Đầu năm Đại Nghiệp thứ chín, Tùy triều suy vi, dân chúng lầm than, bạo quân Dương Quảng u tối, chỉ ham công danh chinh phạt chư hầu, chẳng để tâm tới thần dân. Năm ngoái, cuộc viễn chinh Cao Câu Ly đường đường hơn mười đạo quân, quân số trăm vạn thất bại thảm hại, chư tướng nhẹ thì chịu bãi chức, nặng thì chịu mất đầu. Dẫu cho khắp nơi than oán, lòng dân phẫn nộ, Dương Quảng cũng không thiết tha trấn an, một mực nung nấu ý định tiến quân đánh Cao Ly báo thù rửa nhục. Dương đế phục chức cho toàn bộ chỉ huy của các đạo quân, rục rịch tiến binh Liêu Đông. Lại bổ nhiệm chức Vệ úy thiếu khanh cho Đường quốc công Lý Uyên, mệnh ông giám sát việc chuyển vận lương thảo ở Hoài Viễn trấn. Thời điểm này, dù chiến trường như dầu sôi lửa bỏng, nhưng triều đình cũng căng thẳng không kém, môn phiệt thế gia tranh chấp đối đầu nhau không ngừng trong bóng tối. Lý thị ở Lũng Tây và bè cánh Vũ Văn phiệt, đại để Vũ Văn Thuật bấy giờ cũng vì nhìn nhau không thuận mắt, nên luôn suy tính trừ đi đối phương.
Vũ Văn Thuật bấy giờ đang ngồi trong sảnh đường tư phủ ở Đông đô, thư thái thưởng trà. Thuật cao lớn dị thường, mắt đen ngươi vàng, râu dài đầu hói, bàn tay còn to hơn cả mặt tên hạ nhân đang phục mệnh ở dưới. Ông ta vừa khẽ gõ lên mặt bàn, vừa hỏi tay hạ nhân:
"Chuyện của Lý Uyên thế nào rồi?"
Tên hạ nhân chắp tay kính cẩn đáp:
"Thưa lão gia, ba ngày trước ông ta vừa xuất phát từ Huỳnh Dương, chắc hôm nay đã tới Tề quận rồi!"
Ông ta gật đầu, nhâm nhi tách trà rồi phẩy tay:
"Được lắm! Chuyện này rất hệ trọng, để Cơ nhi đích thân đi làm sẽ tránh gặp bất trắc!"
Tay hạ nhân gật đầu, thi lễ cáo lui. Thuật từ đó đứng dậy, bước ra cửa rồi trầm tư ngắm nhìn mái hiên trích thủy:
"Lũng Tây Lý thị! Để lão phu xem lần này Lý Uyên nhà ngươi còn gặp may nữa không!"
Nói về Lý Uyên, người sinh ra là cháu nội của Trụ quốc đại tướng quân Lý Hổ nhà Bắc Ngụy. Bởi vì mẹ ông là chị ruột của Độc Cô Hoàng hậu, thành thử xét vai vế, ông là biểu huynh của Dương đế. Cũng vì vậy nên Lý công thường nhận được uy sủng cao hơn quan thần.
Bấy giờ, Lý công cùng trưởng tử Kiến Thành và tế tử Sài Thiệu đang trên đường di chuyển đến Hoài Viễn, đã tới Tề quận. Lý công đeo hoành đao đuôi vàng, mặc kim giáp dẫn đầu, theo sau là khoảng trăm binh sĩ vũ trang chỉnh tề. Kiến Thành và Thiệu cưỡi ngựa san sát nhau, vừa đi vừa nói chuyện rôm rả:
"Đại cữu tử! Huynh đoán xem mấy ngày nữa thì ta tới được Hoài Viễn?"
Kiến Thành giơ ngón trỏ thiên nói:
"Bảy ngày thì sao?"
Thiệu bật cười, móc từ túi gấm bên hông một đồng xu, nói:
"Đệ cá là mười ngày! Huynh chọn sấp hay ngửa? Đệ chọn sấp đó nha?"
Kiến Thành nhếch môi, thấp giọng bỡn:
"Tự nhiên bày ra trò này, không phải là đệ tính dụ ta chiêu đãi đệ đó chứ?"
"Chà chà! Chỉ huynh hiểu được tiểu đệ thôi! Tú Ninh ở nhà cứ quản đệ riết, nên hiếm có cơ hội lắm! Huynh nhìn xem, Đại Hưng rộng lớn như vậy mà lúc nào đệ cũng chỉ được chạy vòng vòng quanh sân phủ, chẳng phải chán lắm sao?"
Kiến Thành khẽ oằn mình vỗ vai Thiệu một phát mà rằng:
"Suy cho cùng thì vẫn là muội ấy muốn tốt cho đệ, Tự Xương à! Còn về chuyện sấp hay ngửa, ta chọn ngửa cho!"
Thiệu cười sảng khoái, nói lớn:
"Trời! Huynh nói vậy mà còn muốn cược? Được thôi! Xem đệ tung đây!"
