ nằm liệt như vậy, bảo ta yên lòng mà đánh trận sao?"

Nguyên Bị cảm nhận được hơi ấm từ tay cha, dần mở mắt. Tu Đà thở phào nhẹ nhõm rồi nói:

"Được! Tốt rồi! Con tỉnh lại là ta mừng rồi!"

Nguyên Bị dù vừa hồi tỉnh, vẫn cố nở nụ cười tự tin, thều thào:

"Cha... hài nhi... chém rất nhiều địch!"

Nụ cười Tu Đà nhạt dần đi, nghiêm giọng:

"Con đó! Im miệng lại mà nghỉ ngơi, biết chưa? Đừng động đậy nhiều trong mấy ngày này, như vậy ta mới yên lòng cho đặng!"

Nguyên Bị cười rồi cụp mắt lại, ngủ thiếp đi. Tu Đà trong lòng tư lự, ngửa cổ lên lẩm bẩm:

"Bà có trên trời linh thiêng, hãy phù hộ cho con trai chúng ta bình an!"

Nói đến đây thì bên ngoài cũng chập tối, mảnh trăng như móc câu treo lơ lửng giữa trời, ánh sáng mập mờ của trăng được khuếch đại bởi hàng vạn ngọn đuốc, chiếu soi những lá cờ đỏ viền đen cắm trên nóc trại nghĩa quân.

Bên phía Vương Bạc đã nhận được tin về trận ban sáng, chuẩn bị đem toàn quân vượt sông hội với bọn Tôn Tuyên Nhã. Các tướng đều đang ngồi ngay hàng thẳng lối đợi lệnh của họ Vương trong trướng. Y quan sát địa đồ một lúc rồi thử hình dung thế trận. Hàng loạt bóng ảnh hiện lên trong đầu họ Vương, thúc giục y mở lời.

"Các vị bằng hữu! Sau trận hôm nay, Tùy quân dường như đã e dè mà lùi về chục dặm. Ta thấy bên kia Duy Thủy là vùng hạ du, hoàn toàn có thể bày ra trận Nhật tự tảo thiên quân, dùng quân số của ta áp đảo binh Tùy."

Bọn chúng tất thảy chẳng ai hiểu trận, ngơ ngác mà nhìn. Trong cái đám thô kệch ấy, chỉ có Mạnh Nhượng và Hác Hiếu Đức là hiểu ra chút đỉnh. Họ Vương nở nụ cười rồi giải thích ngắn gọn:

"Ta dàn thuẫn binh thành hình chữ nhật, bao lấy binh mã bên trong, số binh đó sẽ bảo hộ soái đài giữa trận. Chung quanh soái đài sẽ đặt cung tiễn thủ. Với nông phu, chỉ có thể bày trận đơn giản như vậy, khó mà phức tạp hơn. Hy vọng mọi người nghe theo sắp xếp, chia nhau ra đúng theo lời ta dặn, mỗi người một hướng mà trấn thủ."

Đoạn Vương vuốt ve cằm, lệnh mọi người đứng dậy, lấy đỉnh bút điểm vào tấm địa đồ ở góc trướng mà rằng:

"Các vị thấy rồi chứ? Hạ du Duy Thủy rộng rãi bốn bề, chỉ có rừng cây phía nam là thích hợp đặt mai phục. Nhưng ta chắc rằng họ Trương cũng biết điều đó, trận trước đã làm thì lần này chẳng dại nữa đâu. Ta sẽ chia binh trấn trận, để bọn Tôn, Thạch kia làm tiền quân, thẳng đường tiến lên. Ta sẽ lấy vị bằng hữu họ Tả làm trung tâm, đứng trên soái đài hiệu lệnh, tả hữu hậu lần lượt là Hác, Mạnh, Giải, Vương. Các vị đã nắm rõ chưa?"

Hiếu Đức hỏi thêm:

"Nếu Trương Tu Đà bị đánh bại nhưng vẫn thoát, vậy ta có nên truy kích? Và lỡ... chúng ta chẳng may thua thì sao?"

Vương Bạc nhíu mày, đáp lại:

"Ta nghĩ kỹ rồi, Trương Tu Đà quả thực có tài, nhưng suy cho cùng thì vẫn cần tướng hiệu binh mã. Vậy nên ta mới nhắc các vị đây là một trận quan trọng, lợi dụng lúc Tùy quân hao tổn nguyên khí mà công đánh, tuyệt đối không được để thua! Nếu không giết được họ Trương, chí ít cũng phải đoạn đi binh mã của ông ta. Cơ mà dù có thua thật chăng nữa thì các vị đã quên đại bản doanh vẫn còn bọn Triệu Phá Trận sao? Miễn là Sơn Đông vẫn còn lưu truyền bài ca đó, chúng ta chẳng lo thiếu bộ chúng. Ngược lại nếu họ Trương bại trận này, ta dám cá là không còn mấy kẻ trong triều cản được chúng ta đâu!"

Cả đám người nhìn nhau rồi đồng thanh nhận lệnh. Nói đoạn liền bắt tay vào việc ngay, tập hợp toàn quân lên thuyền vượt sông, hạ trại ngay trong đêm.

Vào lúc khí thế của giặc đang mạnh, Tu Đà chẳng lấy làm run sợ, trái lại cũng tập hợp binh tướng bàn đối sách, sao cho một chọi được năm. La Sĩ Tín bấy giờ được đặc cách, cho ngồi ghế dưới cùng hội. Họ bàn tán quanh sa bàn đã hơn hai khắc, chưa có chủ ý nào hay. Giả Vụ Bổn bèn thỉnh:

"Đại nhân! Binh mã ta ít nhưng cung nỏ tốt, chi bằng dụ lũ hiếu chiến đó vào trận một thể, cung tiễn bao vây rồi thúc quân công đánh!"

Tu Đà lắc đầu, vuốt dọc chòm râu nói:

"Hạ du Duy Thủy hiếm chỗ gọi là địa lợi, khó lòng đặt mai phục. Vả lại Giả hiệu úy chắc đã nghe, độc kế dù là thành hay bại trong lần đầu, cũng khó mà tái dụng lần hai. Lần trước ta dụ chúng bất thành, không thể tắm hai lần trên một dòng sông."

Vụ Bổn nghe vậy cũng không khỏi vuốt râu trầm ngâm. Không khí trong trướng lúc này căng như dây đàn, nhịp thở của chư tướng tựa hồ có thể nhận thất rõ mồn một. Lúc ấy, Tu Đà bỗng dưng hạ đầu nhìn thẳng, hai tay chống lên thành sa bàn, giọng trầm đục hơn hẳn mọi khi:

"Ta có một cách, chư vị có sẵn lòng nghe không?"

Chư tướng đều gật đầu rồi im lặng, chăm chú lắng nghe từng câu từng chữ của Tu Đà:

"Vương Bạc cậy vào điêu trùng tiểu xảo, dám bắt chước Hoài Âm hầu, đã vậy bổn quan sẽ đích thân dẫn quân chủ lực giáp trận với hắn. Trong lúc bổn quan đánh lạc hướng chúng, cần có một vị tình nguyện đem trăm binh men sông, vòng ra hậu tuyến của giặc đốt phá, nhiễu loạn thế trận. Bọn chúng tuy đông nhưng chỉ là toán ô hợp, một mồi lửa nhất định khiến chúng hoảng loạn. Chúng trước giáp địch mạnh, sau không thủ vững, ta tiến công tất phá nát trận hình của chúng!"

