Chương 36: Sông Lớn
Sáu người rời Hồng Trấn khi cái nắng ban mai bắt đầu hanh hao trên những vạt tường xám, rọi xuống mặt đường đất nung lên thứ mùi khô nồng quen thuộc, lẫn trong đó là mùi rơm rạ phơi dọc hai bên đường và mùi phân ngựa còn vương lại từ những đoàn xe đã đi qua từ sớm. Trục lộ dẫn ra bến sông không rộng, chỉ vừa đủ cho hai chiếc xe tránh nhau, hai bên là ruộng lúa xanh rì vừa được người dân cấy không lâu, gió thổi qua khiến cả cánh đồng gợn sóng như một tấm lụa khổng lồ đang được ai đó rung nhẹ.
Đi chưa đầy nửa canh giờ, trước mắt Đấu đã hiện ra một con đê dài hun hút, chạy song song với bờ sông đến mức không thấy điểm kết thúc, thân đê đắp bằng đất nén cao chừng mười trượng, hai bên sườn phủ đầy cỏ dại đã được người ta phát quang gọn ghẽ, nhìn từ xa giống hệt một con giao long khổng lồ đang nằm im, sống lưng nhấp nhô theo từng đoạn, cứ cách một đoạn lại có một con dốc đất nghiêng nghiêng để người và xe có thể leo lên mặt đê. Trên những đoạn cao nhất, các tháp canh gỗ đứng lặng lẽ, mái lợp ngói xám đã sờn màu mưa nắng, trên mỗi tháp có ba người đàn ông mặc áo vải thô, thay nhau đứng gác, cạnh họ là một chiếc chuông đồng to bằng cái vại, dây chuông buộc thừng gai đã chai sạn vì nắm tay người kéo qua bao năm. Trần Hổ giải thích ngắn gọn rằng những tháp ấy là để báo động khi có yêu thú từ sông tràn lên, tiếng chuông vang một hồi là tin, hai hồi là cấp bách, ba hồi thì cả trấn phải đóng cổng.
Sáu người leo lên con dốc gần nhất, đất dưới chân hơi lún vì còn ướt nước mưa đêm trước, và khi vừa đặt chân lên mặt đê, cả một khoảng trời nước mênh mông bỗng mở ra trước mắt khiến Đấu phải dừng bước. Con sông rộng đến mức nhìn sang bờ kia chỉ thấy một vạch xanh mờ nhạt nhòa vào sương, nước sông cuộn chảy một màu nâu đục vì những trận mưa mùa hạ đổ liên miên mấy ngày qua, mặt nước dâng cao sát gần đỉnh đê hơn thường lệ, từng đợt sóng nhỏ vỗ vào thân đê tạo ra âm thanh ì oạp đều đặn như tiếng thở của một con vật khổng lồ đang ngủ. Gió từ sông thổi lên mang theo hơi nước mát lạnh và cái mùi tanh nồng đặc trưng của bùn đất, của rong rêu, của cả ngàn năm phù sa lắng đọng, khiến Đấu hít một hơi thật sâu, lòng dấy lên một cảm giác choáng ngợp lẫn kính sợ trước sự hùng vĩ của thiên nhiên nơi thế giới này, nó rộng lớn và hoang dại đến mức làm cho mọi lo toan nhỏ nhặt trong lòng hắn dường như trở nên vô nghĩa.
Quyền Sơn đứng cạnh hắn, hai mắt mở to, miệng há ra không khép lại được, một lúc lâu sau gã mới lắp bắp được câu nói đầu tiên.
"B-biển... biển lớn quá..."
"Đây là sông, không phải biển." Đấu quay sang, giọng nhẹ nhàng như đang nói với một đứa trẻ. "Biển còn lớn hơn cái này gấp trăm lần, đứng ở bờ mà nhìn sang không thấy bờ kia đâu cả, vì chẳng thể nhìn thấy bằng mắt thường."
Quyền Sơn gật đầu lia lia như thể đã hiểu, nhưng đôi mắt vẫn không rời khỏi mặt nước cuộn chảy, môi gã mấp máy lặp lại hai từ "không bờ" mấy lần như đang nhấm nháp một điều gì kỳ diệu lắm.
Xa xa về phía hạ lưu, nơi bến sông mở rộng thành một bãi đất bằng phẳng, Đấu nhìn thấy một đoàn xe ngựa nối nhau dài dằng dặc, đếm sơ cũng phải hơn năm chục chiếc, mỗi chiếc to lớn chẳng kém gì một căn nhà nhỏ, thùng xe đóng bằng gỗ dày sơn màu nâu sẫm, mui xe phủ vải bố căng cứng để chống mưa nắng. Mỗi xe được kéo bởi hai con thú có hình dáng giống ngựa nhưng to gấp đôi ngựa thường, lông màu nâu đất, móng guốc mỗi khi giẫm xuống đất lại phát ra một tiếng "cộp" trầm đục như tiếng sỏi đá va vào nhau, người trong đoàn buôn gọi chúng là thổ kỵ, loài yêu thú cấp một có khả năng đi ngàn dặm không biết mệt vì mỗi bước chân chúng đều hấp thụ được thổ linh khí ẩn trong lòng đất. Quanh đám xe, hàng chục phàm nhân cởi trần, mồ hôi nhễ nhại dưới nắng, đang hò hét gọi nhau khiêng những bao tải nặng trịch lên xe, tiếng hô "một, hai, ba" vang lên hỗn loạn xen lẫn tiếng chửi tục khi có ai trượt chân, và lẫn trong đám đông ấy, vài bóng người mặc áo vải tốt hơn, đeo trường kiếm ngang hông, đi đi lại lại quát nạt chỉnh lại hàng ngũ đám phàm nhân đang làm việc, ấy là các tu sĩ của đoàn buôn.