Xu lộn trên không năm sáu vòng, cuối cùng đáp xuống mu bàn tay họ Sài, hiện lên mặt ngửa chạm hình mãnh thú rất rõ rệt. Thiệu đập trán, xem ra lần này lại mất một chầu rượu. Lý công ngoái nhìn bọn họ rồi khẽ tặc lưỡi, nở một nụ cười khan. Không khí dâng cao, tiếng cười đùa ríu rít lại vang lên trên con đường mòn giữa rừng cây u khuất. Đêm đến, gió lộng như xé toạc không gian, xuyên qua tán lá cây xào xạc, mây mù kín lối, hồ như muốn dự báo rằng một cơn bão sắp đến. Cả đoàn xe chưa thấy dịch trạm mà trời đã tối mù, đành phải dựng lều để trú tạm qua đêm. Quá giờ Hợi, một hợp trại khoảng hơn chục lều được dựng xong xuôi, lửa trại thắp sáng cả một góc đồi.
Mà lại từ trên đồi nhìn xuống hợp trại, chính là một toán sơn tặc rất đông đảo, bịt mặt kín mít, tay sử hoành đao lẫn đoản phủ. Chúng lùi xuống một bước, để một toán khác sử nỏ tiến lên, nhắm thẳng vào Lý công mà bắn. Hàng loạt mũi tiễn bay vèo xuống đồi, chẳng mấy chốc khiến trăm binh sĩ bọn họ gục hết phân nửa. Lý công đảo mắt tứ bề, hét lớn:
"Tặc nhân phương nào? Có gan thì bước ra đây!"
Ông siết chặt lấy chuôi đao, thủ thế ứng phó. Kiến Thành ra hiệu số binh lính còn lại lùi về giữ mấy cỗ xe lương. Đám sơn tặc từ trên đồi đổ xuống như thác, kẻ nào cũng là thân thủ siêu phàm, vây bọc toàn bộ lối thoát của Lý gia bọn họ. Lý công múa đao tả xung hữu đột, hợp kích cùng Kiến Thành đánh giết. Sài Thiệu đặc biệt dũng mãnh, sở trường tiễn thuật thương bổng, mỗi một đòn đánh ra, xương cốt tặc nhân đều vỡ vụn. Đánh được một hồi, bỗng thấy đám sơn tặc ngày càng đông, chẳng khác nào từ hư không chui ra, khiến đám người Lý gia ngày càng rệu rã. Chỉ chờ có thế, kẻ đầu sỏ tặc nhân xuất hiện, trên tay một thanh trảm mã đao, dễ dàng hạ sát vài mươi binh lính của đoàn người. Nhân lúc Sài Thiệu bận tay, hắn xoay tít lưỡi đao nhắm vào lưng y. Thiệu bị đánh lén, không kịp vận toàn sức tiếp chiêu, cũng không lường trước mãnh lực kinh hồn của hắn, chỉ kịp gượng đỡ mà bị đánh ngã lăn trên đất. Đầu sỏ tặc nhân cười đắc ý một tiếng, lại múa đao chém đến sát Lý công. Kiến Thành lao tới trước mặt cha, giơ kiếm đỡ hộ ông đòn ấy. Kết quả, cả y lẫn Lý công đều bị đánh văng mấy thước, toàn thân tê dại. Lý công gượng dậy, đỡ lấy Kiến Thành:
"Thành nhi! Con có sao không?"
"Con vẫn ổn! Phụ thân đại nhân cẩn thận! Võ lực tên đầu sỏ rất mạnh!"
Thiệu chống thương bật dậy, dồn hết sức bình sinh lao tới tên đầu sỏ. Lý công và Kiến Thành hiểu ý, liên thủ phá vây. Thiệu kịch chiến với đầu sỏ hắc y, đánh mãi không thắng, dần rơi vào hạ phong. Độ thêm hai mươi hiệp nữa, Thiệu yếu thế hẳn, mồ hôi vã như tắm, cắn răng chống đỡ từng chiêu mạnh tựa ngàn cân kia. Thế trận lúc này đã nghiêng hoàn toàn về đám tặc khấu. Ba người Lý gia bị bao vây mấy lớp, tựa lưng vào nhau, đầu đuôi đều kín lối. Lý công trên trán máu chưa khô, hét lớn vào mặt tên đầu sỏ:
"Rốt cuộc các ngươi là ai? Dám cả gan chặn đường mệnh quan triều đình sao?"
Tên đầu sỏ chống hông, gác đao lên vai, giọng như tiếng hạc:
"Ở đây bổn đại gia là vương! Lũ cẩu quan các ngươi tới không những phải nộp lương thảo, còn phải để thủ cấp lại đây! Giết!"
Nói đoạn lại ồ ạt xông lên. Lý công và Kiến Thành sắp cự không nổi, Sài Thiệu dũng mãnh nhất cũng dần hoa mắt, tay run lẩy bẩy. Tưởng chừng như vô phương cứu vãn thì từ trong đêm tối, hiển lộ một bóng ngựa phi cực tốc hướng về phía trận địa. Trên lưng ngựa là một đại hán tử cao lớn vạm vỡ, rút từ bên hông một cặp thiết giản, khiển ngựa hí vang trời rồi tế giản đánh đến tặc nhân. Chúng bất ngờ trước dũng lực của đại hán, không kịp trở mình, bị giản vụt trúng lần chết mấy người, thi xác ngổn ngang dưới chân ngựa. Nhóm Lý gia kinh ngạc nhìn nhau, song nhanh chóng lấy lại tinh thần, dốc sức phá trận nhờ sự tương trợ của đại hán. Người ấy đảo mắt một lượt, nom thấy tên trông giống đầu sỏ thì nhảy phắt khỏi yên ngựa, từ đó mà đánh ra thức giản "Phá không hoành" ngang lưng hắn. Hắc y đầu sỏ bất ngờ liếc mắt, vội dựng đao đỡ, bị đánh lùi về sau tới hai bộ, hổ khẩu đỏ ửng như táo chín. Đại hán không ngừng thị uy, liên tục múa giản vút đến như gió lốc. Đánh độ mấy hiệp thì tên đầu sỏ khựng lại, cặp mắt lúng liếng, bất ngờ ra hư chiêu chém sượt cánh tay đại hán, lưu lại vết máu mỏng. Đoạn hắn đâm xác một tên thuộc hạ, vận sức quăng vào đại hán ấy rồi lấy đà nhảy lên con ngựa gần đó chạy đi, hằn học:
"Khốn kiếp! Đúng là kỳ đà cản mũi!"