Chư tướng gật gù nhìn nhau, đều cho là ý đó hay. Song đến đây lại phát sinh một vấn đề, ai sẽ là người dẫn trăm binh đánh vào hậu tuyến của địch? Tu Đà tặc lưỡi, tiếc nuối nói:

"Kế này cũng chẳng phải sách lược gì đao to búa lớn, bổn quan tự phụ mình có thể làm được. Vậy nhưng bổn quan thân là chủ tướng, chỉ sợ tặc khấu không thấy ta mà chột bụng tăng phòng thì hỏng kế!"

Mọi người còn đang băn khoăn, chưa ai bạo dạn xin đi thì một thiếu niên gầy gò đầu buộc khăn đỏ, mắt bén như dao lấy hết đảm khí đứng ra đáp lại:

"Đại nhân là chủ soái, không thể tùy tiện xông vào hiểm địa! Sĩ Tín nguyện lĩnh trăm binh này!"

Cả trướng kinh ngạc trước thỉnh cầu của Sĩ Tín, hết nhìn nhau lại quay sang nhìn cậu ta. Lưu Đức Uy sợ việc vượt sức Sĩ Tín, bèn thỉnh:

"Đại nhân! Thế giặc thực quá đông đảo, chi bằng để ti chức trợ trận cho La trưởng quan!"

Tu Đà mân mê chòm râu, bật cười rồi vỗ bàn:

"Được! Hai ngươi đã có lòng, bổn quan há không tác thành? Ngoài ra tăng gấp đôi số binh, hai ngươi chia nhau mà thống lĩnh! Nếu có thể hoàn thành nhiệm vụ lần này, Tùy quân ắt đại thắng, công đầu nhất định thuộc về hai người các ngươi!"

Cả trướng hùng hồn hô lớn "giết tặc khấu" một hồi mới dừng lại. Tu Đà quan sát vẻ mặt đầy cương nghị của mọi người, trong lòng thầm cảm khái. Quả thực trận chiến lần này rất khó đoán, ranh giới thắng bại vô cùng mong manh, cho cả đôi bên quan và khấu vậy.

Lại nói ban nãy Vương Bạc có nhắc đến đại bản doanh của chúng ở Trường Bạch, vốn là một sơn trại lớn với ba mặt giáp núi, dễ thủ khó công. Trước cổng lớn của sơn trại là một hàng cọc chông nhô ra lủa tủa, đằng sau còn có mấy tay hung thần với khiên mây và đao đứng gác. Đi thẳng vào con đường đất, qua hàng trăm lều trại lưa thưa thì tới được đại sảnh.

Bên trong cánh cổng thếp gỗ to bản kia là một sảnh đường rộng lớn với giá để binh khí vây quanh, mùi rượu và thịt nướng bốc lên nồng nặc. Ngồi trên ghế cao nhất chính là Triệu Phá Trận mà người ta hay khen là "Đả Lang Đầu". Hắn mặt vuông râu rậm, bàn tay thô ráp ung dung nâng chén rượu nóng, hít hà với đám ngồi ghế dưới, bấy giờ là Lý Tử Thông và bọn Đỗ Phục Uy vừa tới hội.

"Đỗ thủ lĩnh tới góp sức cho Trường Bạch sơn chúng ta là chuyện đại hỉ! Mời nâng chén rượu, sau này cùng nhau giết quan thu lợi, tiêu diêu tự tại! Cạn!"

Phục Uy nâng chén đáp:

"Được cùng sát cánh với các ngài, Đỗ Nghiêu lấy làm vinh hạnh! Xin cạn chén này!"

Cả đám cùng uống một hơi hết sạch chén rượu trong tay. Lý Tử Thông thấy Phục Uy oai vũ, ánh mắt lại sâu hun hút như chứa đầy mưu hiểm bên trong nên có chút ấn tượng. Hôm ấy bày tiệc linh đình, sơn trại ăn uống no say chẳng còn biết trời trăng mây gió gì. Mùi hôi thối và men rượu của mấy kẻ thô lỗ trong trại làm không khí trại nặng nề hơn thường ngày.

Trăng đã lên, Tử Thông đột nhiên hữu ý mời Phục Uy nói chuyện trong tư thất. Họ Lý là một người dáng dấp cân đối, dung nhan kỳ dị, mày kiếm mắt hươu, đầu tóc bạc trắng song hẵng còn trẻ trung, độ khoảng tứ tuần. Phục Uy ngồi ghế đối diện, để bọn Khám Lăng và Vương Hùng Đản canh ngoài cửa. Căn phòng chỉ độc một ánh nến vàng vọt, vừa đủ chiếu lên hai khuôn mặt đầy dã tâm kia. Chuyện trò tầm phào đã đời, Tử Thông mới ngỏ lời khen:

"Đỗ thủ lĩnh khí chất tương đương Ngụy Vũ, quả là bậc anh hùng hiếm thấy!"

Phục Uy nhếch mép, chỉ vào Tử Thông:

"Ngài... cũng là anh hùng vậy!"

Cả hai đều nở nụ cười đầy âm hiểm. Tử Thông khẽ tiếp lời:

"Ta ở đại bản doanh đã lâu, người ở đây bị đối xử tệ bạc, ngoài mặt theo Triệu Phá Trận nhưng trong lòng bất mãn. Tả Tài Tướng đa nghi tàn bạo, nên ta đã phủ dụ hầu hết bộ chúng của bọn hắn rồi. Ngài chỉ cần hô một tiếng, đảm bảo vạn vô nhất thất!"

Phục Uy nghiêm mặt lại, nghiêng đầu vờ như khó hiểu:

"Ý ngài là sao?"

Tử Thông cười nhạt mà nói:

"Còn là gì được nữa chứ? Chẳng phải Vương Bạc bọn hắn đều không có ở đây sao? Họ Tả độc đoán, luôn nghi kỵ kiêng dè ta, nếu ngài tới thì hắn cũng không trọng dụng ngài đâu! Thời cơ đã điểm, ngại gì mà không tính kế cho bản thân?"

Phục Uy nhướng mày, đặt tay lên mũi, vờ như trăn trở:

"Vậy liệu có được chăng?"

Tử Thông quan sát từng cử chỉ và nét mặt họ Đỗ, mỉm cười rồi trỏ vào y:

"Ngài diễn tệ thật! Mặt của ngài đang hiện chữ 'được' kìa!"

"Hà hà! Lý thủ lĩnh quả nhiên đoán biết được sắc mặt... lẫn thực dạ người ta!"

"Ngài đúng là thích nói vòng vo, Đỗ thủ lĩnh à! Ha ha!"

Sau khi đối ẩm, cả hai đều vỗ đùi cười thành tiếng. Xem chừng nội bộ của nghĩa quân này đã xuất hiện vết rách không nhỏ. Hai người Đỗ Lý thao quang dưỡng hối, chỉ chờ thời cơ chín muồi sẽ liền ra tay chọc thẳng vào vết rách ấy. Mà lại thời cơ... là lúc này chứ chẳng đâu.

