Khang dừng xe đúng chấm định vị, màn hình vẫn chỉ một thửa đất trống. Một cánh quạt màu xanh nhạt đang quay trên đống gạch bên trong, dây điện cụt ngủn nằm cuộn dưới chân nó.
Anh đứng ngoài đường phát lại bản ghi. Phía sau giọng người phụ nữ là nước nhỏ đều xuống một vật rỗng. Khang đi dọc tấm rào. Âm thanh trong điện thoại rõ dần ở phía con hẻm thoát nước, nơi hai tấm tôn ghép lệch để hở một đường tối vừa đủ nghiêng người bước qua.
Khang lách vào khe. Lớp xi măng cũ còn nguyên dưới cỏ dại, lộ ra những đường gạch thẳng từng chia các căn phòng. Nước từ ống thoát rơi xuống một chiếc thau nhựa vỡ đáy, phát ra đúng âm rỗng trong bản ghi.
Bên phải chiếc thau là một rãnh thoát đen bùn. Trong cuộc gọi, người phụ nữ từng nói cửa hậu mở ra hẻm nước, cách tủ điện vài bước.
Anh lần theo rãnh.
Dưới lớp bụi xi măng có hai vệt bản lề han gỉ. Khang bước qua khoảng cửa cũ, nhìn thấy trên mảng tường cụt một hình chữ nhật màu sẫm với bốn lỗ vít.
Tủ điện.
Chi tiết người gọi nhắc tới không nằm trên bản đồ.
Khang mở ứng dụng ghi chú, vẽ hành lang rồi đánh dấu cửa hậu và tủ điện. Những đường ron chia đều hai bên lối đi thẳng.
Anh đánh số từng ô trên sơ đồ.
Một, hai, ba, bốn, năm.
Phía đối diện có sáu vệt nền nữa. Cuối hành lang, sát tủ điện, còn hai khoảng hẹp.
Mười hai. Mười ba.
Anh đối chiếu với bản ghi. Quạt, rãnh nước và tủ điện đều đúng chỗ người phụ nữ nói. Chỉ riêng con số mười bốn không có chỗ để đặt vào.
Sau căn mười ba là tường nhà bên cạnh. Không có phần nền thừa hay lối rẽ. Dãy trọ chỉ có mười ba phòng.
Khang phát lại phần cuối cuộc gọi.
Năm tiếng gõ.
Năm tiếng nữa.
Bốn tiếng cuối.
Khang tắt bản ghi. Cánh quạt tiếp tục quay thêm nửa vòng mới dừng, một cánh chỉ thẳng về phía tủ điện.
Từ ngoài khe tôn có tiếng kim loại va vào nhau.
Một người đàn ông gạt tấm tôn bước vào, tay xách túi đồ nghề cũ. Vừa thấy Khang, ông liền đứng chắn lối. Trong túi áo nhô ra một vòng chìa khóa lớn, đầu chiếc dài nhất bám lớp gỉ đỏ.
"Cậu vào đây làm gì?"
"Tôi tìm địa chỉ số mười bốn."
Người đàn ông nhìn về phía những vệt nền. "Không có số đó."
"Chú từng ở đây?"
"Tôi coi điện nước cho dãy trọ. Họ phá rồi, giờ là đất dự án. Cậu ra ngoài đi."
Ông nói nhanh, bàn tay giữ chặt vòng chìa khóa. Khang chừa đường tới tủ điện.
"Chú đến lấy chìa khóa?"
"Đồ của tôi."
"Tủ đã bị tháo."
"Thì chìa vẫn là của tôi."
Người đàn ông đi thẳng đến mảng tường sẫm, đưa tay đúng vào chỗ ổ khóa cũ. Vòng chìa khóa bị kéo khỏi túi áo. Chiếc chìa dài va xuống nền, trên thân vẫn đọc được số 13.
Khang không cúi nhặt. "Chú tên Phúc?"
Người đàn ông ngẩng lên.
Chỉ một nhịp đó đã đủ.
Khang nói: "Một người từng sống ở đây nhắc tủ điện, cửa sau và nhắc đến chú."
Phúc chộp chiếc chìa lên, nhét cả vòng vào túi. "Ai gọi thì cậu đi hỏi người đó. Ở đây có mười ba phòng, hồ sơ giải tỏa đã ký đủ rồi. Không thiếu căn nào hết." Vòng chìa khóa tuột khỏi miệng túi, rơi xuống nền.
"Tôi chưa hỏi thiếu căn."
Câu đáp làm ông im đi. Nước vẫn rơi vào chiếc thau vỡ.
Khang đổi cách hỏi: "Nếu không phải phòng thứ mười bốn thì sao?"
Phúc kéo khóa túi áo lên tận miệng. "Cũng không có người thứ mười bốn."
Khang mở bản ghi, kéo tới đoạn cuối.
"Tôi đứng thứ mười bốn, sau chú Phúc."
Năm tiếng gõ vang lên, ngừng, thêm năm tiếng rồi bốn. Phúc lùi một bước và giẫm trúng vòng chìa khóa.
"Chú nhận ra nhịp đó."
"Không."
"Vậy chú sợ gì?"
Phúc nhặt chìa khóa. "Danh sách lúc giải tỏa đã ký đủ rồi."
"Còn danh sách trước đó?"
"Có một bản trước, một bản sau. Tôi chỉ ký bản họ đưa."
Khang cúi giúp Phúc nhặt chiếc chìa cuối cùng, đồng thời chụp rõ số 13 và hàng ngày tháng cũ khắc trên thân chìa.
"Sáng mai tôi quay lại."
"Cậu không báo phường à?"
"Nếu chú còn ở đây khi tôi quay lại, chưa cần."
Phúc rời qua khe tôn. Từ vệt phòng mười ba, một dấu chân ướt vừa in lên bụi xi măng.
Dấu thứ hai xuất hiện phía trước nó.
Rồi dấu thứ ba.
Chúng đi dọc hành lang đã bị phá, dừng trước mảng tường liền không có cửa. Mũi dấu chân cuối cùng chạm sát giày Khang.
Sau bức tường, điện thoại reo.
Đúng âm báo ở bàn trực số 17.
Trên mặt tường trống, Khang đưa tay về phía một tay nắm không tồn tại!