Đại hán tử không truy đuổi. Nhóm Lý Uyên đều trút một hơi thở nhẹ nhõm sau khi chúng rời đi. Dưới đốm lửa le lói có thể thấy đại hán kia đội phốc đầu, vận thường phục màu nâu nhạt, dáng dấp khôi ngô tráng kiện. Nhưng y đảo mắt tới lui, chợt nhận ra đám người Lý gia là quân triều đình, bèn hấp tấp cúi đầu rồi cáo biệt ngay. Lý công vội vã chạy theo, lớn tiếng gọi:
"Ân công! Ân công đừng vội! Hãy cho ta biết danh tính!"
Tuy đã phi ngựa bỏ đi xa nhưng đại hán vẫn đáp lại thật to, giọng như chuông đồng:
"Tần Thúc Bảo!"
Dứt lời, Thúc Bảo xua năm ngón tay, ngụ ý họ không cần đuổi theo nữa. Lý công ở xa, chỉ kịp nghe tên chữ, thấy Thúc Bảo giơ năm ngón lên, ông ta lầm tưởng là biểu ý cho "Ngũ". Ông không cản được, thở dài rồi quay sang phía vài người còn lại, lẩm bẩm:
"Ngũ Thúc Bảo! Lý Thúc Đức ta nợ cậu một ân tình!"
Trời tối lại nổi gió, một cơn mưa nhỏ trút xuống. Dẫu vậy, Kiến Thành và Thiệu vẫn phải vất vả thu dọn tàn cuộc. Sau một đêm, cả đoàn xe hơn trăm người giờ còn lác đác vài người, những người sống sót chỉ còn biết gắng gượng đến khi tới dịch trạm. Sài Thiệu cưỡi ngựa mở đường, đi trước Lý công một quãng. Vừa vặn lúc ấy, y thấy một đám người mặt mày hung tợn cưỡi ngựa vù vù tới, tay còn lăm lăm đao kiếm. Thiệu tưởng tặc nhân chưa quên mối hận, phái đồng đảng quay lại trả thù, bèn rút ra một mũi tiễn, bắn kẻ đi đầu ngã khỏi ngựa. Đám thủ hạ của kẻ ấy chạy lại xem chủ nhân, đã thấy ông ta tắt thở.
"Trời ơi! Trang chủ chết rồi!"
Thiệu chắp tay lên trán, nheo mắt nhìn kỹ về phía sau họ, trông lại giống tiêu cục bảo vệ hàng hóa hơn là cướp. Y thất kinh, liền nói phỉnh cho mọi người nghỉ chân, để mình lên trước do thám. Lý công sau đêm dài mệt mỏi, cùng Kiến Thành và lính lác nghỉ chân dưới gốc cây lớn. Thiệu phi ngựa nhanh đến dưới dốc, hỏi chuyện:
"Các vị là thương buôn sao? Người ở đâu tới vậy?"
Thấy Thiệu mặc giáp, một người bèn nói:
"Bọn tôi từ Tế Âm tới, Thiện đại trang chủ của bọn tôi vừa gặp nạn đây! Cho hỏi huynh là ai?"
Thiệu nhảy khỏi yên, chạy lại gần. Y vuốt nhẹ khóe mắt, tự thân hối hận nhưng xét chuyện cũng đã đành, bèn giả cách nói:
"Bọn ta là quan binh phụ trách vận lương, vừa hay gặp bọn tặc phỉ cướp bóc ở chốn này, đã kịch chiến với chúng một trận. Ta để lọt lướt vài tên, hẳn là trang chủ các vị đã xui rủi bị chúng bắn phải."
Dứt câu, Thiệu thở dài rồi móc từ trong ngực áo ra hai mươi lượng, trao tay một người:
"Ta rất lấy làm tiếc về tai vạ này! Thôi thì cầm tạm số tiền này khâm liệm cho chủ mấy người đi! Ta còn công vụ, cáo từ trước vậy!"
Người nhận bạc tặc lưỡi, xuýt xoa ra hiệu cho đám còn lại:
"Trang chủ xui rủi gặp nạn, chúng ta đem thi hài ông ấy về, số hàng này tạm gác lại vậy! Đi mau!"
Đám người mặt rười rượi nhìn nhau rồi chắp tay vái tạ Thiệu. Thiệu trèo lên ngựa, lòng man mác ngoái nhìn đám bảo tiêu khiêng thây đầu lĩnh về.