Hai ngày sau, chuyện gì đến cũng đến. Binh mã hai bên Tùy quân và Trường Bạch sơn dàn trận đều ồ ạt tựa sóng vỗ. Nghĩa quân do đích thân Tả Tài Tướng thống lĩnh trên soái đài, Tôn Tuyên Nhã và Thạch Chi Đồ làm tiên phong, tả hữu lại có Hác Hiếu Đức và Mạnh Nhượng trấn thủ, dàn quân thành hình chữ nhật bên bờ nam sông Duy Thủy, khí thế ngút trời. Tùy quân bấy giờ do Trương Tu Đà chỉ huy, loạt trống trận thúc lên liền khiến chim chóc bay đầy trời, cả rừng cây xao động như muốn tránh đi tai kiếp binh đao.

Tu Đà toàn thân mặc giáp đồng khảm bách hoa, đội mũ đấu ngư lấp lánh, cưỡi trên chiến mã tên gọi Viêm Hỏa câu, dưới yên giắt một cặp Thủy hỏa tù long giản, mỗi bên nặng hơn bốn mươi cân. Tướng Tùy tả hữu theo Tu Đà có Giả Vụ Bổn sử ngân thương cùng bào đệ Lưu Đức Uy là Đức Mẫn, sử một cây trường đao. Tu Đà thong thả quan sát trận hình, nom thấy nhuệ khí của địch đang mạnh, chưa vội thúc quân công đánh.

Phía hậu tuyến của địch, lấp ló bên những bụi cỏ lau dày đặc chính là đội cảm tử hai trăm quân của La Sĩ Tín và Lưu Đức Uy. Bọn họ đã vòng sau trót lọt mà không hề bị phát giác. Cả đám người trong đội đều nhớ lại lời Sĩ Tín trước khi xuất trận: "Nam nhi đại trượng phu, muốn thể hiện mình chính là vào lúc then chốt này!". Họ nắm chặt binh khí, nín thở hồi hộp chờ lệnh. Khi thấy gió nổi, họ Lưu không chần chừ mà phất tay hiệu lệnh. Hơn hai mươi tay cung nỏ bắn hỏa tiễn vào lều trại và truy trọng của địch. Gió ngày càng mạnh, nghĩa quân càng là bị khói lửa làm cho hoảng loạn, trận hình tan tác. Sĩ Tín cắp thương, Đức Uy rút song tiên, cùng nhau hô lớn:

"Các huynh đệ xông lên! Giết!"

Sĩ Tín múa thương bay bổng như điện chớp, chém giết địch chúng chết như ngả rạ. Đức Uy múa song tiên mạnh như hổ vồ, tiên cong vút theo từng đòn thế, kẻ trúng không gãy xương cũng vỡ óc. Vạn lần không ngờ hai trăm quân ít tưởng như đùa cũng có lúc trở thành ác mộng với nghĩa quân.

Thoáng chốc, Sĩ Tín đã giết mấy chục người, tiếp cận hai kẻ trấn hậu quân là Giải Tượng và Vương Lượng. Tượng tế đại đao cản Sĩ Tín, vừa chém một đao dọc người cậu thì không biết tại sao lại ngã chổng vó xuống mặt đất. Hóa ra Sĩ Tín đã cúi người tránh đòn, chẳng những thế còn kịp vung thương chém bay chân ngựa họ Giải. Hắn lóp ngóp bò dậy, vừa nhặt đao lên đã ăn một đòn giáng của Đức Uy vào xương ót, gãy cổ mà chết. Sĩ Tín nhanh nhẹn đoạt lấy một con ngựa, từ hậu tuyến quất roi mở đường máu xông lên. Chiến hỏa hậu tuyến ngày càng lan rộng, cả bầu trời kịt khói như cháy rừng. Biết thời cơ đã điểm, Tu Đà cười lớn, rút song giản chĩa vào nghĩa quân, nổi trống phát hiệu:

"Chúng tướng sĩ! Công trận!"

Quân Tùy đồng loạt hô lớn theo, nhất tề đột kích vào giữa trận. Tướng phe nghĩa quân chẳng màng trước sau rối loạn, vừa thấy quân Tu Đà lao lên lập tức đón đánh. Trận hình nghĩa quân cứ thế mà bị vỡ tan tành. Sĩ Tín đơn thương hội cùng chủ lực Tùy quân, đôi mắt dán vào soái đài trung tâm. Cung tiễn thủ ra sức bảo vệ soái đài, bắn tên tới tấp. Sĩ Tín bỏ ngựa, chuyển mình nhanh như cắt, dùng đám đạo tặc lâu la làm bia đỡ tên. Miệng Sĩ Tín đếm nhẩm bước chân đo khoảng cách trong khi vẫn hoành thương bất bại, không kẻ nào cản nổi. Tài Tướng thấy Sĩ Tín quá nhanh nhẹn, sợ cung tiễn thủ bắn nhầm vào quân mình, bèn quát dừng bắn rồi nhấc đao xông khỏi soái đài, cùng quân bản bộ vây lấy Sĩ Tín. Cậu ta nhẩm tới một trăm bỗng dừng lại, xoay hông rồi phóng thương nhắm vào Tả Tài Tướng. Họ Tả không kịp trở tay, bị cây thương cắm xuyên ngực tới quá nửa, chết ngay tại trận. Sĩ Tín phi thân rút thương ra, chặt đầu hắn rồi ném lên không trung, dùng mũi thương đón lấy, cứ treo như thế để lược trận. Nghĩa quân bấy giờ kinh hãi tột cùng, không ai dám bén mảng tới gần Sĩ Tín. Đám tặc tướng còn lại cũng khiếp đảm, chùn tay, quả nhiên đã bị khí tức của vị thiếu niên kia dọa đến hồn xiêu phách lạc. Tu Đà nhếch mép cười, song giản vừa đập nát đầu hai tên chưa kịp vơi máu đã giơ cao, rồi ông gầm vang trời đất:

"Tặc tướng đã chết! Toàn quân hãy nghiền nát chúng!"

Thơ rằng:
"Duy Thủy thiếu niên nhất kỵ thảo,
Thương tầm lôi kích phá khai đạo.
Quân thù kinh hãi, hồn xiêu phách,
Soái đài địch tướng hướng mắt vào.
Hỏa bạo tung hoành lan trận tuyến,
Trảm đầu tặc tướng chấn anh hào.
Bộ pháp tiêu dao, lòng chẳng sợ,
Tùy quân hô thắng ngập trời cao."

Sĩ Tín xung trận trảm tướng, chấn kinh một cõi, trong khi Tu Đà sử song giản Thủy hỏa tù long, phi Viêm Hỏa câu cùng chư tướng phá đảo trận địch, múa thứ binh khí nặng trịch ấy nhẹ như không. Ông nom thấy Thạch Chi Đồ hung hăng chém giết, bèn phi ngựa xoay chuôi giản nhắm trúng hắn. Chi Đồ vừa ngoái đầu, Tu Đà đã vung một giản hết lực vào lưng hắn, khiến hắn vỡ ngực mà chết. Nghĩa quân sau trận thương vong quá nửa, người chết kẻ chạy không dưới ba vạn. Vương Bạc quan chiến từ xa, liệu thế không thắng được, định vượt sông thoái lui thì bị Lưu Đức Uy chặn đầu, bèn vứt truy trọng, bỏ trại theo đường nhỏ mới vượt sông được về đại bản doanh. Trong khi đó bọn Mạnh Nhượng, Hác Hiếu Đức, Tôn Tuyên Nhã mỗi người dẫn vài trăm bộ hạ về mỗi ngả. Trương Tu Đà thừa thắng truy kích, quyết không để sổng.

