CHAP 15 MỤC TIÊU
Tiết trời đang vào độ ngày 20 tháng 11, Thiên Khải nguyên niên.
Gió lạnh đầu đông rít qua những khe cửa chạm khắc của hành lang Đông Cung, mang theo cái rét mướt đặc trưng của những ngày cuối năm. Tuyết vẫn chưa chính thức đổ xuống những mái ngói rêu phong của thành Trường An, nhưng bầu không khí đã đậm đặc hơi nước buốt giá, khiến người ta chỉ cần thở nhẹ là tạo thành những làn khói trắng xóa trong không gian.
Lúc này đây, thế cục của Đại Tùy sau những chuyển động long trời lở đất của chương trước đã bắt đầu lộ rõ hình hài rõ rệt. Hệ thống quốc gia dưới sự cải tổ mạnh mẽ của Thiên Khải Đế đã đi vào vận hành một cách vô cùng ổn định, giống như một cỗ máy khổng lồ được tra dầu mỡ kỹ lưỡng, tự động băng băng về phía trước.
Nội Các phối hợp nhịp nhàng, mô hình 7 tỉnh tiêu chuẩn bước đầu hình thành vững chắc trên khắp dải giang sơn. Hệ thống giáo dục mới và cuộc cải cách tôn giáo triệt để cơ bản đã thành công tốt đẹp, quét sạch những hủ tục và thế lực cản trở. Trên thị trường, Đại Tùy Ngân Phiếu đang được lưu thông thí điểm vô cùng thuận lợi thông qua dòng chảy giao dịch thực tế của các thương nhân, song song với việc Đại Tùy Nhật Báo phát hành phủ rộng đến từng ngõ ngách trên toàn quốc, định hình dư luận xã hội.
Về mặt thương nghiệp, Thiên Khải Các đạt mức lợi nhuận bùng nổ chưa từng có, lên tới 300 vạn lượng bạc mỗi tháng. Các mặt hàng chiến lược độc quyền như xà phòng, nước hoa, rượu mạnh và Tuyết Đường trở thành thứ gà đẻ trứng vàng, cuồn cuộn đổ tiền vào Nội Khố. Ở phương diện ngoại giao, đoàn của Đường Tăng đã chính thức xuất phát, mang theo sứ mệnh tiến về phía Tây để thực hiện nhiệm vụ thỉnh kinh, kết hợp với việc thu thập tình báo chiến lược xuyên lục địa cho triều đình. Tất cả những chính sách vĩ mô ấy đều xoay quanh một tư tưởng cốt lõi duy nhất: Hoa Hạ Đồng Tâm Luận. Hoa Hạ là vận mệnh chung, tuyệt đối không đồng hóa cưỡng ép, không diệt chủng, mà tập trung vào bảo tồn truyền thừa văn hóa lâu đời.
[THÔNG SỐ QUỐC VẬN ĐẠI TÙY
Dân Tâm: ~1.250.000
Thiên Mệnh: ~520.000
Quốc Khố: ~1.500 vạn lượng bạc trắng
Nội Khố: ~700 vạn lượng bạc trắng.
TIẾN ĐỘ ĐẠI CÔNG TRÌNH
Đại Vận Hà Thiên Khải: 70% khối lượng.
Thiên Khải Quốc Lộ: 40% khối lượng.]
Trong khi cả thiên hạ đang sục sôi trong bầu không khí lao động và cải cách, thì tại Đông Cung lại là một khung cảnh hoàn toàn trái ngược. ngoài kia, người đào kênh vẫn đang điên cuồng đào kênh dưới những hố đất lạnh giá, người xây đường vẫn đang miệt mài đổ đá xây đường. Quan viên các bộ ngành triều đình liên tục tăng ca không quản ngày đêm: Hộ Bộ suốt ngày phải đối chiếu sổ sách, đếm tiền đến mức hoa mắt chóng mặt; Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ngưu Hoằng thì cầm roi ép các giáo viên khắp nơi học giáo án mới; Bộ trưởng Bộ Chính trị Tô Uy thì gõ thước bắt các quan lại dưới quyền viết văn bản phải đúng dấu câu; Lý Mật cãi nhau đỏ mặt tía tai với các quan viên địa phương về việc phân chia địa giới hành chính; còn Trưởng Tôn Thịnh thì giam mình trong mật phòng nghiên cứu chiến lược đánh Đột Quyết cho mười năm tới…
Mà ở Đông Cung, Thiên Khải Đế Dương Quảng lại đang nằm ườn trên chiếc ghế dài lót nệm lông cáo sưởi nắng. Nơi này trước kia là nơi hắn làm Thái tử, còn bây giờ thiên hạ không có Thái tử, hắn là Hoàng đế nên thích nằm đâu thì nằm. Hắn lười biếng đến mức Triệu An đứng bên cạnh ôm kiếm nhìn cũng phải thở dài thườn thượt, bất lực toàn tập. Hơn nữa, nhà cửa rộng lớn, cung điện nguy nga như vậy cũng chỉ có mỗi mình hắn ở. Không hoàng hậu, chẳng có quý phi, hoàn toàn trống không và yên tĩnh một cách kỳ lạ.
Dương Quảng gác hai chân lên thanh lan can gỗ tử đàn, một tay cầm chén trà Thiên Khải ấm nóng khói bay nghi ngút, một tay cầm tờ Đại Tùy Nhật Báo mới xuất bản sáng nay. Hắn ngẩng đầu nhìn lên mái nhà quen thuộc của Đông Cung, khóe miệng hơi cong lên thành một nụ cười đắc ý, tự lẩm bẩm một mình:
"Nói mới nhớ. Nơi này là Đông Cung a."
Trong đầu Dương Quảng, một tiếng "tinh tang" thanh thúy vang lên, cắt đứt sự yên bình của không gian. Giao diện mờ ảo của Hệ thống Quốc Vận Đại Tùy lập tức hiện ra trước mắt hắn:
[Đúng vậy. Đông Cung. Nơi ở của Thái tử.]
Dương Quảng gật đầu, rất tự nhiên xoay người một cái, đổi tư thế thoải mái hơn để nằm tiếp như một con cá mặn lật mặt, thản nhiên đáp trong ý thức:
"Ừ. Giờ thiên hạ không có Thái tử. Cho nên Đông Cung cũng chẳng có chủ nhân…"
Hệ thống im lặng một lúc lâu, giống như đang cạn lời với vị ký chủ này, rồi mới từ từ hiện ra dòng chữ:
[Ký chủ. Ngươi là Hoàng Đế.]
Dương Quảng nhấp một ngụm trà nhỏ, hương trà thơm ngát lan tỏa trong khoang miệng, hắn khẽ phản bác lại bằng giọng điệu hết sức thản nhiên:
"Thì sao? Hoàng Đế thì không được nằm à?"
[Thông thường. Hoàng đế phải ở Thái Cực Cung. Hoặc Ngự thư phòng. Hoặc xử lý chính vụ. Sinh vật thần kỳ có thể ngủ muộn hơn gà, dậy sớm hơn chó nhà hàng xóm!]
Dương Quảng phất phất tay, đưa tờ báo lên che mặt, tuôn ra một tràng lý lẽ vô cùng hùng hồn:
"Chính vụ có Nội Các xử lý. Quân sự có Quân Ủy định đoạt. An ninh có Dương Tố trấn giữ. Thương mại có Bùi Củ lo liệu. Giáo dục có Ngưu Hoằng gánh vác. Giao thông có Ngu Thế Nam đốc thúc. Y tế có Ôn Ngạn Bác chịu trách nhiệm. Nếu cái gì cũng phải tới tay ta tự làm, vậy ta lập ra bộ máy quan liêu đó làm gì?"
Hệ thống hoàn toàn nghẹn họng trước sự lười biếng hợp pháp này của hắn. Bởi vì mẹ nó, xét một cách công bằng, bộ máy Thiên Khải bây giờ đúng là đang tự vận hành cực kỳ trơn tru mà không cần Hoàng đế phải thức khuya dậy sớm phê duyệt từng tờ tấu chương. Dương Quảng bỏ tờ báo xuống, nhìn quanh cung điện rộng lớn, yên tĩnh đến mức nghe rõ cả tiếng gió rít. Nơi này chỉ có thị vệ tuần tra đi qua đi lại theo nhịp bước chân đều đặn, chứ không hề có tiếng trẻ con khóc cười, không có tiếng nữ nhân hậu cung tranh sủng hay đàn hát múa ca, liền cảm thán một câu từ tận đáy lòng:
"Nhà cửa rộng quá cũng không tốt nha… Ây da!!!"
[Ngươi muốn tuyển phi?] - Hệ thống lập tức nắm bắt cơ hội hỏi vặn lại.
Dương Quảng nghe thấy hai từ "tuyển phi" thì giật bắn mình, lập tức lắc đầu như trống bỏi, xua tay lia lịa:
"Không không không! Ta chỉ cảm thán thôi. Tuyệt đối không có ý nghĩ đó. Ngươi nghĩ xem, một người đàn ông mà muốn quản một đống nữ nhân, lại còn phải nhớ ngày ngày ai giận, ai vui, ai sinh nhật, ai đang cãi nhau với ai, ai muốn tranh sủng, ai muốn hãm hại ai... Quá đáng sợ, nghĩ đến thôi đã thấy nhức đầu rồi. Ta thà đi đào Đại Vận Hà còn hơn."