Người bị bắn chết kia là Thiện Hùng Trung, chuyên nghề thương lái và bảo tiêu. Tổ phụ của Hùng Trung là Thiện Đăng, một tướng quân của Bắc Chu, phụ trách trấn thủ Đông Xương. Đến năm Khai Hoàng nguyên niên, Lý Uyên và Hạ Nhược Bật thừa lệnh soái binh đánh dẹp tàn dư Bắc Chu, trảm sát toàn bộ những kẻ chống đối. Cha của Hùng Trung là Thiện Vũ phá trận không thành, bị bắt giết. Cả nhà còn mỗi Hùng Trung cùng một đứa em mới sinh vào lúc đó tên là Thông chạy thoát, được gia tướng bảo vệ. Họ dời tới Tế Âm quận, tức Tào châu và sống tại đó. Sau vụ việc Hùng Trung bị giết oan lần này, cừu thù giữa Thiện gia và Lý gia xem chừng đã chồng thêm một lớp, mà lại chẳng ai hay biết.
Hãy nói đến chuyện Tần Thúc Bảo, y vốn là người huyện Lịch Thành ở Tề quận, hay Thanh châu. Thúc Bảo bổn danh là Quỳnh, quen dùng tên tự, còn có tiểu danh Thái Bình Lang. Y xuất thân bộ khoái tại địa phương, còn trẻ nhưng sức lực phi thường, thông thương thạo giản. Thế nhưng đời bất công, cũng vì quá chính trực, y tố giác quan trên hối lộ không thành mà ngược lại bị vu cáo, chịu án lưu đày làm lính tráng ở biên thùy Trương Dịch, dần qua Liêu Đông trong mấy năm liền. Chiến sự căng thẳng, đường sá xa xôi, mẹ Thúc Bảo mất được một năm y mới hay hung tin. Đến khi chinh Liêu thất bại, Thúc Bảo nhờ được Hữu dực vệ đại tướng quân Lai Hộ Nhi ưu ái mới được phép từ chức trở về quê nhà. Hôm ấy trên đường về, y đã vô tình cứu cha con Lý Uyên. Cũng bởi vì không có ý định dính dáng đến quan trường lần nữa, y mới vội vàng bỏ chạy khỏi hiện trường tới vậy, tránh chuốc thêm phiền hà.
Sáng hôm sau, y cảm thấy không khỏe trong người, bèn dừng chân tại một khách điếm bình dân ở huyện nọ. Vết thương trên tay y tối trước được băng bó qua loa, nhưng dường như ẩn chứa nguy hại tiềm tàng. Y giao cương ngựa cho một tên mã phu rồi bước vào cửa. Một người phụ nữ đang đi hướng ra ngoài chợt liếc thấy Thúc Bảo tư chất oai phong, giống người có tiền, mắt liền sáng rỡ, đích thân mời y:
"Ý trời! Hảo hán mời vào! Tệ điếm may mắn đón được hảo hán, chắc hôm nay đắt khách lắm đây!"
Thúc Bảo thở dài trĩu nặng, đặt tay nải và cặp giản xuống ghế, nhìn vết thương trên tay mà lòng cứ nôn nao. Ăn uống xong xuôi, y gọi bà chủ lại:
"Chỗ bà còn phòng trống chứ?"
Bà chủ giọng ngọt như đường, cung tay nói:
"Dĩ nhiên! Phòng tốt nhất nữa ấy chứ! Mời hảo hán!"
Thúc Bảo nhấp cạn chén rượu, tự dưng cảm giác đầu óc lâng lâng khó tả, nhưng y tạm gạt qua một bên, dọn đồ rồi đi lên phòng.
Trời chập tối, Thúc Bảo lấy khăn lau mình xong thì đặt thân người cao to xuống chiếc trường kỷ, trong một gian phòng được bà chủ líu lo là tốt nhất khách điếm. Y gỡ vải băng vết thương ở tay ra, thấy máu đã ngưng chảy nhưng miệng vết thương sưng tấy rất nặng, tím lịm như mận chín. Lát sau, đầu óc Thúc Bảo quay cuồng, mắt dần mờ đi, ngoài mặt lạnh ngắt mà bên trong nóng ran như lò rèn. Y đứng dậy, chống tay lên bàn, miệng khẽ nhẩm:
"Nguy to! Không lẽ... mình trúng độc rồi?"
Nói đoạn liền đẩy cửa ra ngoài, nhờ bà chủ gọi y sư tới. Mụ nheo mắt, quan sát một hồi rồi cũng sai người làm theo. Một tay tiểu nhị nhanh nhảu bước ra ngoài, lội bộ tới một y quán cách khách điếm chừng hai dặm. Y sư đang tính đóng cửa hiệu thì thấy tay tiểu nhị chắn trước mặt, hối hả nói:
"Trời ơi Trương đại phu! Khách điếm chỗ ta có người bệnh, ông mau tới xem đi!"
Họ Trương mới độ tứ tuần, nhưng y thuật rất khá, khu này đều biết tên. Nghe tiểu nhị nói vậy, ông vội xách hộp thuốc, lật đật theo hắn về khách điếm. Y sư vào phòng Thúc Bảo, tháo hộp thuốc ra rồi bắt đầu chẩn đoán cho y. Sau một hồi vọng văn vấn thiết, Trương y sư thở dài rồi chắp tay với Thúc Bảo:
"Hảo hán à! Khả năng cao cậu đã trúng độc pha với Hạc đỉnh hồng rồi!"
Thúc Bảo mặt tái mét, vội hỏi:
"Là độc gì? Có chữa được không y sinh?"
Y sư lắc đầu, lấy giấy bút ra, vừa nói vừa viết:
"Loại này hung hiểm vô độ, dùng hỗn hợp thạch tín, ô đầu, mã tiền cùng bách trùng cực độc mà tạo ra, mỗi thứ một chút. Cậu tuy trúng độc không nặng, nhưng nếu để lâu thì vẫn có thể nguy hại tới thần trí và tứ chi. Ta vô năng, không thể giải độc, chi bằng kê cho cậu đơn thuốc kìm hãm độc tố, để cậu tìm y sư cao tay hơn mà chữa vậy!"