Bên phía đại bản doanh của nghĩa quân, bộ chúng đã hợp thành một thể thống nhất, khi Đỗ Phục Uy và Lý Tử Thông âm thầm chiêu dụ họ mấy hôm nay. Bấy giờ tin chiến bại của Vương Bạc vẫn chưa truyền đến, cũng là lúc Đỗ và Lý thực thi kế hoạch. Triệu Phá Trận ngồi giữa sảnh đường, tay cầm vò rượu lớn mà Phục Uy tặng, tu không ngừng. Không những không nghi ngờ mà hắn còn phá lên cười:

"Hảo tửu! Đỗ thủ lĩnh quả nhiên là biết chọn! Hà hà!"

Phục Uy nhếch mép, chắp tay nói:

"Triệu thủ lĩnh quá lời! Chút mỹ tửu này mà hạ được ngài, chẳng qua là do ngài quá kém cỏi!"

Phá Trận trừng mắt, đặt vò rượu xuống cái "cạch", nheo mắt nhìn Phục Uy:

"Ngài nói vậy là ý gì?"

Độc trong rượu dần phát tán, khiến họ Triệu nhức nhối khắp mình mẩy. Phục Uy và Tử Thông nhìn nhau rồi cười khẩy. Đoạn Phục Uy trỏ vào Phá Trận, quát lớn rằng:

"Triệu Phá Trận ngươi bất nhân, hôm nay để Đỗ Phục Uy ta thay trời hành đạo! Ta thực ra cũng muốn xem sức ngươi có đủ 'phá trận' của ta hay không?"

Họ Triệu nghiến răng ken két, gầm lên như thú hoang. Hắn rút một thanh hoành đao trên giá, nhảy bổ tới Phục Uy, tả hữu lại nhắm vào Tử Thông. Phục Uy lách mình né đao, giáng một cước vào người Phá Trận khiến hắn tạm thời mất thăng bằng. Tử Thông lùi về phía thềm sảnh đường, đạp mạnh vào cánh cửa. Tức thì từ trên trần rớt xuống một cây xà mâu, chính là vũ khí của Phục Uy. Họ Đỗ nhanh chân lùi hai bộ bắt mâu, sau đó đâm tới Phá Trận, đấu mấy hiệp thì họ Triệu đuối sức, độc phát công tâm. Tận dụng thời cơ, Phục Uy sử đuôi mâu tạo hư chiêu rồi bất ngờ xoay binh khí nhanh chớp lóe. Lưỡi mâu quét một vòng, lia qua cổ họng họ Triệu, máu bắn như mưa. Phá Trận chống đao gục xuống, ôm hận chết tức tưởi. Phục Uy chống mâu nhìn xác họ Triệu một lúc, trong khi Tử Thông đã giết sạch tả hữu Phá Trận, cười lớn nói:

"Không ngờ ngài dũng mãnh như vậy! Biết trước thì ta chẳng bày kế này làm gì, để ngài đánh với hắn cho đã tay!"

Phục Uy quay sang nói:

"Lý thủ lĩnh lại trêu Đỗ Nghiêu rồi! Vẫn còn đám sâu bọ bên ngoài chưa diệt, ta phải giữ sức chứ? Đi thôi!"

Cả hai nở nụ cười giảo hoạt, cùng sải bước ra ngoài sảnh đường. Bên ngoài cũng đang xảy ra một trận huyết chiến giữa bộ hạ của Phục Uy, Tử Thông với đám tay chân sót lại của Phá Trận.

Khám Lăng râu ria vương máu, trong tay mạch đao Phách Phong chém giết hung bạo, lưỡi đao xé gió chém bay chi địch nhân, lực mạnh kinh hồn. Vương Hùng Đản song hành với Khám Lăng, múa cặp bội đao uyển chuyển như lụa, dựa vào bộ pháp linh hoạt đánh giết, cùng Khám Lăng hợp thành bộ đôi xảo và lực. Phụ Công Thạch còn hăng hơn hai người họ, tay múa ngọn thương thép không ngừng trong trận, hợp lực với trọng giản trong tay Miêu Hải Triều công tới tấp. Ánh mắt lạnh lùng của Công Thạch bấy giờ khiến người ta khó mà tin rằng y từng nóng nảy không thua gì Khám Lăng trước kia. Mới qua hai khắc, gần một vạn quân Trường Bạch sơn đã quy phục hai người Đỗ, Lý. Kẻ phản đối đều thuộc thủ hạ Triệu Phá Trận, toàn bộ không ai sống sót. Hai tân thủ lĩnh nhìn nhau, gật đầu rồi để Phục Uy bước lên trước bộ chúng, nói lớn sách lược đã bàn:

"Chư vị! Triệu Phá Trận tàn nhẫn vô đạo, chèn ép bộ chúng, nhờ sợ hô ứng của mọi người, ta mới có thể tru diệt hắn, ngồi vào ghế này. Sau khi nghiền ngẫm, ta ngộ ra núi Trường Bạch tuy hiểm trở nhưng nhỏ bé, đất đai khô cằn, lương thảo thiếu thốn, không hợp bàn đại sự. Nay có đất Giang Hoài mênh mông màu mỡ, thủy lợi thông lưu mà lại chưa ai xâm phạm. Nếu chúng ta hợp binh Nam tiến, độc chiếm miền ấy tự khắc có thể hùng bá một phương, dần mưu đại nghiệp. Ai muốn cùng ta chấn cứ Giang Hoài, hãy giương cao binh khí lên!"

Đám người bên dưới giơ đao giơ kiếm, hô lớn khẩu hiệu. Hai người Đỗ Lý sau đó bèn dẫn quân rút khỏi xó núi, với con cá lớn hơn là vùng Giang Hoài phía Nam Đại Tùy. Hôm ấy, đại bản doanh Trường Bạch sơn bị thiêu rụi, bởi ngọn lửa dã tâm của hai tay Đỗ Lý. Vương Bạc cùng tàn quân trở về, thấy chim muông tan tác, khói đen bay đầy giữa nền trời trắng xóa, rốt cuộc không thể nhịn được mà gào lên:

"Không thể nào! Là ai? Là kẻ nào chứ?"

Đôi mắt Bạc đỏ ngầu, chết trân nhìn lửa thiêu sơn trại, tay ghì chặt cương ngựa. Đám tàn quân mờ mắt, mất hết ý chí, tay chân rụng rời. Tùy quân Trương Tu Đà đến nhanh như gió, truy sát phía sau. Bạc bèn dẫn quân chạy về các huyện bên, tới Lâm Nghi thì bị Tùy quân đuổi kịp, kích phá. Cuối cùng, chỉ Bạc thoát được một mình, số còn lại hoặc là đầu hàng, hoặc là làm ma dưới lưỡi đao. Đám Vương Bạc nuốt hận sâu với Tu Đà, đã ẩn thân mong chờ đến lúc báo thù.

Trương Tu Đà mấy hôm đại thắng, tiêu diệt Trường Bạch sơn chỉ bằng hai vạn người, bọn Mạnh Nhượng và Hác Hiếu Đức tụ quần đạo đánh trả cũng bị Tu Đà phá tan, Mạnh Nhượng phải bỏ chạy đến Tế Âm trong khi Hiếu Đức rút về Bình Nguyên. Chuyện khiến mọi nẻo chấn động này rốt cuộc cũng lan đến tai Dương đế đang trên đường viễn chinh. Đế sai sứ giả đến úy lạo, ban lụa trăm đoạn, đặc phái họa sư vẽ lại cảnh Tu Đà cùng Sĩ Tín và chúng tướng xuất trận, treo ở Nội sử tỉnh. Sĩ Tín từ đó được thăng cấp giáo úy, bước chân còn lại vào quân ngũ. Tả hữu Trương Tu Đà anh dũng cái thế, xứng đáng tôn là trụ cột quốc gia, song hỏi rằng đến bao giờ tặc khấu được dẹp, xã tắc yên bình thì không thể trả lời vậy.