Hệ thống hiện lên một biểu tượng dở khóc dở cười trên giao diện. Có lẽ Thiên Khải Đế đúng là vị Hoàng đế kỳ quái và độc nhất vô nhị trong lịch sử Hoa Hạ: người khác ngồi lên ngai vàng cửu ngũ chí tôn thì chỉ nghĩ đến việc mở rộng hậu cung ba ngàn giai lệ, còn tên này ngồi trên ngai vàng lại chỉ ngày ngày nghĩ cách để được nằm dài một cách hợp pháp. Hắn híp mắt, uống cạn ngụm trà cuối cùng trong chén dưới ánh nắng nhạt màu của buổi trưa, lười biếng lẩm bẩm:
"Cuộc sống như vậy. Thật tốt biết bao. Thanh tịnh biết bao. An nhiên biết bao…"
Nằm mãi một tư thế cũng chán, cái lưng cũng bắt đầu mỏi, Dương Quảng lười biếng ngồi dậy. Hắn vươn vai một cái, hướng về phía cửa lớn gọi to:
"Triệu An!"
Triệu An đang đứng gác ngoài hành lang, nghe tiếng gọi liền lập tức đẩy cửa bước vào, chắp tay cung kính: "Có thần."
Dương Quảng phủi phủi vạt áo, ra lệnh:
"Thông báo cho Nội thị chuẩn bị. Trẫm muốn ra ngoài thị sát dân tình. Nhớ kỹ: Không mang theo nghi trượng hoàng gia. Không cần cấm quân rầm rộ. Không bày trận thế. Không phong tỏa đường xá. Không kinh động đến chính quyền địa phương. Không cần báo trước cho bất kỳ ai và không cần làm cho cả thiên hạ biết."
Triệu An nghe xong những yêu cầu này thì gương mặt liền trở nên vô cùng bất dĩ, bởi vì kinh nghiệm xương máu cho hắn biết, lần nào Bệ hạ bảo "đi dạo" hay "thị sát" kiểu này là liền sau đó kéo theo một đống phiền phức động trời. Hắn nhỏ giọng, cố gắng khuyên can:
"Bệ hạ. Ngài đi thật sao? Chỉ có ba người chúng ta thôi ạ?"
Dương Quảng gật đầu cái rụp, nở một nụ cười vô cùng chân thành và rạng rỡ:
"Ừ. Ngươi với Trương Tu Đà đi cùng Trẫm là được rồi. Ít người thôi, lỡ như trên đường có xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn, Trẫm cũng đỡ phải mất công lo lắng cho tính mạng của hai ngươi."
Triệu An nghe xong câu đó thì hoàn toàn chết lặng tại chỗ. Đúng lúc này, Trương Tu Đà vừa bước chân vào cửa phòng cũng đứng hình mất năm giây, trong mắt hai vị đại thần Cẩm Y Vệ đều hiện lên một dấu chấm hỏi lớn to đùng. Triệu An nuốt nước bọt, cố gắng giãy giụa thêm một lần cuối:
"Bệ hạ. Nếu trên đường thật sự gặp phải thích khách võ công cao cường..."
Dương Quảng lập tức đứng bật dậy, chỉ tay vào ngực mình rồi chỉ vào từng người một cách rành mạch:
"Trẫm. Ngươi. Hắn. Ba người chúng ta đi ra ngoài, trong đó có hai người các ngươi là cao thủ hàng đầu của Cẩm Y Vệ, còn một người là Hoàng đế võ công cao cường. Thể chất của Trẫm mạnh đến mức nào các ngươi không biết sao, cơ bản là không giống người bình thường rồi. Lại thêm ngày đêm luyện Thiên Khải Cửu Dương Công, Hàng Long Thập Bát Chưởng và Vân Long Kích. Nếu đội hình như vậy mà còn bị thích khách tùy tiện giết chết, vậy thì cái thiên hạ này nên đổi triều đại khác là vừa rồi. Hơn nữa, nếu thật sự gặp thích khách, ngươi cứ đứng phía trước che chắn, Trẫm đứng phía sau quan sát. Đợi đến khi ngươi đánh không lại nữa, Trẫm mới ra tay!!!"
Trương Tu Đà và Triệu An nghe xong lời phân tích đầy "bá đạo" này thì chỉ biết câm nín, biểu cảm trên khuôn mặt vô cùng phức tạp, vừa muốn khóc lại vừa muốn cười.
Một lúc sau, chiếc xe ngựa bình dân của họ đã lăn bánh trên đường phố. Từ trong xe ngựa, giọng nói của Dương Quảng lại vang lên đầy tự tin, kèm theo tiếng cười lớn chấn động:
"Haha! Hai người các ngươi cứ yên tâm. Trẫm bây giờ thần công cái thế, thiên hạ vô song. Nếu thật sự có chuyện gì xảy ra, ta sẽ ra tay bảo vệ hai ngươi. Hahahahahaha!"
Hai vị hộ vệ ngồi ở càng xe phía ngoài nhìn nhau, bất lực thở dài. Họ thầm nghĩ, nếu ngay dưới chân thiên tử, ngay tại kinh thành Trường An này mà còn đầy rẫy thích khách đến mức Hoàng đế phải ra tay, vậy thì Dương Tố nên tự đi nộp mình cho Bộ An Ninh vì tội bất tài vô dụng là vừa. Họ chỉ biết im lặng tập trung đánh xe, nghiêm túc suy nghĩ xem nếu lát nữa gặp thích khách thật, thì làm thế nào để bảo vệ vị "cao thủ tuyệt thế" đang nằm dài hưởng thụ trong xe này cho thật tốt.
Chiếc xe ngựa bọn họ đi vô cùng bình thường, bên ngoài phủ một lớp vải thô màu xanh xám, hoàn toàn không có long kỳ hay nghi trượng hoàng gia nào, chầm chậm dừng lại ở một góc phố náo nhiệt, đông đúc người qua lại. Dương Quảng tự tay vén rèm xe bước xuống, hít một hơi lạnh buốt giá của mùa đông vào lồng ngực, cảm thấy vô cùng dễ chịu. Hắn phủi phủi vạt áo thường phục bằng gấm thêu đơn giản, tuyên bố:
"Chúng ta đi bộ đi, đi bộ mới thấy rõ được dân tình sống thế nào."
Triệu An vừa bước xuống xe, theo thói quen định khom lưng hành lễ liền bị Dương Quảng nhanh tay lẹ mắt chặn lại, trừng mắt ra hiệu:
"Từ giờ trở đi không được gọi hai từ Bệ Hạ nữa. Ta đang thường phục vi hành. Cho nên, cái tên sử dụng bây giờ của ta là... Dương... Quá."
Trương Tu Đà chớp chớp mắt, khuôn mặt ngơ ngác hỏi lại:
"Xin hỏi công tử. Là chữ Quá nào ạ?"
Dương Quảng cười ha hả đầy đắc ý, khoanh tay trước ngực:
"Quá trong quá giang. Quá trong đi ngang qua. Và cũng là Quá trong không muốn làm việc, lười biếng qua ngày. Hahahahaha! Nhớ kỹ cho Trẫm, lát nữa nếu có gặp quan viên, thương nhân, thế gia hay thậm chí là thích khách, ta đều là Dương Quá. Cứ gọi ta là Dương công tử."
Đúng lúc này, trong đầu Dương Quảng, âm thanh lạnh lùng đầy tính chế giễu của Hệ thống bỗng nhiên vang lên:
[Ký chủ. Người tên thật là Dương Quảng mà lại đi giả danh thành Dương Quá, thực ra nghe còn đáng ngờ và dễ bị liên tưởng hơn đấy.]
Dương Quảng nghe xong thì đứng sững mất ba giây, nụ cười trên môi tắt ngấm. Hắn tự lẩm bẩm trong ý thức của mình: "Mẹ nó. Hình như cái Hệ thống này nói có lý."
Triệu An và Trương Tu Đà nhìn vị "Dương công tử" nhà mình cứ đứng đực mặt ra giữa phố, tự cãi nhau với không khí trong đầu, chỉ biết nhìn nhau lắc đầu ngao ngán. Nhưng họ cũng thầm nghĩ, may mà thiên hạ này không ai biết đây chính là Hoàng đế đương triều, nếu không thì thể diện quốc gia mất sạch.
Bỗng nhiên, từ phía ngã tư đường lớn phía trước vang lên tiếng huyên náo bần bật, tiếng quát tháo cãi vã đan xen vào nhau. Một vòng tròn người dân hóng chuyện nhanh chóng hình thành, vây kín cả một khoảng đường. Dương Quảng nghe thấy động tĩnh thì hai mắt sáng lên như đèn pha, lập tức dắt theo hai tên hộ vệ chen thẳng vào đám đông để xem náo nhiệt.