Kê xong toa thuốc, họ Trương đưa cho chồng của bà chủ khách điếm gần đó. Thanh toán xong xuôi thì y sư cũng lắc đầu ra về, lộ rõ vẻ bất lực. Bà chủ ánh mắt sắc bén, bám theo y sư rồi gặng hỏi:
"Trương đại phu chớ vội! Cho hỏi tình trạng của vị tráng sĩ đó thế nào? Liệu có nguy hiểm tới tính mạng không?"
Trương y sư vuốt râu một hồi rồi đáp:
"Thân thể như cậu ta quả thực rất hiếm có, người thường trúng độc tương tự thì coi như đã bước một chân xuống hoàng tuyền rồi. Tuy rằng đối với tính mạng không gặp nguy hại, nhưng chữa tận gốc vẫn hơn là dùng thuốc áp chế độc tố tạm thời. Nếu không còn việc gì, ta xin về trước vậy! Bổn hiệu mấy nay đông khách, ta sắp chẩn đến hư óc rồi!"
Bà chủ cười rồi dang tay tiễn Trương y sư ra về. Khi trở lại khách điếm, nụ cười trên môi mụ ta trở nên gian xảo lạ thường.
Kể từ đêm hôm ấy, chất độc phát tán ngày càng mạnh, khiến Thúc Bảo vô cùng đau đớn, cả người như bị vạn con kiến cắn, mặt mày tím tái, tứ chi cứng đờ. Bà chủ lại nhân lúc Thúc Bảo bị nạn, không thể phản kháng mà đẩy giá cao cho y. Ở thêm một ngày, y đã bị chém mất cả mấy lượng bạc. Tấm thân vạm vỡ của Thúc Bảo giờ ăn không đủ no, vừa phải chịu dày vò của độc tố, cầu sống chẳng được, cầu chết chẳng xong. Tiêu hết tiền, y bị bà chủ ném thẳng vào nhà củi, đêm lạnh chẳng có lấy tấm chăn. Đại hán tử sa cơ lỡ vận, đành nhờ người đem bán con ngựa của mình. Sang ngày thứ ba, phải cầm luôn cả cặp giản gia truyền, tình cảnh hết sức thảm thương. Bà chủ thấy Thúc Bảo hết tiền hết bạc, vừa vặn khách điếm thiếu người nên ép y làm việc trả nợ, có gì không hài lòng đều quát mắng, trái ngược với vẻ cung kính ban đầu.
Đêm hôm ấy, Thúc Bảo co ro trong tấm áo mỏng, thần trí mê man, lay lắt chút sinh lực. Cửa phòng củi đột nhiên mở ra, người chồng của bà chủ rón rén lại gần Thúc Bảo, trên tay là một tô cháo nóng hổi kèm một chén thuốc được kê từ toa của Trương y sư hôm nọ. Ông ta mở giọng nhỏ nhẹ như không muốn ai nghe thấy:
"Hảo hán! Cháo này cho huynh!"
Thúc Bảo đưa mắt nhìn, tay run run cầm chén cháo, húp một hơi thì sạch bong. Người chồng lại đưa chén thuốc lại gần y, nói:
"Thuốc của Trương đại phu, huynh uống mau cho nóng! Xin lỗi, ta chỉ có thể làm tới vậy thôi!"
Thúc Bảo tay cầm chén thuốc, nhấp một hồi thì cạn. Tuy đã khờ khạo đi mấy phần, y vẫn dập đầu cảm tạ, được người chồng đỡ dậy:
"Nè! Không cần làm vậy! Ta còn phải tạ lỗi với huynh!"
Thúc Bảo gật đầu, miệng tê dại tới mức không nói được chữ nào nữa, chỉ biết lạy tạ liên hồi. Người chồng mang thêm cho y một tấm chăn rồi căn dặn:
"Ta sẽ thử khuyên mụ dạ xoa đó xem sao! Huynh nghỉ ngơi cho sớm! Cáo từ!"
Xong việc thì ông ta khẽ đóng cửa, cúi mình nhón chân đi khỏi. Cho đến ngày hôm sau, Thúc Bảo đỡ được hơn một chút nhờ thuốc, nhưng vẫn không thể nào nói chuyện được, vẻ mặt xanh xao tiều tụy, chỉ còn đủ sức làm việc vặt phụ quán để trả nợ.
Bỗng một hôm, từ bên ngoài khách điếm huyên náo, ba bóng người trông có vẻ khác thường bước chân vào trong. Dẫn đầu là một hảo hán mình cao tám thước, vận y phục nâu sẫm xen lục, tuy họa tiết đơn sơ song chất vải thì thật là thượng hạng. Khuôn mặt hảo hán này rắn rỏi như đá, mày hổ mắt phượng, râu quai nón rậm rạp lóe lên sắc đỏ nhàn nhạt khi ánh dương rọi vào. Theo chân người này là một hảo hán thấp hơn, cao chừng bảy thước rưỡi, là thân bạch diện nam nhi, mục quang như điện, dáng dấp anh tuấn mà không kém phần oai phong. Người thong dong nhất trong nhóm, dễ dàng đoán biết là một đạo sĩ với bộ y phục âm dương bát quái, tóc búi quan kế, mắt phụng mày ngài, lâu lâu lại hễ mân mê chòm râu dài đen láy và phe phẩy một cây phất trần. Ba người ngồi vào bàn rồi, hảo hán cao lớn mới cất giọng, thanh âm như lôi đình:
"Tiểu nhị! Làm cho một tô mì chay với mang một vò Quế hoa, ba cân thịt cừu lên đây!"