Lại nói đến chuyện Mạnh Nhượng chạy đến Tế Âm, vốn là mạt lộ, song cũng may là có người để nương nhờ ở chốn này, chính là tộc huynh Mạnh Hải Công vậy.

Mạnh sơn trang bề thế phi thường, ở Chu Kiều nổi danh hiệp nghĩa, nay lại nhờ vụ trừng trị Đặng Long mà Mạnh Hải Công càng thêm đắc chí, quan phủ chưa nóng nước đã đỏ gọng, ngoài cậy dựa hắn, trong chẳng dám hó hé nửa câu. Thuộc hạ Hải Công là bọn tộc đệ Đạm Quỷ, Tưởng Thiện Hợp, Ngô Hải Lưu thường đeo đao diễu bộ rất oai phong trên phố, chiêu gọi bọn du thử du thực hoặc thanh niên có chút sức vào trang làm việc. Từ một góc phố, có đám ăn mày cỡ chục tên lôi thôi lếch thếch âm thầm bám theo bọn Đạm Quỷ. Tên đầu đàn tướng mạo hung dữ, khi bọn Đạm Quỷ về đến cửa Mạnh sơn trang thì hắn sai toán đồng bọn nhao nhao chắn đường đòi bố thí. Đạm Quỷ tay sẵn roi ngựa, sinh chướng mắt nên định quật cho kẻ đầu đàn mấy phát. Tên đầu đàn nhanh tay bắt lấy đòn roi, quát lên rằng:

"Đường huynh! Không nhận ra tôi sao?"

Đạm Quỷ nheo mắt nhìn kỹ, tá hỏa phát hiện kẻ ăn mày này thực chất là đường đệ mình Mạnh Nhượng. Đoạn bèn dáo dác dòm quanh rồi thu lại roi ngựa, khẽ nắm vai Nhượng nói:

"Sao lại là đệ? Chẳng phải đệ tới Tề quận sao?"

Nhượng vừa tấm tức vừa xấu hổ, mắng một câu trống trơn:

"Đều tại các người ban cho!"

Đạm Quỷ ngây mặt ra, đành dặn đám thuộc hạ không được tiết lộ phong phanh ra ngoài rồi mới đưa đám Nhượng vào trong trang. Hải Công đang ung dung ngồi uống rượu trước đại sảnh, thấy Đạm Quỷ đến mà thần thái sợ sệt, bèn gặng hỏi:

"Có gì mà như ma đuổi vậy kìa?"

Nói đoạn chợt trông ra đằng sau lưng Đạm Quỷ, thấy tộc đệ Mạnh Nhượng thì bỗng dằn mạnh chung rượu đứng phắt dậy:

"Mạnh Nhượng? Chẳng phải ngươi ở Tề quận sao?"

Nhượng chẳng thèm bái lễ, trỏ vào Hải Công mắng liền rằng:

"Tức là huynh mong tôi chết mất xác ở phương đó lắm đúng không? Đã giao ước tôi giương cờ ở Tề quận, huynh ở Tế Âm hưởng ứng, đôi bên tương hỗ lẫn nhau. Nay tôi bị lão tặc Trương Tu Đà đuổi đánh chạy trối chết, thân tàn ma dại tới nông nỗi này mà huynh vẫn còn thản nhiên vậy à?"

Lời này của Nhượng khiến Đạm Quỷ đứng cạnh cũng phải cúi mặt hổ thẹn. Hắn tiến lên khuyên Nhượng hạ hỏa, Hải Công lại trái ngược Đạm Quỷ, gằn giọng nói:

"Đó chẳng do ngươi tự chuốc lấy sao? Tự mình cậy mạnh theo Vương Bạc, ta muốn cẩn trọng giữ mình, quan sát thời thế mà nương theo thì có gì là sai? Tế Âm cách Tề quận..."

"Nương theo thời thế là trơ mắt nhìn huynh đệ sắp chết, còn mình ăn thịt uống rượu, ôm ấp vợ đẹp con ngoan sống ngày vô lo sao? Trước kia chúng ta tuyên thệ làm gì có hành vi hèn nhát nhu nhược này?"

Hải Công nghe đến đây thở dài, cam chịu nói:

"Thôi được! Cứ coi như là lỗi của người làm huynh trưởng này! Nhưng đệ đích thân tới đây, nên tắm rửa nghỉ ngơi cho lại sức rồi muốn tính sổ với ta sao cũng được!"

Mạnh Nhượng tắm rửa, thay bộ y phục màu tím thượng hạng liền lập tức đến đại sảnh lần nữa. Nhương duỗi hai tay về phía trước, cầm nắn vạt áo mà buông lời mỉa mai:

"Mạnh sơn trang phát đạt thật, lại có cả loại vải thượng hạng này! Thảo nào có ai đó thà là nhìn huynh đệ chết đi cũng không nỡ bỏ dở cơ nghiệp!"

Hải Công hừ một tiếng rõ to, trỏ vào chỗ ngồi bên cạnh hiệu Nhượng người xuống. Nhượng thong thả ngồi lên ghế, tiện tay vớ bình rượu còn đang thoang thoảng dư hương trên bàn, rót đầy hai chung. Hải Công cho lui hết tả hữu, liếc mắt lườm Nhượng rồi hỏi:

"Đừng mải lo chọc ngoáy ta! Nói đi, lần này đệ đã toàn mạng, tới tìm ta ý là muốn gì?"

Nhượng bỗng đặt chung rượu xuống, mắt đảo một vòng quanh đại sảnh rồi nói:

"Đại huynh hà tất phải gặng hỏi chuyện đã biết? Mạnh sơn trang rộng lớn như vậy, thuộc hạ trăm đàn, tai mắt khắp nơi, người trong trang tư dung hùng tráng, chi bằng cùng Mạnh Nhượng tôi phất cờ khởi sự. Trước tập kích quan phủ, chiếm lấy Chu Kiều, sau hô hào hiệu triệu bá tánh, đại sự đều từ đây cử hành, chẳng phải rất mỹ mãn sao?"

Hải Công nghe đến đấy bỗng giật thóp mình, vẻ mặt vô cùng kinh ngạc, thấp giọng mắng:

"Mỹ mãn? Mỹ mãn chỗ nào vậy? Ta thực không hiểu sao đệ chẳng chết ở Tề quận luôn đi, lại còn vác mặt về đây xúi ta tạo phản? Chẳng lẽ đệ muốn ta bị tru di diệt tộc mới vừa lòng hả dạ?"

Nhượng bấy giờ chẳng thèm tức giận, nhếch mép cười mà lớn tiếng rằng:

"Đại huynh! Kể như chuyện chứa chấp phản tặc, đồng tộc với phản tặc như tôi đã là đại tội, cớ gì còn sợ tới sợ lui? Tùy triều bây giờ chẳng khác nào gỗ mục, giương cờ không phải tạo phản mà là đòi lại công đạo! Huynh luyến tiếc cái nhà nhỏ mà lỡ cái nghiệp lớn, ngược lại mới là tự mình diệt tộc!"