Giữa đường, một thương nhân vận chuyển hàng hóa bằng xe đẩy và một đội xe chở vật liệu xây dựng đá tảng đang lao vào đối đầu gay gắt với nhau. Do lấn đường, hai bên đã va quệt làm đổ nhào hàng hóa của nhau xuống đất, gạch đá và bao hàng văng vương vãi tung tóe, nhưng chẳng ai chịu nhường ai, cứ đứng chỉ tay vào mặt nhau mà cãi cố.
Triệu An thấy tình hình có vẻ căng thẳng, nhỏ giọng ghé tai Dương Quảng hỏi xem có cần gọi người đến ngăn cản hay không. Dương Quảng khoanh tay trước ngực, lắc đầu ra hiệu:
"Không vội. Xem trước một chút đi, để xem cái bộ máy Thiên Khải của chúng ta có thực sự tự chạy được khi không có Trẫm hay không."
Vừa dứt lời, từ phía xa, ba người đàn ông mặc đồng phục gọn gàng của Bộ An Ninh đã rẽ đám đông chạy tới. Người đi đầu quát lớn một tiếng đầy uy nghiêm:
"Dừng tay! Giữa ban ngày ban mặt, ngay tại kinh thành, ai cho phép các ngươi tụ tập gây rối trật tự?"
Người đội trưởng Bộ An Ninh lập tức rút từ bên hông ra một cuốn sổ nhỏ và bút mực, bình tĩnh đứng lắng nghe hai bên tường trình lại sự việc. Hắn cúi đầu nhìn kỹ dấu bánh xe hằn trên nền đất, xem xét hiện trường rồi đưa ra phán quyết vô cùng dứt khoát:
"Bên xe chở đá lấn tuyến trước, đền tiền tổn thất hàng hóa cho bên kia. Cả hai bên xin lỗi nhau một tiếng rồi thu dọn hiện trường. Nếu không đồng ý với mức phân xử này, ngày mai tất cả lên nha môn giải quyết. Sao? Muốn như nào?"
Mấy gã thanh niên phu xe đang nóng tính, vừa nhìn thấy ba chữ Bộ An Ninh thêu trên ngực áo của quan sai, lại nghe lời phân xử thấu tình đạt lý thì lập tức ngoan ngoãn như mèo con. Họ tự giác móc tiền túi ra đền bù, xin lỗi nhau rồi nhanh chóng giải tán đám đông, đường xá lại thông thoáng. Không ai bị đánh đập vô lý, không ai phải chịu oan ức, cũng chẳng cần lôi nhau lên công đường làm lớn chuyện.
Dương Quảng nhìn theo bóng dáng ba người lính Bộ An Ninh đang tiếp tục đi tuần tra rời đi, khóe miệng nhếch lên thành một nụ cười đầy vui vẻ, khẽ nói với Triệu An:
"Ta phát hiện ra một chuyện rồi nha. Bộ máy của chúng ta thật sự đang tự chạy rồi a."
Tận mắt nhìn thấy một vụ xô xát nhỏ, dễ gây xung đột giữa phố được giải quyết một cách ổn thỏa, nhanh chóng bởi những người thi hành công vụ làm đúng phận sự của mình mà không cần đến một tờ thánh chỉ nào, cũng chẳng cần thiên tử phải đích thân quyết đoán, đối với Dương Quảng mà nói, đó mới là điều đáng giá và thành công nhất của cuộc cải cách.
Nhưng biến cố chưa dừng lại ở đó. Mấy người của Bộ An Ninh vừa mới quay lưng định đi tiếp, thì từ phía sau đám đông bỗng vang lên một tiếng quát đầy kiêu ngạo, mang theo ngữ khí vô cùng hách dịch:
"Là ai cả gan dám đối đầu, làm khó dễ Dương gia ta ở đây?"
Đám đông người xem lại tự động tách ra làm hai bên. Một gã thanh niên tầm hơn hai mươi tuổi bước tới. Gã này có dung mạo khá tuấn tú, khí chất nho nhã, ăn mặc sang trọng, nhìn qua là biết người đọc sách có học thức. Người đội trưởng Bộ An Ninh quay lại, nhíu mày nhìn gã, lạnh giọng yêu cầu tránh đường để không cản trở lối đi. Tên thanh niên thấy vậy liền lấn tới một bước, chỉ tay vào đoàn xe chở đá tảng vừa rồi, vênh váo nói:
"Đoàn thương buôn chở vật liệu này là của Dương gia ta. Bác ruột của ta chính là đương kim Bộ trưởng Bộ An Ninh Dương Tố!"
Triệu An và Trương Tu Đà đứng bên cạnh nghe xong câu đó thì suýt chút nữa là cắn phải đầu lưỡi của chính mình. Hai người họ đồng loạt quay sang nhìn người họ Dương lớn nhất, có quyền lực tối cao nhất Đại Tùy đang đứng ngay cạnh mình.
Người đội trưởng Bộ An Ninh nghe thấy cái tên Dương Tố thì sắc mặt vẫn không hề thay đổi, lạnh nhạt đáp lại một câu:
"À thì ra là người nhà của Bộ trưởng. Vậy thì lại càng tốt!!! Bọn ta đang làm nhiệm vụ, đừng cản đường công vụ của chúng ta."
Tên thanh niên bị chặn họng, sắc mặt đỏ bừng lên vì xấu hổ trước mặt đám đông. Nhưng khi gã nhìn kỹ lại bộ đồng phục đặc trưng của Bộ An Ninh, nhìn vào huy hiệu trên ngực áo người đội trưởng, gã lập tức thay đổi thái độ một cách chóng mặt. Gã hạ tay xuống, chắp tay làm lễ, giọng điệu dịu đi hẳn:
"Xin lỗi vị đại ca này. Là ta hiểu lầm sự việc. Gia huấn của Dương gia chúng ta quy định rất rõ: Nếu gặp người của Bộ An Ninh đang thi hành nhiệm vụ thì tuyệt đối không được cản trở, không được dùng quan hệ gia tộc để ép người. Nếu đúng là người của Dương gia gây chuyện trước, ta thay mặt gia tộc thành thật xin lỗi các vị."
Nói xong, gã tự tay móc tiền túi từ trong ngực áo ra, bồi thường thêm cho người thương nhân kia một khoản bạc nhỏ để sửa sang lại xe đẩy. Dương Quảng đứng trong góc nhìn toàn bộ quá trình, thầm khen trong lòng rằng Dương Tố dạy dỗ hậu bối trong nhà cũng không đến nỗi tệ, biết nhìn nhận thời thế. Hắn liền bước lên một bước, lên tiếng hỏi:
"Này vị công tử kia, ngươi tên là gì?"
Thanh niên quay sang nhìn Dương Quảng, thấy khí độ của hắn bất phàm liền chắp tay đáp:
"Ta tên Dương Huy."
Dương Quảng cười híp cả mắt, gật đầu:
"Không tệ, thật sự không tệ."
Dương Quảng chắp hai tay sau lưng, chậm rãi đi vòng quanh Dương Huy, nhìn gã từ đầu đến chân bằng ánh mắt đầy hứng thú như đang ngắm một món đồ chơi lạ đời, khóe môi khẽ nhếch lên đầy tinh quái:
"Để ta nói cho ngươi biết, ta chính là không thích cái cách mà ban đầu ngươi vừa mới bước ra liền lên giọng hách dịch, coi trời bằng vung như thế. Dương Huy đúng không, ta là Dương Quá. Hôm nay ngẫu nhiên gặp gỡ, ta muốn cùng ngươi luận đạo một chút. Ngươi nói xem: Vương đạo là cái gì?"
Dương Huy nghe câu hỏi to gan lớn mật này thì ngẩn người ra một lúc, nhưng nhìn khí chất bất phàm của đối phương, gã vẫn cố lấy lại dáng vẻ oai nghiêm của một công tử thế gia, nghiêm túc định lên tiếng đáp lời để lấy lại thể diện:
"Vương đạo là..."
BỐP!
Một cái tát vang dội, dứt khoát không một chút do dự lập tức giáng thẳng vào sau đầu Dương Huy, lực mạnh đến mức làm gã loạng choạng, suýt nữa cắm mặt xuống đất. Cả con phố đang đứng xem đồng loạt vang lên tiếng hít một hơi khí lạnh, đám đông há hốc mồm ngơ ngác. Dương Quảng chống hai tay vào nạnh, trợn mắt mắng mỏ như đúng rồi:
"Sai bét! Vương đạo là g-iết người phóng hỏa đai lưng vàng, đứa nào không nghe lời liền giết sạch!"
Dương Huy hai tay ôm lấy cái gáy đau điếng, mắt nổ đom đóm, chưa kịp hoàn hồn thì bóng đen của Dương Quảng đã lại lấn tới một bước, dí sát mặt vào hỏi tiếp với vẻ hằm hằm:
"Ta lại hỏi ngươi, bá đạo là cái gì?"
Dương Huy mồ hôi hột tuôn ra như tắm, sợ hãi đến mức run rẩy lắp bắp, vừa nói vừa rụt cổ lại:
"Là... là lấy lực lượng quân đội mạnh mẽ..."
BỐP!
Một cú tát thứ hai đau xoắn cả ruột gan giáng xuống không một chút báo trước. Dương Quảng gầm lên, làm bộ thất vọng tràn trề:
"Lại sai! Là người nghe lời ngươi cũng giết không tha!!!"