Một lát sau, tiểu nhị từ sau quầy run run bưng đồ ăn lên. Lúc lấy đồ ăn từ mâm ra, y gượng cầm không nổi vò rượu, làm nó rơi cái "choang", đổ hết cả ra sàn. Cả quán nháo nhào, vị đạo sĩ kia mở mắt, liếc nhìn khuôn mặt tái xanh của tay tiểu nhị. Ra tiểu nhị lúc này là Thúc Bảo, cố sự cũng do suy nhược quá độ mà ra. Bà chủ từ bên trong quầy tiến lại, chửi xối xả vào mặt Thúc Bảo:
"Đồ ăn hại! Vậy mà cũng để đổ bể? Hay ngươi muốn chống đối lão nương?"
Thúc Bảo ráng hết sức cúi người để nhặt từng mảnh vỡ của vò rượu, vị đạo sĩ kia mới cản lại rồi giơ ngón tay bắt mạch cho y. Quan sát biểu hiện và kinh mạch, thấy bên ngoài y lạnh tanh mà người đổ mồ hôi như tắm, mặt mũi đờ đẫn như mất hồn. Hai người trong nhóm đạo sĩ cũng kiên nhẫn chờ đợi, chưa động đậy tí gì. Được một chốc, đạo sĩ kia mới cất giọng chất vấn:
"Cậu là ai? Sao lại trúng Hạc đỉnh hồng?"
Hai người theo cùng đều đưa mắt về phía bà chủ. Mụ lảng tránh, nói vu vơ rằng:
"À! Tiểu tử này mang bệnh từ nhỏ, không nói chuyện bình thường được! Hay là ta..."
Đạo sĩ phẩy cây phất trần ngang mặt mụ, gạt phăng lời dối trá:
"Vô lượng thiên tôn! Bần đạo lại thấy cậu ta tráng kiện phi thường, võ lực thượng đỉnh, chẳng qua là bị trúng chất kịch độc nên mới thành ra như vậy!"
Hảo hán cao lớn trong nhóm hỏi vị đạo sĩ ấy:
"Vậy còn cứu được không Ngụy đạo sư? Ta thấy hình như cậu ấy bị dày vò lâu lắm rồi!"
Bà chủ liền phủ nhận ngay, giọng bắt đầu lộ vẻ khó chịu:
"Các vị rốt cuộc tới đây ăn hay tới đây xem bệnh vậy? Người của ta, chả nhẽ ta không rõ?"
Hảo hán cao lớn tức giận, đập bàn thật mạnh, khiến cho quan khách một phen khiếp vía. Đoạn hảo hán ấy đứng dậy, trỏ vào mặt bà chủ:
"Sao lại có người ngu dốt như bà vậy? Bà thấy người ta bị trúng độc, không kháng cự nổi mới ép người ta phục dịch đúng không? Ngộ nhỡ người ta kiệt sức mà chết thì lấy mạng bà để đền bù được chăng?"
Mụ có hơi khúm núm trước thân hình hộ pháp của hảo hán, song giọng chua như giấm, làm ra vẻ không chịu thua:
"Xí! Hắn ta trọ đây mấy ngày, nợ biết bao nhiêu là bạc, không trả được thì ngoài làm việc ra còn cách nào hoàn vốn cho lão nương? Trúng độc gì? Bộ ta là lang trung chắc? Hắn làm sao thì mặc xác, lão nương chỉ cần tiền!"
Hảo hán bạch diện đằng sau tức thì quăng tới cho mụ một túi bạc, gằn giọng:
"Đủ chưa? Mau thả người ta về!"
Mụ tung hứng túi bạc, nghe tiếng bạc va loảng xoảng liền trở mặt, nhanh hơn cả trở bàn tay:
"Úi dà! Các vị tự nhiên! Nhiêu đây chắc đủ rồi!"
Nhóm người nhìn mụ ta thản nhiên đắc chí với túi tiền trên tay, ánh mắt tràn ngập vẻ khinh miệt. Đoạn hảo hán cao lớn cõng Thúc Bảo lên một chiếc xe ngựa mới thuê, chở y hướng về đạo quán của đạo sĩ để giải độc. Chỗ ấy nằm cách trấn tương đối xa, ở huyện Bạch Mã thuộc Đông quận, địa khu giáp ranh Tề quận. Đạo am nhỏ tọa lạc trên một ngọn đồi lớn, từ xa khoảng một dặm là có thể trông rõ, tựa như miếu thờ Thổ địa. Tới gần hơn, thấy trên biển còn đề "Huyền Thành am", nét chữ bay lượn mà có hồn thực khó tả. Ba người trong nhóm đỡ Thúc Bảo xuống xe ngựa, vị Ngụy đạo sư mới lớn tiếng gọi:
"Hữu nhân ngộ nạn, ngã đạo bất khả tọa thị!"