Hải Công giáng một nắm tay xuống bàn rồi nhắm nghiền hai mắt. Lát sau, Hải Công mới thở dài, rầu rĩ nói:

"Hiền đệ! Không phải người huynh trưởng này không muốn theo đệ, mà là ở Tế Âm còn nhiều chướng ngại. Tài vật nhân mã của ta tích lũy bấy lâu, vốn cũng là để tới lúc khởi sự mà dùng. Nhưng ta cảm thấy thời cơ chưa đủ chín muồi, tạo phản rồi thì mất đường quay đầu, vạn lần không thể qua loa lầm lỡ."

"Chướng ngại? Họa chăng là Nhị Hiền trang?"

Nhượng khẽ nhướng mày một cái, quay mặt sang chờ Hải Công trả lời. Hải Công gật đầu rồi nói tiếp:

"Quả thực là chúng rất chướng tai gai mắt. Song hiện nay Thiện Hùng Trung đã chết, cũng bớt đi mấy phần phiền phức rồi. Chỉ là dạo gần đây có một tên thư lại chõ mũi vô chỗ tích lương và đúc tiền của ta."

"Rốt cuộc thế nào?"

"Chết rồi! Chết không đối chứng!"

Nhượng nghe vậy bèn cười một tiếng:

"Vậy thì còn gì đáng bận tâm? Hiện nay chỉ việc đánh vào kho lẫm nữa chẳng phải xong rồi sao? Với thực lực của huynh, chuyện này như lấy đồ trong túi thôi!"

Hải Công vô tình nhắc đến chuyện Đặng Long, bỗng chốc bồn chồn bất an, bèn triệu Mạnh Đạm Quỷ đến để hỏi việc ấy. Đạm Quỷ vuốt cằm suy nghĩ rồi đáp:

"Đại ca chớ lo! Cái ổ rách đó bọn đệ đã lật tung hết rồi, thiếu điều dỡ cả mái ngói xuống thôi!"

Hải Công vẫn chưa an tâm, lắc đầu nói:

"Rồi đệ có dỡ mái ngói xuống hay chưa? Nếu chẳng may nhà hắn sót lại vật gì bất lợi cho ta thì hỏng bét!"

Đạm Quỷ gãi đầu gãi tai rồi nói:

"Đại ca nghĩ nhiều! Đặng Long cả nhà chết sạch, xưa nay cũng đâu ai giao du thân thích, nếu có vật bất lợi với chúng ta thì hắn lẽ nào lại tiết lộ cho người lạ biết? Người đã giết, nhà đã soát mà không thấy gì, kẻ kêu oan cho hắn còn chẳng có, huynh hà tất phải tự dọa mình vậy?"

Hải Công trầm ngâm trong chốc lát, đoạn bừng tỉnh kêu lên:

"Không! Vương Bá Đang! Lũ người Nhị Hiền trang lẽ nào không tra chuyện này?"

Đoạn Hải Công lệnh Đạm Quỷ rằng:

"Đệ mau đem vài người tinh anh lanh lẹ mai phục ở quanh hộ Đặng Long, làm thật kỹ cho ta! Bất kỳ kẻ nào khả nghi tới nhà hắn, có ý điều tra thì lập tức báo lại!"

Đạm Quỷ vâng dạ theo ngay, liền điều bọn Tưởng Thiện Hợp đến mai phục nhà Đặng Long, dặn chúng nếu nhận ra người Nhị Hiền trang thì đừng kinh động chúng, chỉ được phép báo lại.

Trong khi đó tại Nhị Hiền trang, Vương Bá Đang và Phòng Hiến Bá đang ngồi trước sảnh đường uống nước. Họ bàn bạc một lúc, Thiện Hùng Tín mới từ sau tấm màn bước ra. Hiến Bá tuy béo song nhanh nhảu chạy đến đỡ Hùng Tín, y liền xua tay cản lại, có chút tự trào nói:

"Khẩn trương vậy làm gì? Nhị ca bệnh chứ cũng đâu phải phế nhân đâu?"

Hai người đều mỉm cười khi thấy Hùng Tín sắc mặt hồng hào trở lại, bèn chắp tay cùng chào một tiếng. Hùng Tín gật đầu, ngồi vào ghế rồi quay mặt về phía Bá Đang, hỏi:

"Chư vị hiền đệ khổ tâm rồi! Nhị ca vắng mặt mấy bữa nay, hẳn là bọn đệ phải dốc sức gấp mấy lần bình thường!"

Bá Đang khẽ cười nói:

"Nhị ca nặng lời! Phận sự của chúng tiểu đệ cả thôi! Huynh cảm thấy trong người sao rồi? Liệu có cần dưỡng sức thêm không?"

"Không sao! Ta đã hoàn toàn bình phục rồi! Nghe nói hôm trước bọn đệ qua Chu Kiều tranh chấp với Mạnh Hải Công, có chuyện này sao?"

Bá Đang khẽ gật đầu, tiện đem sự việc hôm trước kể ra một thể. Hùng Tín nghe xong rất giận, siết quyền nói:

"Mạnh Hải Công kia quả thực chẳng coi Thiện Thông này ra gì mà! Cấu kết quan phủ, hãm hại người tốt, lạm sát vô tội, các đệ gộp bấy nhiêu lại cũng đủ giúp hắn 'đổi chỗ nằm' rồi! Đừng chần chừ, xử quyết hắn đi!"

Bá Đang lập tức đứng dậy can:

"Khoan đã nhị ca! Đệ đã kêu Trường Lạc với Thanh Khuê đi tới nhà Đặng Long đó điều tra rồi! Trước khi ba mặt một lời với Mạnh Hải Công, chúng ta cần phải nắm được tội chứng của hắn trong tay cái đã. Chẳng mấy chốc đám Trường Lạc sẽ về, nhị ca cứ đợi xem sao!"

Hùng Tín hài lòng, nhấc chén trà lên mới hỏi tiếp:

"Đệ nói điều tra, chẳng lẽ đã nắm được nội tình gì?"

Bá Đang định cất lời thì Hiến Bá liền giơ tay, nhe răng cười nói:

"Nhị ca! Là bọn đệ vô tình phát hiện sau lớp vá áo của Đặng Long là một cái túi, trong túi có một cái chìa khóa nhỏ. Lão Phòng đệ định bụng chắc chắn là món đồ này vô cùng quan trọng, vậy là cho Trường Lạc tới nhà hắn xem thử có lục tìm được gì hữu ích không?"

Hùng Tín nhướng mày, xuýt xoa mà rằng:

"Suy luận lang lang lớp lớp như vậy, thực không giống lão Phòng thường ngày! Là đệ tiến bộ thật hay cướp lời Bá Đang đây?"

Hiến Bá cứng người, gãi đầu trọc cười thẹn. Bá Đang khoác vai kéo Hiến Bá lại gần, vỗ vai y một cái. Ba huynh đệ tức thì đồng thanh cười lớn, thanh âm vang vọng khắp sảnh đường.