Dương Huy lúc này đầu óc đã bắt đầu bốc khói nghi ngút, uất ức đến nghẹn họng, hai tai ù đi vì hai cú tát liên hoàn. Dương Quảng lại không có ý định buông tha, tiếp tục lấn sát tới hỏi dồn dập với tốc độ như súng liên thanh:
"Thế Nho đạo là gì?"
Dương Huy bỗng thấy mắt mình sáng lên, gã dù gì cũng là người mài quần trên ghế mười mấy năm đọc sách thánh hiền, cái này chuẩn bài tủ, không thể sai được nữa rồi:
"À, cái này ta biết! Là tu thân, tề gia, trị..."
BỐP!
"Ngươi không biết đâu!" - Dương Quảng thẳng tay tát thêm một phát nữa, giọng mắng vô cùng hùng hồn: "Nho đạo là bảo ngươi đi về nhà rửa sạch cổ chờ ta!!!"
Dương Huy ú ớ, hai dòng nước mắt ấm ức đã bắt đầu chực trào ra vì vừa đau vừa nhục. Hắn quýnh quáng lùi lại, nhìn kẻ trước mặt giống như nhìn thấy một tên hung thần ác sát:
"Ngươi... ngươi..."
"Thế Thiên đạo là gì?"
Thấy cái tay của Dương Quảng lại vừa mới nhấc lên, Dương Huy hoảng loạn tột độ, giơ cả hai tay lên đầu che chắn, vỡ giọng hét lớn:
"Đừng đánh nữa!!!"
BỐP!
"Hét cái gì mà hét!" - Dương Quảng vả thẳng vào cánh tay đang đỡ của gã, dõng dạc lên tiếng: "Là ta đại diện cho chính nghĩa tuyệt đối để đến tiêu diệt ngươi!"
"Ngươi, ngươi, ngươi..." - Dương Huy chỉ tay vào Dương Quảng, toàn thân run rẩy như cầy sấy trước thứ "logic" điên rồ này.
"Địa đạo là gì?"
Dương Huy khóc không thành tiếng, lắc đầu nguầy nguậy như con lật đật:
"Ta không biết! Ta không biết cái gì hết!"
BỐP!
"Ngu dốt!" - Dương Quảng bồi thêm một cú tát như trời giáng, thuận tay chỉnh lại vạt áo của mình: "Là ta bảo ngươi chết canh ba, Diêm Vương không dám lưu ngươi đến canh năm!!!"
Dương Quảng áp sát, bóng hắn đổ dài đè nặng lên gã công tử đang hoàn toàn suy sụp về cả thể xác lẫn tinh thần:
"Thế Phật đạo là gì hả?"
Dương Huy mặt cắt không còn một giọt máu, tinh thần hoàn toàn hoảng loạn, lắp bắp một cách vô vọng:
"Ta... ta... ta..."
BỐP!
"Lắp ba lắp bắp, mất thời gian!" - Dương Quảng tát thêm phát nữa cho cân hai bên má. Đoạn hắn chắp tay lại…
"A Di Đà Phật! Để bần tăng tiễn ngươi đi Tây Thiên gặp Phật Tổ!!!"
Dương Huy ôm chặt lấy cái đầu sưng vù như bị ong chích, tức đến nổ đom đóm mắt, uất hận tột cùng gào lên vang dội cả con phố:
"Ngươi không nói lý!!!!!!"
BỐP!
Dương Quảng không nói hai lời, thẳng tay tát thêm phát cuối cùng, lực đạo chuẩn xác đánh cho Dương Huy ngã nhào ra đất, lăn lộn mấy vòng.
Đoạn, hắn thong thả phủi phủi hai bàn tay vừa vỗ bôm bốp, phất mạnh tà áo rộng một cái xoay người đầy oai phong, cười toe toét nói to đầy sảng khoái:
"Yêu ngôn hoặc chúng!!! Làm gì có đạo lý nào như thế. Ta chỉ là muốn đánh ngươi thôi a!"
Dương Quảng quay lưng, nghênh ngang bỏ đi trước với dáng vẻ của một kẻ vừa được giãn gân cốt vô cùng sảng khoái. Triệu An và Trương Tu Đà lập tức nhanh chân chạy theo sau để bảo vệ.
Vừa đi được một đoạn xa, thoát khỏi tầm mắt của đám đông đang tụ tập, hai tên hộ vệ Cẩm Y Vệ này bỗng nhiên nổi hứng tinh nghịch, nhìn nhau cười gian xảo rồi bắt đầu kẻ tung người hứng, vừa đi vừa diễn lại toàn bộ hành động vừa rồi của Hoàng đế một cách vô cùng sinh động.
Triệu An nhảy chồm lên trước, múa may quay cuồng tay chân giữa đường, giả giọng trầm thấp của Dương Quảng rồi vung tay vỗ bôm bốp vào không khí:
"Vương đạo là g-iết người phóng hỏa đai lưng vàng, đứa nào không nghe lời liền giết sạch! BỐP!"
Trương Tu Đà lập tức lách người lên phối hợp, gã bóp mũi giả giọng khóc lóc uất ức của Dương Huy: "Ngươi không nói lý lẽ!", rồi tự xoay người đóng vai Dương Quảng, vung tay vả mạnh: "Bá đạo là đến cả người nghe lời cũng giết luôn! BỐP!"
Hai tên cứ thế vừa đi vừa diễn kịch câm giữa phố, cười hố hố với nhau đầy đắc chí:
"Thiên đạo là ta đại diện chính nghĩa diệt ngươi! BỐP!"
"Nho đạo là bảo ngươi về nhà rửa sạch cổ chờ sẵn đi! BỐP!"
"Địa đạo là chết canh ba không lưu canh năm! BỐP!"
"Phật đạo là ta tiễn ngươi đi gặp Phật tổ sớm! A Di Đà Phật, BỐP!"
Tiếng cười "Hahahahaha!" của hai gã hộ vệ vang dội cả một góc đường.
Dương Quảng đi phía trước nghe tiếng động quay đầu lại, nhìn thấy hai thuộc hạ cao to lực lưỡng, mặt mũi nghiêm nghị thường ngày giờ đang uốn éo, kẻ tung người hứng như hai tên hề dạo chợ thì chỉ biết cạn lời, bất lực đỡ trán ho khan một tiếng.
Người qua đường xung quanh nhìn ba cái người đàn ông này bằng ánh mắt vô cùng kỳ dị, ai nấy đều vội vàng né ra xa, thì thầm to nhỏ như thể bọn họ vừa mới uống nhầm phải rượu mạnh Thiên Khải nồng độ cao của triều đình nên đầu óc bị chập mạch, lên cơn điên giữa thanh thiên bạch nhật.
Dương Quảng bỗng nhiên dừng chân lại, chống hai tay vào nạnh, vẻ mặt đầy bực tức và tức tối hỏi hai tên thuộc hạ:
"Mà này, sao ta cứ thấy cái tên Dương Huy vừa rồi, ánh mắt hắn nhìn ta cứ như thể đang gọi ta là một lão già thế nhỉ? Trẫm năm nay tính ra mới có hai mươi hai tuổi đầu thôi mà?"
Triệu An hít một hơi thật sâu lấy dũng khí, nhìn Hoàng đế rồi thản nhiên đáp một câu chí mạng:
"Bởi vì Bệ Hạ mỗi lần mở miệng ra là toàn nói chuyện kiểu Hoa Hạ vạn thế, quốc gia đại kế. Cái dáng vẻ nói chuyện của ngài giống hệt mấy cụ già năm mươi tuổi vậy. Thần nói thật, lúc ngài luận đạo với Khổng tiên sinh lần trước, thần đứng bên cạnh nhìn còn tưởng ngài là tổ tiên mấy đời nhà người ta hiện hồn về nhập vào vậy á."
Đúng lúc này, giao diện của Hệ thống trong đầu Dương Quảng cũng hiện lên một biểu tượng mặt cười cợt đầy trêu chọc, khiến hắn cứng họng hoàn toàn, không thể tìm được lời nào để phản bác lại hai kẻ này.
Đêm hôm đó, tại đại bản doanh tổng bộ Cẩm Y Vệ kinh thành, bầu không khí dưới ánh đèn dầu có chút kỳ quái. Triệu An và Trương Tu Đà nhất quyết ngồi bắt tên thư lại của bộ phận hồ sơ phải mài mực, viết lại toàn bộ nội dung buổi luận đạo giữa đường phố ban ngày hôm nay của Hoàng Đế để lưu vào hồ sơ mật tối cao.
Tên thư lại tội nghiệp vừa cầm bút lông viết mà tay vừa run lẩy bẩy, khuôn mặt xanh mét, ngẩng đầu nhỏ giọng hỏi:
"Đại nhân... việc... việc Hoàng Đế đại nhân ra tay đánh người như vậy, cũng được tính là luận đạo sao?"
Triệu An lập tức đập mạnh tay xuống bàn cái "rầm", quả quyết khẳng định:
"Đương nhiên là tính rồi! Cái đó gọi là luận trong luận võ, dùng nắm đấm để nói chuyện, chứ tuyệt đối không phải là cái loại luận trong luận trong luận văn suông của mấy lão hủ nho đâu nha!"