Sáu người theo con dốc đi xuống, tiến về phía đoàn xe, mùi mồ hôi người, mùi phân thổ kỵ, mùi gỗ ướt và mùi cá khô từ đâu đó bay tới hòa thành một thứ không khí đặc trưng của bến sông những ngày buôn bán. Trần Hổ dặn cả nhóm đứng đợi rồi một mình bước tới gặp một tu sĩ trung niên mặc áo xám đứng cạnh chiếc xe đầu đoàn, hai người nói chuyện một lúc, tay tu sĩ áo xám chỉ chỏ về phía những chiếc xe ở giữa đoàn, còn Trần Hổ gật đầu liên tục.
Trong lúc chờ đợi, Đấu cảm thấy lòng bàn tay mình hơi ẩm, đây là lần đầu tiên hắn nhận một nhiệm vụ thực sự bên ngoài Hồng Trấn, không biết phía trước là núi rừng hay sơn tặc, là yêu thú hay chỉ là một chuyến đi nhàn nhã, sự bất định ấy khiến tim hắn đập nhanh hơn một nhịp. Quyền Sơn đứng sát bên hắn, tò mò ngó nghiêng nhìn đám phàm nhân khiêng hàng, nhìn lũ thổ kỵ đang nhai những mẩu đất khô ven đường, ánh mắt gã sáng lên mỗi khi thấy thứ gì mới lạ, hoàn toàn không hề có chút lo lắng nào, cứ như một đứa trẻ theo sư huynh ra chợ lần đầu. Ba người còn lại, Tống Bình, Vân Ly và Triệu Khâm, thì đứng tách ra một góc, người ngồi xuống bậc đá kiểm tra lại dây giày, người dựa vào thân xe nhắm mắt chợp mắt, dáng vẻ thản nhiên như đã quen thuộc với cảnh này từ lâu, với họ chuyến đi này có lẽ chẳng khác gì một ngày làm việc bình thường.
Một lúc sau Trần Hổ quay lại, đứng giữa cả nhóm, giọng nói trầm và chắc như thường lệ.
"Đoàn có sáu mươi xe, hàng hóa quý, nhóm mình nhận hộ tống hai mươi xe ở giữa đoàn. Đi giữa thì an toàn hơn đi đầu hay đi cuối, nhưng cũng không được lơ là, sơn tặc với yêu thú đều có thể đánh vào bất cứ chỗ nào." Hắn đảo mắt qua từng người. "Đấu, Tống Bình đi đầu nhóm hai mươi xe, quan sát đường trước. Quyền Sơn, Vân Ly đi sau cùng. Ta đi giữa, có biến thì chi viện được cả hai phía."
Vừa nghe đến tên mình ghép với Quyền Sơn, Vân Ly khẽ nhíu mày, không nói gì nhưng bờ môi mím lại thành một đường thẳng, ánh mắt lướt qua gã giang hồ to lớn đứng cạnh như đang đánh giá một gánh nặng vừa bị đặt lên vai mình. Nàng không trái lệnh, chỉ lặng lẽ quay người bước về phía cuối đoàn xe, còn Quyền Sơn thì chẳng hề hay biết gì về sự khó chịu ấy, lập tức lon ton chạy theo sau nàng vài bước, vẻ mặt nghiêm túc lạ thường như vừa được giao một trọng trách lớn lao, cứ như thể từ giờ phận sự của gã là làm vệ sĩ riêng cho nàng. Trần Hổ nhìn theo hai người, nhún vai một cái, không nói thêm gì.
Đấu định hỏi xem Triệu Khâm sẽ đi cùng nhóm nào, nhưng vừa quay đầu lại thì đã không thấy gã đâu nữa, không một ai trong nhóm tỏ ra ngạc nhiên hay buồn lòng nhắc tới, như thể chuyện gã biến mất không một lời vốn dĩ đã là điều quá quen thuộc.
Cả đoàn xe còn phải chờ thêm gần hai canh giờ nữa để chất xong những bao hàng cuối cùng và kiểm lại sổ sách, nắng giữa trưa đổ xuống gắt gao khiến đám phàm nhân làm việc càng thêm vội vã. Đấu ngồi tựa vào một gốc cây bên đường, quay đầu nhìn về phía Hồng Trấn, từ đây chỉ còn thấy lờ mờ mái ngói xám của vài căn nhà cao nhất và đỉnh tháp canh nhô lên giữa màn sương nắng, nơi đó có quán rượu hắn từng ngồi nhấp chén đầu tiên, có con hẻm hắn và Quyền Sơn từng đi lạc, có cả gương mặt người chưởng quỹ Vạn Bảng Lâu đã thu nhận hai người không một lời dò xét. Một cảm giác lưu luyến mơ hồ dấy lên trong lòng hắn, giống như đứa trẻ lần đầu rời nhà đi học xa, biết rằng nơi mình sắp đến có thể tốt hơn, có thể tệ hơn, nhưng cái nơi mình vừa bỏ lại sau lưng, dù chỉ mới gắn bó vài tháng ngắn ngủi, đã kịp trở thành một thứ gì đó gần giống với quê nhà.
Khi tiếng cồng vang lên báo hiệu đoàn xe chuẩn bị lăn bánh, Đấu đứng dậy, gồng mình nhấc thanh thạch kiếm nặng trịch sau lưng, ngoái đầu nhìn Hồng Trấn lần cuối, rồi mới quay lưng bước theo đoàn người đang tiến vào con đường đất dẫn về phía những ngọn núi xa mờ phía chân trời.