Ánh dương chiều tà nay bỗng chiếu đến hai cái bóng cao lều khều đổ dài trên mặt đất. Ngoại thành Chu Kiều có khoảng chục hộ ọp ẹp cất san sát nhau, nhà Đặng Long nằm ngay hộ cuối cùng. Tôn Trường Lạc và Lý Thanh Khuê khẽ cúi mình, dò la địa thế rồi mới trèo qua bức tường cũ vào nhà. Nhà Đặng Long chẳng qua cũng chỉ hơn được nhà tranh vách lá, khoảnh sân nhỏ hẹp vứt một đống kinh thư sách vở, tình trạng hết sức bê bối. Thanh Khuê gác tạm thanh hoành đao, đẩy nhẹ cánh cửa gỗ, nhìn vào mớ lổn nhổn, chén dĩa đổ tháo bên trong cũng không khỏi hụt hẫng mà thở dài một hơi. Y bước qua ngạch cửa, đến bên giường trúc giở hết chăn màn lên, xong bèn quay sang nói với Trường Lạc:

"Trường Lạc huynh xem! Nhà hắn đã chật chội lại bị lục tung tới nhường này, ai biết thứ đồ kia còn ở đây không chứ?"

Trường Lạc đang lục tìm tủ đồ của người quá cố, ngoái cổ đáp lại:

"Tới cũng tới rồi, chí ít thì không nên đi tay không về, phải có chút tin tức để đẹp lòng Bá Đang huynh ấy chứ? Bọn Mạnh Hải Công thô lỗ nông cạn, nếu đã là đồ quan trọng, e rằng khó lòng tìm được! Vả lại  nương theo kích thước chìa khóa thì vật này cũng không lớn lắm, càng phải mở to mắt ra!"

Hai người lục tìm khắp căn nhà gần hai khắc, Trường Lạc còn cạy cả gạch cả giường ra mà vẫn không tìm thấy thứ cần tìm. Thanh Khuê hơi nản chí, tặc lưỡi rồi chống hông ngước mặt lên trần nhà mà than:

"Vô ích rồi! Căn nhà ngang cái hang chuột này, ngóc ngách nào cũng đều kiếm mà vẫn không ra!"

Trường Lạc ra ngoài sân dò xét trước sau, trộm nghĩ rõ ràng không còn chỗ nào kín đáo để giấu đồ, bèn theo mắt Thanh Khuê nhìn lên, bỗng nảy sinh một ý nghĩ. Chợt y ra ngoài, bám vào giàn hoa khô rồi trèo lên mái nhà, rà soát thêm lần nữa. Thanh Khuê hiếu kỳ, trèo lên theo. Trường Lạc cầm đuôi đao vừa đi vừa gõ, đến chóp mái ở góc nhà, gõ vào nghe âm vang, bèn dỡ ngói chung quanh ra xem. Bên trong lộ ra một chỗ hở giữa mái với xà nhà, vừa vặn cất một chiếc hộp gỗ cũ kỹ song khá cứng cáp. Thanh Khuê ồ lên một tiếng, giao chiếc chìa khóa cho Trường Lạc mở ra. Trong hộp chứa một tấm giấy, dường như là bản đồ chỉ điểm đến đâu đó chưa rõ. Trường Lạc gấp tấm giấy rồi đưa cho Thanh Khuê, lại phát hiện trong hộp còn một tờ giấy và vài đồng tiền xu, đọc qua thì biết là một bản tố trạng, đại để ghi Mạnh Hải Công nuôi dưỡng nhân mã, đúc tiền đồng giả, âm mưu tạo phản. Trường Lạc cả kinh, cầm đồng tiền lên đã thấy nhẹ bẫng đi so với đồng thật, vội quay sang rỉ tai Thanh Khuê nội dung bản tố trạng.

Hai người nhét hết đồ vào ngực áo, cẩn thận khôi phục nguyên trạng mái nhà rồi mới cắp đao vượt tường trốn ra ngoài, tìm về chỗ buộc ngựa. Tưởng Thiện Hợp trông thấy hai bóng ngựa, bèn sai mấy kẻ tháo vát quay về báo thực trạng cho Mạnh Hải Công, bản thân cùng chục thủ hạ kéo đến chặn đường. Trường Lạc và Thanh Khuê thấy mấy kẻ hung thần ác sát chắn đường, bèn dừng chân. Thanh Khuê nheo mắt nhìn kỹ, dưới ánh đuốc nhận ra Thiện Hợp, bèn hất cằm cười khẩy:

"Còn tưởng là ai, hóa ra là Tưởng ngưu đầu đây mà? Dạo này có còn làm mục đồng không?"

Thiện Hợp giận lắm, tay siết trường đao chống xuống rồi quát:

"Hai người các ngươi lén lút mò tới chỗ này, rốt cuộc là có ý đồ gì?"

Thanh Khuê tư thế ung dung, khoanh tay nói xẵng:

"Liên quan gì tới ngưu đầu nhà ngươi? Các ngươi đánh tiếng ở trong thành thì thôi đi, tới việc ở chỗ này cũng muốn quản sao? Tham lam vậy?"

Thiện Hợp nổi cơn tam bành, hét thủ hạ bao vây chặt hao hảo hán. Trường Lạc nắm chặt chuôi hoành đao, nhíu mày nhìn quanh một vòng rồi lớn tiếng nói:

"Tưởng ngưu đầu còn biết tiếc mạng thì hãy tránh đường! Bằng không đao đã rút ra, sẽ không thu lại được đâu!"

Thiện Hợp giương đao trước ngực, trừng mắt gầm lên:

"Đừng nhắc tới cái tên đó trước mặt lão tử!"

Nói chưa dứt câu đã múa đao bổ tới, Thanh Khuê xoay hông lách sang bên tránh được. Trường Lạc rút đao chém một nhát sượt qua hộ uyển Thiện Hợp, Thanh Khuê nhân lúc hắn phân tâm mà đá hắn lùi ra mấy bộ. Thủ hạ Thiện Hợp không chần chừ, toàn bộ xông lên một lượt. Trường Lạc múa đao thiện nghệ, trước mặt đám côn đồ hung hăng chẳng núng thế. Thanh Khuê bên này múa hoành đao đánh với Thiện Hợp, đến hơn mươi hiệp bất phân thắng bại. Giữa lúc đang đánh nhau kịch liệt, bỗng từ bóng tối xuất hiện ba đạo bạch quang, ba mũi tiễn cắm trúng kheo chân của ba trong số chục thủ hạ Thiện Hợp. Thiện Hợp hớt hải quay đầu lại, thân chưa kịp xoay theo đã bị mũi tiễn thứ tư cắt mất búi tóc, hốt hoảng ngã bật ra. Trường Lạc chớp thời cơ cùng Thanh Khuê đột vây, chặt đứt dây buộc ngựa rồi leo lên phi đi mất. Khi lướt qua mặt Vương Bá Đang, ba đầu liền cùng gật nhẹ một cái. Bá Đang trên ngựa đoạn hậu cho hai huynh đệ, giương cung quát một tiếng thất kinh:

"Kẻ nào dám manh động, đừng trách mũi tên của Vương Bá Đang ta không có mắt!"

Bọn Thiện Hợp nghe danh của Bá Đang, lại vừa lĩnh giáo tiễn pháp, không một ai dám liều mạng bước lên nửa bước. Bá Đang cứ thế gác cung, thúc ngựa quay về hướng Nhị Hiền trang, để lại mười một mặt méo mó kinh hãi.