Nói xong, Triệu An giật lấy cây bút, trịnh trọng viết dòng chữ tổng kết to đùng vào cuối trang hồ sơ:
Thiên Khải Đế từng dạy: Yêu ngôn hoặc chúng. Làm gì có đạo lý như thế. Ta đây đơn giản là muốn đánh ngươi. Luận trong luận võ, chứ không phải luận trong luận văn a!
Đúng lúc này, Dương Quảng vô tình đi ngang qua thư phòng, tò mò ghé đầu vào đọc được bản thảo hồ sơ này liền đứng hình mất ba giây tại chỗ. Hắn đen mặt hỏi Triệu An:
"Ngươi có biết cái thứ này mà để cho mấy lão sử quan sau này nhìn thấy, thì hậu thế đời sau sẽ tưởng Trẫm là một vị Hoàng Đế bị điên hay không?"
Triệu An chắp hai tay trước ngực, khuôn mặt tràn đầy vẻ chân thành và nghiêm túc đáp lại:
"Thần cảm thấy, hậu thế đời sau nên biết rõ sự thật về tính cách của Bệ Hạ."
Đêm hôm đó, trong tổng bộ Cẩm Y Vệ vang lên những tiếng cười trừ đầy đau khổ của hai vị đại nhân, còn Thiên Khải Đế thì lạnh lùng đưa ra quyết định cắt toàn bộ tiền thưởng tháng này của hai người bọn họ.
Chớp mắt một cái, thời gian trôi nhanh, thiên hạ đã bước sang tháng 12.
Một tháng 12 của năm Thiên Khải nguyên niên không hề yên tĩnh một chút nào. Giống như tất cả các triều đại trước đó trong lịch sử, đây là thời điểm giữa mùa đông khắc nghiệt nhất. Tuyết rơi dày đặc đầy trời, những bông tuyết to bằng lòng bàn tay đổ xuống trắng xóa khắp nơi, phủ một màu trắng từ vùng Quan Trung kéo dài cho đến tận Liêu Đông xa xôi.
Thông thường, thời tiết bão tuyết kinh khủng này sẽ ngăn chặn hoàn toàn dòng chảy kinh tế, giao thông tê liệt, và điều đáng sợ nhất là nó sẽ khiến cho người dân nghèo bị chết rét hàng loạt vì thiếu áo ấm, thiếu than sưởi. Nhưng năm nay, dưới thời đại Thiên Khải, cảnh tượng đó lại hoàn toàn biến mất. Toàn bộ cỗ máy Đại Tùy đang hoạt động mạnh mẽ, sôi động hơn bao giờ hết nhờ vào hệ thống Hỏa Kháng giữ ấm cải tiến được lắp đặt đến từng nhà dân, cùng với các Đội phòng chống thiên tai của triều đình tuần tra ngày đêm không nghỉ.
Vẫn có người chết trong mùa đông này, nhưng họ là chết vì tai nạn lao động, chết già vì tuổi cao, chết vì bạo bệnh, chứ tuyệt đối không hề xuất hiện bất kỳ một ca tử vong nào do bị chết rét ngoài đường. Ngoài kia, từng đoàn lao công vẫn ngày đêm hăng say đào Đại Vận Hà, từng tốp quân đội tinh nhuệ vẫn đang thi công tuyến Quốc lộ dưới làn tuyết rơi mà không hề dừng lại một giây nào.
Tại Đông Cung ấm áp, hơi nóng từ những lò sưởi bằng đồng khẽ lan tỏa, xua đi cái lạnh buốt giá của mùa đông. Dương Quảng đứng chắp tay bên ô cửa sổ, ánh mắt thâm trầm dõi theo từng bông tuyết rơi trắng xóa, phủ một màn bạc lên khoảng sân rộng. Hắn im lặng đứng đó rất lâu, bóng lưng cô độc nhưng toát lên uy nghiêm của một bậc chí tôn đang gánh vác cả giang sơn.
Đoạn, hắn quay người lại, đặt chén trà xuống, thanh âm bình tĩnh ra lệnh:
"Đưa thánh chỉ này đến Nội Các xem xét ban hành."
Triệu An đang đứng ngoài cửa, nghe xong sắc mặt dần trở nên nghiêm túc. Không còn vẻ đùa giỡn, cợt nhả như lúc cùng Hoàng Đế vi hành trên phố, gã chắp tay thật sâu, khom người cung kính:
"Thần lĩnh chỉ."
Dương Quảng nhìn tuyết rơi ngoài sân, chậm rãi đọc từng chữ trong đạo nghị định vừa tự tay viết xong:
"Trẫm quyết định, mỗi một địa phương, mỗi một tỉnh, mỗi một huyện trên khắp Đại Tùy phải thành lập ngay một nghĩa trang liệt sĩ chính thức. Toàn bộ quân nhân tử trận, toàn bộ người hy sinh vì quốc gia, toàn bộ người bỏ mình trong khi thi hành công vụ... đều phải được ghi danh, đều được an táng và đều phải có bia mộ rõ ràng."
Hắn nhấn mạnh, giọng nói vang vọng khắp điện:
"Nếu tìm được quê quán, hãy đưa anh linh của họ về với quê hương, tập trung an táng theo từng quê quán để người đời sau hương hỏa thờ phụng đời đời. Nếu không tìm được tên tuổi, trên bia mộ thống nhất khắc bốn chữ: Liệt Sĩ Đại Tùy, an táng tại nghĩa trang liệt sĩ địa phương."
Triệu An nghe đến đây, bờ vai khẽ run lên vì chấn động. Dương Quảng tiến lên một bước, thanh âm đanh thép:
"Người sống có nhà, người chết cũng phải có nhà! Tuyệt đối không được để những anh linh vì giang sơn này mà ngã xuống, cuối cùng lại thành cô hồn dã quỷ lang thang nơi đất khách quê người."
Không khí trong phòng bỗng chốc rơi vào khoảng lặng thiêng liêng. Dương Quảng điềm nhiên tiếp tục:
"Đồng thời, từ giờ cho đến trước Tết, các thành viên của hoàng thất, từ Trẫm trở xuống, có trách nhiệm phải đích thân đi tới tận các địa phương để tế bái nghĩa trang, thăm hỏi thương bệnh binh và động viên gia quyến liệt sĩ. Hãy nhớ kỹ: Đây không phải là ban ơn thưởng, đây chính là bổn phận của Dương gia chúng ta!"
Triệu An cúi đầu thật sâu, hốc mắt đã đỏ hoe tự bao giờ:
"Thần lĩnh mệnh."
"Còn một việc nữa." Dương Quảng ngoảnh lại nhìn gã. "Toàn bộ chi phí cho việc này tuyệt đối không được trích một xu nào từ Quốc khố, mà lấy toàn bộ từ Nội khố cá nhân của Trẫm. Nội khố là tiền riêng của Trẫm. Nếu ngay cả một khoản tiền tri ân như thế này mà Trẫm cũng tiếc không bỏ ra được, vậy Trẫm giữ đống tiền vàng đó trong kho để làm cái gì?"
Ngoài cửa sổ, tuyết vẫn đang rơi. Triệu An quỳ sụp xuống nền đất lạnh, lần này không phải vì lễ nghi ràng buộc, mà là vì sự kính trọng tột cùng từ tận đáy lòng. Gã bỗng nhớ tới rất nhiều người, những binh sĩ vô danh đã chết nơi biên cương hoang lạnh, những bộ xương khô nằm lại nơi đất khách quê người mà chẳng ai nhớ mặt gọi tên. Từ trước đến nay, các triều đại coi họ như cỏ rác, nhưng hôm nay, vị Thiên Khải Đế này lại nhớ tới họ.
"Thần thay mặt cho anh linh của hàng vạn người đã khuất... tạ Bệ hạ!"
Dương Quảng khoát tay:
"Không cần tạ Trẫm. Người xứng đáng được tạ là những người nằm dưới bia đá kia, không phải kẻ đang ngồi uống trà ở đây."
Một lúc sau, Triệu An cầm thánh chỉ rời đi, băng qua hành lang phủ tuyết tiến thẳng về phía nha môn Nội Các. Gã biết, nếu nghị định này được thông qua, từ nay về sau Đại Tùy sẽ có thêm một danh xưng duy nhất, tôn nghiêm và bất tử: Liệt Sĩ.
Triệu An vừa mang thánh chỉ tới Nội Các, tốc độ lưu thông chính lệnh của Thiên Khải triều lập tức vận hành với một vận tốc kinh hoàng, nhanh đến mức không ai có thể lường trước được.
Bùi Uẩn đọc xong, im lặng rất lâu.
Khổng Dĩnh Đạt đọc xong, cũng im lặng rất lâu.
Dương Tú nhìn dòng chữ ngự bút, sống lưng bỗng chốc cứng đờ.
Đúng lúc đó, Triệu An đứng bên cạnh ho khan một tiếng, nhắc nhở:
"Các vị đại nhân, Bệ hạ còn căn dặn, nếu xác nhận được quê quán, bằng mọi giá phải đưa họ về quê an táng, để hương hỏa đời đời."