Tức thì cổng mở toang, bên trong có hai tiểu đồng buộc tóc hai búi đứng dang tay, cúi đầu thi lễ. Họ dìu Thúc Bảo vào phòng luyện đơn của Ngụy đạo sư, khắp ngóc ngách đều phả mùi thảo dược nồng nàn. Trước lò luyện đơn, Ngụy đạo sư xem xét vết thương của Thúc Bảo kĩ lưỡng, điểm vào huyệt Thiên trụ, Đản trung và Khí hải để phong bế tạm thời chất độc. Khi ông ra ngoài, liền dặn dò đồng tử rằng:
"Các con mau đi nấu hai thang Thanh tị, một thang Hắc tán với lấy ba viên Thanh tâm tán hỏa đơn ra đây cho ta!"
Mấy đứa tiểu đồng chắp tay vâng mệnh rồi đi chuẩn bị ngay. Hai vị hảo hán bên ngoài sốt ruột, nghe tiểu đồng chỉ điểm nguyên liệu của thuốc, liền xách chân đi phụ đám chúng nó một tay. Một canh giờ sau, thuốc thang đầy đủ, Ngụy đạo sư mới tiến hành giải độc cho Thúc Bảo.
Đầu tiên, dùng một chén Thanh tị để kích thích nôn mửa, giải đi phần ứ trệ độc tố. Tiếp sau đó, đạo sĩ cho Thúc Bảo uống Hắc tán dược, ép chất độc trong ruột ra ngoài, dùng Thanh tâm tán hỏa đơn để chế giảm độc tính, khai độc hạ hỏa. Cuối cùng, ông sai tiểu đồng đốt lò luyện đơn lên, nhằm giúp Thúc Bảo giữ ấm. Bởi vì Thúc Bảo có sức lực cường hãn, độc trúng không nặng nên khó nguy hại tính mạng, song độc tính ngấm khá sâu, cần điều dưỡng liên tục vài ngày đến khi khỏi hẳn. Hai hảo hán đang khoanh tay đứng đợi trước sân am thì từ ngoài cổng vang lên tiếng gõ cửa kèm tiếng gọi:
"Ngụy đạo sư! Ngài có trong đó không? Ngụy đạo sư à!"
Hai đứa tiểu đồng nghe thấy, bước chân lanh lẹ tới gần cánh cửa lớn. Chúng nó mở cửa ra, thì thấy dưới bậc là một người vóc dáng khá nhỏ, y phục cũng thuộc hạng trung lưu. Hắn thở hồng hộc mà vẫn không ngừng nói:
"Làm phiền tiểu đạo hữu! Nhị trang chủ nhà ta có trong đó với Ngụy đạo sư không? Bọn ta có chuyện khẩn cấp cần báo!"
Hai tiểu đồng nhìn nhau gật đầu, một đứa cất lời:
"Thiện nhị gia đang ở trước sân, mời thí chủ vào!"
Người này xem ra là gia nhân gì đó của vị hảo hán cao lớn kia. Bước vào trong, thấy vị hảo hán đang đứng như cột đình thì hắn chạy nhanh lại, lăn lê bò càng mà báo tin:
"Nhị trang chủ! Đại sự không xong rồi! Đại trang chủ mấy hôm trước áp hàng qua địa bàn Tề quận, không may bị tặc nhân ám toán rồi!"
Hảo hán ấy lập tức quay phắt lại, nắm cả hai cánh tay gia nhân, quát:
"Ngươi nói gì? Vậy đại ca ta có sao không?"
Hắn lau nước mắt, giọng ngập ngừng:
"Nhị trang chủ xin hãy bình tĩnh! Đại trang chủ... ngài ấy mất rồi!"
Hảo hán cao lớn như chết lặng đi, mặt mày tái mét. Y siết chặt quyền, vươn cao cánh tay lên trời, hét vang cả dãy núi:
"ĐẠI CA!"
Hảo hán ấy lại phẫn nộ giáng một cú trọng quyền xuống sân, khiến cả sàn đá nứt toác. Hảo hán bạch diện bên cạnh cũng không khỏi thất thần khi nghe hung tin quá sức đột ngột này. Bấy giờ mới rõ, hảo hán cao lớn kia chính là Thiện Thông, tự Hùng Tín, đứa con mới sinh của Thiện Vũ vào lúc thảm sát Đông Xương năm ấy. Hùng Tín là em trai Hùng Trung, sống tại sơn trang gọi là Nhị Hiền ở Tế Âm quận, bình sinh cứu nguy phò khốn, quản chuyện bất bình trong quận, trong giang hồ chẳng ai không kính trọng. Hùng Tín hít một hơi thật sâu rồi đứng dậy, tay đưa một túi bạc tầm hơn chục lượng cho tiểu đồng, dặn dò:
"Giờ nhà ta gặp chuyện, đợi vị hảo hán kia tỉnh lại, nhớ trao bạc cho cậu ấy! Sự việc cấp bách, cũng nhờ ngươi truyền đạt lại với Ngụy đạo sư vậy! Bá Đang, chúng ta đi!"
Nói xong liền cùng với hảo hán còn lại, tức Vương Bá Đang và tay gia nhân lật đật chạy ra ngoài cổng, nhảy tít lên ngựa rồi phi nước đại về. Tiểu đồng gãi đầu, nhìn túi bạc trong tay, chỉ đành tặc lưỡi nghe lời.
Vài ngày sau, Thúc Bảo qua cơn nguy kịch, dần nói chuyện và đi đứng được trở lại, nhưng cơ thể đoán chừng vẫn còn suy nhược, cần tịnh dưỡng thêm nửa tháng mới tiêu trừ toàn bộ độc tố. Sáng hôm ấy thức dậy, y ra ngoài sân luyện quyền cước, làm cho mấy đứa tiểu đồng hiếu kỳ núp sau cột, mãi không thể rời mắt khỏi từng quyền tinh tế mà lại cực kỳ uy mãnh kia. Luyện xong, Thúc Bảo thu quyền giữ hơi, ngoái đầu về phía sau. Ngụy đạo sư từ phòng khách bước đến, cười hà hà:
"Vô lượng thiên tôn! Hảo hán thân thủ bất phàm, chẳng trách độc tính ngấm sâu, vẫn phục hồi rất nhanh! Quả là kinh kỳ!"