Bấy giờ Hùng Tín đang cùng người nhà dùng bữa tối, gặp lúc gia nhân vào báo tin hai người Tôn Lý trở về. Hùng Tín buông đũa, nói vợ con cứ ăn tiếp, phần mình ra ngoài có chút việc. Thanh Khuê vừa xuống ngựa đã thở hồng hộc, còn Trường Lạc bên này đã chạy biến đi, bỏ họ Lý vẫy tay kêu ỉ ôi đằng sau. Hùng Tín vừa bước xuống thềm, Trường Lạc đã ngạc nhiên ngưng lại, ân cần hỏi han sức khỏe huynh trưởng, Hùng Tín đáp:

"Sức khỏe ta không vấn đề! Song việc đệ với Thanh Khuê đi làm, nhị ca đã biết nguyên do rồi. Nói đi, đệ vội vàng vậy là có tin gì hữu ích chăng?"

Trường Lạc quỳ một chân, hai tay dâng tang vật tố giác Mạnh Hải Công cho nhị ca, gấp gáp nói:

"Nhị ca! Mạnh Hải Công này quả thực là loài lang sói, không chỉ vì thù riêng mà giết cả nhà Đặng Long mà còn là vì Đặng Long vốn đã để ý tới hành vi của hắn!"

Hùng Tín cầm đồng tiền và tấm bản đồ từ tay Trường Lạc, thoạt nhìn chẳng hiểu gì. Tuy nhiên so kỹ đồng tiền, thấy quả thực nhẹ hơn đồng thật, hoa văn trên mặt cũng có chút sai biệt. Đoạn Hùng Tín vuốt hàm râu suy tư, giật mình một cái, trỏ vào tiền rồi đoán:

"Ý đệ là Mạnh Hải Công đúc tiền giả kiếm chác sao?"

"Không những vậy đâu nhị ca!"

Trường Lạc chưa dứt câu, Thanh Khuê đã xộc vào trong. Thanh Khuê thấy nhị ca mình đứng sừng sững trước mặt như hộ pháp, khẽ kêu lên một tiếng cảm thán. Trường Lạc mới ngoái đầu nói:

"Nhị ca đã biết chuyện rồi, mau đưa bản tố trạng đây!"

Thanh Khuê gật đầu lia lịa, giao bản tố trạng Đặng Long chắp bút cho Hùng Tín kiểm tra. Hùng Tín đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc đều nhíu chặt lông mày, tóc tai dựng đứng. Đúng lúc Bá Đang đoạn hậu về đến nơi, Hùng Tín bày cho y cùng xem. Hồi lâu sau, Hùng Tín mới cho gọi thêm Phòng Hiến Bá, ở trong đại sảnh hội họp bàn đối sách. Trường Lạc nhận định chuyện này quá sức trọng đại, lại dính dáng đến quan phủ, chưa chắc đến lượt mình, bản thân muốn can thiệp e rằng lực bất tòng tâm. Bá Đang không đồng tình, dứt khoát nói:

"Đệ như vậy là chưa thỏa đáng! Tuy rằng nói chúng ta là người lục lâm, quản chuyện lục lâm, nhưng cũng biết cái gì gọi là đại nghĩa. Nay Mạnh Hải Công mưu đồ tạo phản, giả dụ hắn không đánh chúng ta, ta cũng làm sao có thể mặc hắn tác oai tác quái, gây họa cho bá tánh? Tóm lại là, hắn đã dám tạo phản, vậy thì chúng ta đừng để hắn thành toại ở Tế Âm này."

Hùng Tín gật đầu, hô lớn:

"Bá Đang hiền đệ nói chí lý! Huynh đệ chúng ta tuy không thuộc quan phủ, nhưng xưa nay dùng tư hình đều là nhắm vào những kẻ vô pháp vô thiên. Mạnh Hải Công nay phạm pháp kỷ, lại dùng tư hình sát hại kẻ sĩ, coi đó như chiến tích, ta há có thể bỏ qua cho hắn? Cả chúng ta và quan phủ, lần này ai ra tay không còn quan trọng nữa rồi!"

Hiến Bá và Thanh Khuê đều tán đồng ý huynh trưởng. Trường Lạc có chút do dự, Hiến Bá liền khoác vai y mà khích lệ rằng:

"Hiền đệ chớ lo! Đại ca của Bá Đang chẳng phải đang làm pháp tào của Tế Âm sao? Chúng ta chỉ cần nhờ huynh ấy một tiếng, như vậy là xong rồi!"

Dứt lời, bọn Hùng Tín đều cười ha hả, cho rằng ý đó hay. Bá Đang cầm tấm bản đồ, ngắm nghía thật kỹ rồi nói:

"Nhị ca! Nếu tiểu đệ đoán không lầm, thứ này đại để muốn chỉ chỗ tích trữ nhân mã của Mạnh Hải Công, hay là để đệ đem về nghiệm một chút rồi hành động?"

Hùng Tín cười đáp:

"Giao cho đệ! Ta sẽ đem bản tố trạng và mấy đồng tiền này đưa cho Yếu Hán trước, nhờ huynh ấy ra quân truy xét đồng đảng bọn Hải Công vậy!"

Các huynh đệ Nhị Hiền trang chắp tay lĩnh mệnh, Trường Lạc và Thanh Khuê bố trí huynh đệ từ các tiêu cục hỗ trợ, Hiến Bá coi nom chiến mã binh khí, Bá Đang ở lại Nhị Hiền trang. Hùng Tín sai Thiện Xung cưỡi ngựa đến nha phủ, gặp mặt giao tố trạng cho đại huynh của Bá Đang là Vương Yếu Hán, báo rõ sự tình. Yếu Hán nhận được tin, ngồi trên án xuýt xoa một hồi mới đặt đồng tiền xuống, nói với Xung:

"Ngươi nói tam đệ ta đang cầm tấm bản đồ, vậy chi bằng đợi đệ ấy xem qua rồi, ta đem quân tới nơi, bắt tận tay day tận trán mới xong được!"

Xung cúi đầu thưa:

"Trang chủ nói vẫn cần Vương pháp tào nên chuẩn bị sớm, liền để tiểu nhân bẩm báo trước!"

Yếu Hán vuốt râu cười, nói:

"Thiện nhị gia suy nghĩ thật chu toàn! Được rồi, chuyện hôm nay tốt nhất đừng vội tiết lộ ra ngoài, tránh động can qua. Bọn Mạnh Hải Công kiêu dũng giảo hoạt, tiền giả lại phân tán khắp nơi, quan phủ muốn triệt tận ổ e rằng phải gặp không ít khó khăn, cứ chậm mà chắc mới là thượng sách."

Xung chắp tay chào Yếu Hán rồi xoay người đi về. Yếu Hán thấy bóng hắn khuất rồi, mới đập bàn rồi gọi tả hữu vào, lệnh rằng:

"Mau sai chư vị quan hiệu đến, việc khẩn không thể trì hoãn!"

Đám nha dịch lẫn các quan viên cấp dưới toàn bộ có mặt ngay trong đêm. Yếu Hán trình tấu vụ việc lên cấp trên, thỉnh xin thái thú điều động binh mã, rủi như Mạnh Hải Công cùng đường nổi loạn, lập tức trấn áp. Chỉ trong một đêm, cả hai tầng quan phủ và lục lâm hảo hán tại huyện Tế Âm đều có chung dáng vẻ đôn đáo tất bật, để không cho kẻ ác được toại nguyện vậy. Mạnh Hải Công chống đỡ đợt sóng này ra sao, hồi sau sẽ rõ.

💬 Bình luận

📚 Truyện tương tự