Ba người lại rơi vào trầm mặc. Một lúc sau, Bùi Uẩn mới khẽ thở dài, dứt khoát cầm lấy con dấu:
"Ban hành đi."
Khổng Dĩnh Đạt ngẩng đầu: "Không chỉnh sửa? Không đưa ra thảo luận sao?"
"Không cần." Bùi Uẩn nhìn ra ngoài trời tuyết, chậm rãi đáp. "Bên dưới văn kiện này là máu xương của những người giữ cho chúng ta ngồi được ở đây. Đây là đạo chính lệnh hiếm hoi trong lịch sử mà toàn thiên hạ này, từ quan tới dân, tuyệt đối không một ai muốn phản đối."
Thánh chỉ được đóng ấn triều đình, tức tốc truyền đi. Lần đầu tiên trong lịch sử Đại Tùy, một đạo chính lệnh được lưu hành không phải bằng sức ngựa, không phải bằng xe cộ, mà bằng thứ còn nhanh hơn thế gấp vạn lần: Lòng người.
Một lão binh cụt tay ở góc phố nghe tin, ôm mặt khóc nghẹn ngào. Một bà lão mất con nơi biên thùy nghe tin, nước mắt lã chã rơi. Một góa phụ trẻ ôm con nhỏ vào lòng, khóc nấc lên thành tiếng. Tin tức cứ thế lan truyền từ làng này sang làng khác, từ huyện này sang huyện khác mà không cần quan phủ thúc ép, bởi vì mỗi một ngôi nhà đều có người thương, mỗi một trái tim đều có một linh hồn không muốn bị lãng quên.
Cùng ngày hôm đó, thánh chỉ vừa được ban hành liền được chuyển thẳng tới Bộ Quốc Phòng.
Thời gian gần đây, người đời dường như ít nghe nhắc tới cái tên Cao Quýnh. Không phải vì vị đại thần khai quốc này không còn được trọng dụng, mà là vì ông quá bận. Với tư cách là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Ủy viên Ban Chấp Hành Quân Ủy Đại Tùy, Cao Quýnh đang phải quay cuồng từ sáng tới tối với núi công văn và bản đồ trải kín cả căn phòng. Nào là phối hợp điều động quân đội đào kênh, huấn luyện quân đoàn mới, luân chuyển binh sĩ cho dự án Thiên Khải Quốc Lộ, cho đến việc lo hậu cần và bảo vệ biên phòng phương Bắc... Ông gần như không có một giây phút nào để nghỉ ngơi.
Khi vị thư lại bước vào, đặt phần chính lệnh mới lên bàn, Cao Quýnh chỉ khẽ gật đầu, thuận tay mở ra xem. Ban đầu, ông chỉ định đọc lướt qua theo thói quen chính vụ, thế nhưng càng đọc, tốc độ lật giấy của ông càng chậm lại.
Đọc đến đoạn xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, ông khựng người.
Đọc đến đoạn đưa anh linh về lại quê hương, ông từ từ đặt văn kiện xuống.
Đọc đến bốn chữ "hương hỏa đời đời", bàn tay già nua từng cầm đao kiếm của vị lão tướng bỗng chốc run lên bần bật. Trong tâm trí ông, tầng tầng lớp lớp những khuôn mặt của những binh sĩ từng theo ông vào sinh ra tử, từng ngã xuống dưới trướng ông nơi biên cương hoang lạnh bỗng chốc hiện về rõ mồn một. Khi còn sống, họ chỉ là một cái tên vô danh trong cuốn sổ quân tịch dày cộp; khi chết đi, họ cũng chỉ là một con số lạnh lùng trong bản báo cáo tổn thất chiến trường.
Cao Quýnh nhìn tuyết rơi trắng xóa ngoài cửa sổ, khẽ thở dài một tiếng dở khóc dở cười, lẩm bẩm:
"Bệ Hạ... Người thật là..."
Vị Hoàng Đế trẻ tuổi ấy luôn nghĩ tới những chuyện mà người khác không bao giờ dám nghĩ, dám làm. Người sống hắn lo chu toàn, đến người chết hắn cũng quản đến cùng. Một lúc lâu sau, Cao Quýnh mới cầm bút, mạnh mẽ viết xuống cuối văn kiện một dòng chữ dứt khoát: “Bộ Quốc Phòng hoàn toàn ủng hộ!”, rồi đóng ấn thông qua, không sửa một chữ.
Cùng thời điểm đó, tại một doanh trại công binh gần công trường Đại Vận Hà, một quân sĩ trẻ tuổi đọc được bản sao chính lệnh, hai mắt bỗng chốc đỏ hoe. Một lão binh ngồi bên cạnh bị mất hai ngón tay thấy lạ bèn gạn hỏi:
"Này tiểu tử, trên đó viết cái gì mà trông ngươi như sắp khóc thế?"
Người trẻ tuổi không nói gì, lặng lẽ đưa tờ giấy sang. Lão binh đón lấy đọc. Đôi mắt mờ đục quét qua từng dòng chữ, lồng ngực gầy guộc của ông đột ngột phập phồng dữ dội.
Lão binh buông thõng hai tay, ngửa mặt nhìn lên trần lán dã chiến, những giọt nước mắt nóng hổi chầm chậm lăn dài trên khuôn mặt đầy nếp nhăn và những vết sẹo ngang dọc. Ông khóc không thành tiếng, bả vai kịch liệt co giật.
Tên lính trẻ lo lắng hốt hoảng: "Lão huynh, huynh làm sao vậy?"
Lão binh vội quay mặt đi, lấy tay áo thô lau mạnh khoé mắt, giọng nghẹn ngào lạc hẳn đi:
"Không có gì... Ta không sao... Chỉ là, ta còn tưởng cái thân già tàn phế này sau này có nằm xuống dọc đường, cũng chỉ có một tấm chiếu rách bó thây rồi vùi xác bờ bụi thành ma đói... Không ngờ... Không ngờ vị Hoàng Đế đại nhân ở tận Trường An xa xôi kia, lại chừa sẵn cho huynh đệ chúng ta một mảnh đất tử tế để nằm..."
Xa hơn nữa, tại biên cương phương Bắc xa xôi, nơi gió lạnh gào thét và tuyết phủ trắng xóa các doanh trại dã chiến. Một đội tuần tra vừa trở về, bản sao chính lệnh được các binh sĩ chuyền tay nhau đọc dưới ánh lửa sưởi ấm. Không một tiếng xôn xao, chỉ có tiếng hít thở nặng nề vang lên.
Một tên lính trẻ tuổi bỗng ngẩng đầu hỏi vị đội trưởng:
"Đội trưởng... nếu sau này ta có chết, triều đình thật sự sẽ đưa ta về với cha mẹ chứ? Nơi này xa quê quá, ta sợ hồn mình không tìm được đường về..."
Vị đội trưởng đứng bật dậy, bước đến bên tên lính trẻ, đặt bàn tay to lớn, thô ráp lên vai gã. Đôi mắt vị trung niên dạn dày sương gió bấy giờ đã ngập nước, bừng lên một sự xúc động thiêng liêng. Ông nhìn thẳng vào mắt gã thiếu niên, giọng run run nhưng vô cùng kiên định:
"Đừng sợ! Con dấu đỏ của Bệ Hạ đóng ở đây rồi! Triều đình đã hứa, bất kể dặm dài xương máu, bất kể thịt nát xương tan, Bệ Hạ cũng sẽ sai người gom nhặt từng nắm tro tàn, đưa anh em chúng ta về tận bờ ao, gốc đa quê nhà. Cha mẹ ngươi... nhất định sẽ đón được ngươi!"
Chỉ một lời khẳng định ấy như chạm vào tử huyệt trong lòng những gã đại trượng phu biên thùy. Những tiếng nấc nghẹn ngào bắt đầu phá vỡ sự im lặng của căn lều. Họ ôm lấy nhau, những giọt nước mắt đàn ông rơi xuống nền đất tuyết lạnh giá. Ở nơi đầu sóng ngọn gió này, họ chưa từng sợ thanh đao của kẻ thù, thứ duy nhất họ sợ chính là sau khi ngã xuống, bản thân sẽ bị lãng quên như một nắm cát bụi vô danh. Mà ngày hôm nay, Thiên Khải triều đã dõng dạc nói với họ rằng: “Các ngươi hy sinh vì Hoa Hạ, Hoa Hạ vĩnh viễn ghi nhớ các ngươi!”
Trước khi Tết Nguyên Đán cận kề, theo đúng tinh thần của đạo thánh chỉ, các thành viên của Hoàng thất Đại Tùy bắt đầu đồng loạt xuất hành hướng về các địa phương.
Bác Lăng Vương Dương Dũng đi phía đông, Thục Vương Dương Tú hướng về phía tây, Hán Vương Dương Lượng dẫn đoàn đi phía nam, các vị công chúa cũng chia nhau tỏa về các huyện quận lớn nhỏ. Chuyến đi này của hoàng tộc hoàn toàn không có nghi trượng xa hoa, không có nhạc lễ phô trương rầm rộ, chỉ có những cỗ xe ngựa giản dị chở đầy lễ vật, tiền trợ cấp từ Nội khố và những lời thăm hỏi chân thành.