Thúc Bảo cúi đầu, cung hai tay trước ngực:
"Đạo sư quá lời! Cũng nhờ ngài cứu chữa, tại hạ mới giữ được mạng quèn, tuyệt không dám quên đại ân!"
Vị đạo sư vuốt râu, cười mỉm:
"Hảo hán không cần khiêm nhượng! Người có khả năng kháng độc như vậy trong thiên hạ, sợ rằng trong vòng trăm năm rất khó diện kiến!"
Thúc Bảo cúi đầu một lần nhận tán dương. Bỗng y sực nhớ về túi bạc hôm trước Hùng Tín để lại, hiện đang ở trong tay áo mình, bèn lấy ra rồi hỏi đạo sư:
"Số bạc này của ba vị phải không? Tại hạ đã hồi phục được một chút, gia sự cũng tất bật. Vậy nên hôm nay mạn phép hỏi thăm cao danh quý tánh ba vị, đặng sau này biết đường hậu tạ."
Đạo sư phẩy cây phất trần ngang ngực, từ chối nhận lại bạc, đáp:
"Vô lượng thiên tôn! Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ - Vô duyên đối diện bất tương phùng! Bần đạo tuy đạo pháp hèn kém, nhưng cũng mẩm rằng chúng ta hữu duyên, hảo hán hà tất phải câu nệ lễ nghi tiểu tiết?"
Thúc Bảo thở dài rồi gật đầu cảm tạ:
"Hổ thẹn, hổ thẹn! Vậy tại hạ xin nguyện khắc ghi đại ân đại đức, mai này thành tựu sự nghiệp nhất định báo đáp các vị!"
Đạo sư bấm tay, cười đáp:
"Tần tính Quỳnh danh, sau này tất sẽ đồng mưu đại sự thiên hạ. Mạng người quan trọng, bần đạo chẳng mong cầu được đền ân vậy!"
Thúc Bảo nghe đạo sĩ bói ra cả danh tự của mình liền kinh ngạc cảm thán:
"Đạo sư tài pháp uyên thâm, thực sự khiến Tần Thúc Bảo đại khai nhãn giới!"
Hai người tâm đầu ý hợp, bàn chuyện thiên hạ đến tận giờ ăn. Sau nhiều ngày lưu náu trong am, đàm đạo với Ngụy đạo sư, Thúc Bảo đã gần như bình phục, bấy giờ đang thu dọn hành lý chuẩn bị rời đi.
Hôm ấy là một buổi sáng nắng đẹp, tiết Lập xuân se lạnh ở Sơn Đông đoán chừng vẫn dễ chịu hơn đất Liêu vài phần. Gió thổi vi vu qua rặng trúc trong am, mang theo chút cô lặng. Thúc Bảo nai nịch xong xuôi thì bước ra khỏi cửa phòng, tìm đạo sư để cáo biệt. Vị đạo sĩ mặt trắng đang ngồi đánh đàn thập lục giữa sân, tóc búi xõa theo làn gió mát. Tiếng đàn du dương trầm bổng của đạo sư hòa nhịp với tiếng chim khách râm ran, có thể gọi là vui thú chốn đạo am vậy. Khi Ngụy đạo sư nghe động phía sau, ông liền ngưng gảy đàn, giọng nhẹ như vân:
"Tần hảo hán đã khỏe lại rồi chăng?"
Thúc Bảo chắp tay thi lễ:
"Đã khỏe hơn vài phần! Có lẽ hôm nay phải từ biệt đạo sư rồi!"
Đạo sư vuốt râu, lại vuốt nhẹ một bên tóc mái, đáp:
"Chí của hảo hán cao tựa núi, thẳm tựa rừng. Bần đạo vô vi vô cưỡng, sao níu giữ cho cam?"
Thúc Bảo thở dài, nhìn xa xăm về phía núi rừng mà đáp:
"Đạo sư e là quá lời, Tần Quỳnh tài trí có hạn, thực chẳng đáng kể đâu. Ngược lại thấy chốn thâm sơn cố cốc vậy mà an nhiên tự tại, tiêu sái biết bao!"
"Thế sự thiên hạ biến ảo khôn lường. Vận hôm nay không tới, nhỡ đâu ngày mai đại giá quang lâm, Tần hảo hán sao phải nói lời thoái chí?"
Thúc Bảo cười khổ, suy tư một lát rồi quay mặt bái biệt:
"Đa tạ đạo sư chỉ điểm! Hôm nay Tần Quỳnh bất đắc dĩ cáo biệt, mai này hi vọng có thể tái ngộ với ngài và hai vị ân công kia!"
Đạo sư cũng đứng lên đáp lễ:
"Nhất định sẽ có ngày đó! Cung tiễn hảo hán, ngày sau tái hợp!"
Thúc Bảo cúi mình chào lần nữa, giữ tay nải bộ hành mà xuống núi. Đặt chân đến trấn, y liền mua một con ngựa, tìm đường về phía khách điếm hôm nọ. Ý định Thúc Bảo thế nào, hồi sau sẽ rõ.