Bởi vì từ trong sâu thẳm, các thành viên hoàng thất đều hiểu rất rõ một điều: Những người lính đang nằm dưới bia đá lạnh lẽo kia là vì ai mà ngã xuống?
Là vì giang sơn Đại Tùy, là vì ngai vàng của Dương gia. Nếu không có xương máu của vạn tướng sĩ, Dương gia không thể ngồi vững trên long ỷ, hoàng thất cũng không thể có được vinh hoa phú quý như ngày hôm nay. Chuyến đi này không phải là ban phát ân huệ, mà chính là đi trả nợ.
Tại một huyện nhỏ nghèo nàn thuộc vùng Quan Trung, một góa phụ trẻ đang ngồi vá áo bên hiên nhà, đứa con trai nhỏ sáu tuổi ngoan ngoãn ngồi bên cạnh học chữ. Đột nhiên, tiếng gõ cửa vang lên, người phụ nữ đứng dậy ra mở cửa liền lập tức sững sờ đến hóa đá. Đứng trước căn nhà tranh rách nát của bà lúc này chính là Bác Lăng Vương Dương Dũng cùng đoàn người hoàng thất.
Người phụ nữ hoảng hốt quỳ sụp xuống: "Bái kiến Vương gia điện hạ..."
Dương Dũng vội vàng cúi người, hai tay đỡ bà dậy. Ánh mắt ông không có nét cao ngạo của hoàng tộc, chỉ có sự thâm trầm, kính cẩn. Ông bước tới bàn, đặt túi tiền vàng tế xuống, rồi tự tay thắp ba nén hương trước linh vị sơ sài của người đã khuất.
Dương Dũng vái ba lạy, quay người lại nhìn người phụ nữ đang đứng run rẩy, giọng ông nghẹn ngào, ấm áp:
"Đại tẩu, ba năm qua triều đình có lỗi với gia đình tẩu. Chồng tẩu mất ở biên cương, ông ấy không phải là một bộ xương vô danh. Bệ Hạ bảo ta tới nói với tẩu: Hắn là công thần của Đại Tùy, là anh hùng của Hoa Hạ! Từ nay về sau, triều đình nuôi con tẩu học hành, phụng dưỡng tẩu đến già. Đại Tùy... vĩnh viễn không quên hắn!"
Chỉ một câu nói ấy đã phá tan mọi u uất gánh vác suốt ba năm ròng rã của người phụ nữ. Bà ôm chầm lấy đứa con trai nhỏ, quỳ sụp dưới chân Dương Dũng khóc nấc lên thành tiếng, những giọt nước mắt tủi hờn và biết ơn tuôn rơi như mưa đổ. Ba năm qua, không một ai đến, không một ai hỏi, bà cứ ngỡ chồng mình chết đi như một con chó hoang nơi sa mạc. Vậy mà hôm nay, một vị Hoàng tử tôn quý lại lạy trước linh vị của chồng bà, trả lại cho hương hồn ông sự tôn nghiêm cao cả nhất.
Ở một vùng quê khác, Thục Vương Dương Tú đang ngồi bệt ngay cạnh chiếc giường tre của một lão binh bị cụt chân. Ông nhìn vết thương tàn phế của lão binh, hốc mắt chợt dâng lên một tầng sương mờ. Dương Tú chủ động nắm lấy bàn tay thô ráp, chằng chịt vết chai của người lính già, khẽ nói:
"Huynh đệ, năm xưa ngươi ở chiến trường phương Bắc, gãy một chân để cản lũ Đột Quyết cứu đại quân, ngươi có hận triều đình không?"
Vị lão binh già ngây người nhìn vị vương gia cao cao tại thượng đang ngồi cạnh mình, môi ông run bần bật, nước mắt chảy ròng ròng vào những nếp nhăn râu tóc, lắc đầu nguầy nguậy:
"Vương gia... Điện hạ... Tiểu nhân... Tiểu nhân chỉ là một tên lính quèn... Sao dám làm phiền ngài..."
Dương Tú lắc đầu, siết chặt tay ông, giọng đầy xúc động:
"Ngươi là đại ân nhân của vương triều này! Không có cái chân này của ngươi, không có máu của những huynh đệ như ngươi, Dương gia chúng ta làm sao có giang sơn ngày hôm nay? Bệ Hạ gửi lời hỏi thăm ngươi, Người nói ngươi mất đi một chân, từ nay triều đình sẽ làm cái chân còn lại cho ngươi gánh vác cuộc đời!"
Lão binh già ôm mặt khóc òa như một đứa trẻ, bao nhiêu cay đắng, tuổi nhục của một phế nhân suốt mười mấy năm qua bỗng chốc được gột rửa sạch sẽ bởi sự công nhận của hoàng quyền.
Ở phía nam, Hán Vương Dương Lượng đang đứng trước một thương binh bị mất đi một cánh tay. Người lính kia cứ liên tục cúi đầu, co rúm người lại vì tự ti, cảm thấy bản thân giờ chỉ là một kẻ phế nhân vô dụng. Thấy vậy, Dương Lượng liền bước tới, ôm chặt lấy bờ vai của gã. Cảm nhận được cơ thể người lính đang run rẩy dưới lớp áo mỏng, Dương Lượng ghé sát tai gã, nói bằng tất cả tấm lòng:
"Nhìn thẳng vào ta! Ngươi mất đi một cánh tay là vì bảo vệ bách tính Đại Tùy, triều đình nợ ngươi một cánh tay! Ngươi còn sống trở về được với gia đình, đối với bổn vương và Bệ Hạ thế là đã đủ lắm rồi! Một cánh tay còn lại của ngươi, chính là niềm tự hào của Dương gia chúng ta!"
Người thương binh ngẩng đầu lên, những giọt nước mắt nghẹn ngào lăn dài trên gò má nứt nẻ. Ông không còn trốn tránh nữa, mà đứng thẳng lưng lẫm liệt, bởi ông biết cánh tay mất đi của mình đã đổi lại sự kính trọng tuyệt đối của cả một vương triều.
Khắp vạn dặm giang sơn Đại Tùy, những câu chuyện tương tự liên tục được diễn ra. Gia quyến liệt sĩ kinh ngạc, thương bệnh binh chấn động, đến cả các quan viên địa phương cũng phải bàng hoàng, bởi từ cổ chí kim chưa từng có một triều đại nào hoàng thất lại làm ra hành động như vậy. Trước đây, lính chết là hết, ban thưởng xong là xong chuyện, nhưng lần này hoàng thất đích thân đi tới từng nhà không phải để phô trương ân đức, mà chỉ để gửi gắm một thông điệp giản đơn: “Chúng ta vĩnh viễn nhớ ơn các ngươi.”
Đêm hôm đó, tại kinh thành Trường An, khi nhận được những tập báo cáo tổng kết gửi về từ các địa phương, Dương Quảng chỉ lặng lẽ gấp chúng lại rồi đặt sang một bên. Hắn đứng dậy bước tới bên cửa sổ, im lặng ngắm nhìn màn đêm tuyết phủ ngoài hoàng thành.
Hắn biết, có những thứ giá trị tinh thần thiêng liêng tuyệt đối không thể đo đạc được bằng những con số của Quốc khố, không thể tính toán bằng Điểm Dân Tâm hay Điểm Thiên Mệnh của Hệ thống. Nhưng nó lại chính là thứ nền móng cốt lõi vững chắc nhất để xây dựng nên bộ khung của một quốc gia vĩ đại.
Đó chính là: Sự biết ơn.
Mùa đông năm Thiên Khải nguyên niên ấy, hàng vạn bách tính và binh sĩ Đại Tùy lần đầu tiên sâu sắc cảm nhận được rằng: Đại Tùy dưới thời Thiên Khải Đế không chỉ là một triều đình cai trị lạnh lùng, mà Đại Tùy thực sự đã trở thành một mái nhà chung của tất cả bọn họ.
Trong lúc đó. ở Đại Đồng, biên cương phương Bắc.
Gió bắc rít gào như thú dữ, quất từng trận tuyết rơi trắng xóa phủ lên những thành quan sừng sững. Trên tường thành, quân sĩ vũ trang đầy đủ đang nghiêm túc tuần tra. Dưới thành, cách một đoạn xa bên ngoài cửa quan, con đường mòn dẫn vào Đại Đồng chìm trong màn tuyết trắng xóa mịt mùng, hai bên đường là những rặng cây già của khu rừng thưa đang chịu cái lạnh thấu xương.
Không một ai có thể ngờ được rằng, ngay phía sau một lùm cây rậm rạp trong khu rừng ven đường ấy, không gian bỗng chốc méo mó, vặn vẹo một cách kỳ dị. Một bóng người thình lình bước ra từ hư không.
Dương Quảng nhìn quanh khẽ hỏi:
"Đến rồi?"
[Đến rồi. Đại Đồng, biên cương phương Bắc.]
Dương Quảng hít sâu một hơi khí lạnh, luồng hơi buốt giá âm mười độ tràn vào lồng ngực làm hắn run nhẹ. Hắn phủi phủi mấy bông tuyết vừa đậu trên vai, định bụng bước ra khỏi rặng cây để lên con đường chính dẫn vào thành. Thế nhưng mới đi được hai bước, vạt áo lay động dính chút tuyết, hắn bỗng nhiên khựng cứng người lại.
"..."
[Ký chủ, ngươi sao thế?]
Dương Quảng cúi đầu nhìn lại bản thân. Không phải là thường phục gọn gàng mặc trong cung khi không thiết triều, mà là một thân huyền sắc cổn bào đầy uy nghi, bên trên thêu nổi kim long năm móng uốn lượn bằng chỉ vàng vô cùng tinh xảo. Trên đầu hắn vẫn đang đội nguyên bức miện quan với những chuỗi ngọc rủ xuống trước trán. Dưới ánh tuyết phản chiếu, sắc đen huyền bí cùng con rồng vàng trên áo lấp lánh chói cả mắt, toát lên một cỗ áp lực đế vương bức người.
"Hệ thống à..."
[Ừ?]
"Mẹ nó... Ta vẫn đang mặc nguyên bộ long bào a!"
[Đúng vậy, ta thấy rồi.]
"Thấy rồi sao ngươi không nhắc ta?!"
[Ta tưởng ngươi biết. Dù sao mặc bộ này xuất hiện, ít nhất không ai dám nghi ngờ thân phận của ngươi.]
Dương Quảng triệt để cạn lời. Một vị Hoàng Đế dùng năng lực dịch chuyển tức thời của hệ thống để tới biên cương, không cấm quân hộ tống, không nghi trượng phô trương, lại khoác trên mình bộ hắc long bào quyền lực nhất gầm trời.
"Mẹ nó, đây là vấn đề lớn nhất đấy!"
Hắn nhìn lại bộ đồ, rồi nhìn con đường vắng vẻ trước mặt, thở dài đầy bất lực.
[Ký chủ, ta đề nghị ngươi nên đổi sang thường phục trước khi bước ra đường.]
"Ngươi nói đúng. Nếu không, lát nữa toàn bộ quân dân Đại Đồng sẽ cho rằng Trẫm là yêu quái phương nào biến hóa ra mất."
[Không, khả năng cao là họ vẫn sẽ nhận ra ngươi là Hoàng đế thật, chỉ là họ sẽ nghĩ Hoàng đế bị điên thôi.]
Thế nhưng Dương Quảng cuối cùng đã không đổi quần áo. Hắn không nói một lời nào nữa, cứ thế giữ nguyên thân hắc bào uy nghi, sải bước từ trong lùm cây rậm rạp đi ra, hiên ngang tiến thẳng lên con đường chính, hướng về phía tòa thành Đại Đồng sừng sững phía xa.
Tuyết rơi ngày một dày, gió lạnh quất vào mặt như dao cắt, nhưng bước chân của hắn vẫn vô cùng vững chãi. Không cưỡi chiến mã, không ngồi xe loan, hắn đi bộ từng bước một trên nền tuyết trắng xóa. Không một thân vệ, binh lính nào theo cùng…
Trên tường thành cao vút, toán quân sĩ đang căng mắt tuần tra biên giới bỗng nhiên có người nhíu mày, đưa tay chỉ về phía con đường mòn ngoài thành:
"Khoan đã... Các ngươi nhìn kìa. Kẻ đi bộ phía dưới kia ăn mặc kiểu gì thế?"
Mấy tên lính bên cạnh cũng tò mò nhìn theo. Khoảng cách tuy còn xa chưa nhìn rõ mặt, nhưng sắc đen thẫm quyền lực đan xen cùng những luồng chỉ vàng chói lọi bất chấp phong tuyết đã đập thẳng vào mắt họ.
"Màu đen tuyền thêu chỉ vàng... Hắc long bào? Có kẻ dám mặc long bào chạy tới Đại Đồng sao?"
Một tên lính trẻ bật cười, tưởng là chuyện khôi hài. Nhưng rồi, tiếng cười của gã dần tắt lịm, thay vào đó là sự kinh hãi tột độ. Bởi vì người kia càng lúc càng tiến lại gần cửa thành. Khi một cơn gió bắc thổi mạnh làm tung vạt áo, hình ảnh kim long năm móng gầm thét trên nền vải đen hiện ra rõ mồn một.
Toàn bộ tường thành đột ngột rơi vào không gian im lặng đến ngột ngạt.
Một vị lão binh từng có vinh hạnh được nhìn thấy thánh nhan trong Đại Lễ Đăng Cơ ở Trường An bỗng thấy đầu óc mình trống rỗng, hai đầu gối run lên bần bật:
"Thiên... Thiên Khải Đế..."
Xoảng!
Thanh trường giáo trong tay một binh sĩ rơi thẳng xuống nền gạch lạnh ngắt, nhưng gã chẳng màng nhặt lên, đôi mắt trân trối nhìn người đang bước đi trong gió tuyết. Không tiền hô hậu ủng, không hộ vệ đại thần, chỉ có một mình Hoàng đế mặc hắc bào đứng giữa đất trời biên cương.
Người trên đường chậm rãi ngẩng đầu lên. Chuỗi ngọc trên miện quan khẽ đung đưa, ánh mắt thâm trầm, bình tĩnh, khóe môi mang theo một ý cười nhàn nhạt. Đó chính là khuôn mặt đã được vẽ trên vô số bức họa công cáo thiên hạ, là vị chủ nhân tối cao của Đại Tùy: Dương Quảng.
"Bệ Hạ... Bệ Hạ vạn tuế!"
Vị lão binh bỗng đỏ hoe mắt, đứng thẳng người dùng hết toàn bộ sức bình sinh gào lớn lên. Tiếng hô ấy giống như một tia lửa rơi vào đống củi khô, trong chớp mắt thổi bùng lên cả tường thành Đại Đồng:
"Bệ Hạ vạn tuế!"
"Bệ Hạ vạn tuế!"
Âm thanh vang dội vạch phá màn tuyết, chấn động cả mây trời. Dương Quảng dừng bước, hắn khẽ ngẩng đầu nhìn những người lính đang đứng trên cao, nhẹ nhàng gật đầu chào họ, rồi tiếp tục bước đi. Hắn tới đây hôm nay, không phải để phô diễn uy quyền thiên tử, mà là để gặp những con người đang thay hắn chịu cái lạnh thấu xương của biên thùy.
Ầm!!!
Cổng thành Đại Đồng mở tung, tuyết bám trên cánh cổng rớt xuống từng mảng lớn. Một đội kỵ binh tinh nhuệ biên quân gồm hơn trăm người hùng hổ lao ra, móng ngựa đạp tung tuyết trắng, cuồn cuộn tiến về phía Dương Quảng.
Họ không phải đến để bao vây, mà là để thiết lập trận hình bảo vệ tối cao. Các kỵ sĩ nhanh chóng tản ra hai bên, che chắn cẩn mật phía trước phía sau, chừa lại một con đường duy nhất ở chính giữa tôn vinh Thiên tử.
Vị tướng dẫn đầu kỵ binh quyết liệt kéo mạnh dây cương, chiến mã hí dài một tiếng rồi đứng khựng lại. Ông dứt khoát nhảy xuống ngựa, quỳ sụp một chân xuống nền tuyết lạnh giá, ôm quyền hô lớn:
"Thần, Đại Đồng thủ tướng, khấu kiến Bệ hạ!"
Ầm! Ầm! Ầm!
Toàn bộ trăm vị kỵ binh đồng loạt xuống ngựa, quỳ rạp xuống đất. Tuyết trắng nhanh chóng phủ đầy giáp trụ nhưng không một ai cử động. Tiếng hô vạn tuế một lần nữa làm rung chuyển mặt đất.
Dương Quảng đứng giữa vòng vây bảo vệ, lặng lẽ quan sát những quân sĩ trước mặt. Những bàn tay nứt nẻ vì giá rét, những bờ vai phủ đầy tuyết, những khuôn mặt bị gió bắc cắt đến đỏ bừng... Hắn im lặng hồi lâu mới chậm rãi nói:
"Đứng lên đi."
Quân sĩ vẫn quỳ bất động. Dương Quảng khẽ nhíu mày, tăng thêm vài phần uy nghiêm:
"Trẫm bảo các ngươi đứng lên!"
Lúc này, toàn quân mới đồng loạt đứng dậy, nhưng ánh mắt sùng bái vẫn không rời khỏi vị Hoàng Đế trước mặt.
Đại Đồng thủ tướng ngẩng đầu, không giấu nổi sự bàng hoàng:
"Bệ Hạ... Ngài... Sao ngài lại thân hành tới nơi biên thùy xa xôi này? Lại còn... đi bộ một mình?"
Dương Quảng nhìn về phía gò đất trống phía Tây ngoài thành, khóe miệng khẽ cong lên:
"Nghĩa trang liệt sĩ. Trẫm muốn tới tận nơi xem, những người vì Đại Tùy mà nằm xuống, sau này họ sẽ được nằm ở đâu."
Toàn bộ quân sĩ sững sờ. Không một ai có thể ngờ vị Hoàng đế vượt ngàn dặm xa xôi đến đây, lại chỉ vì một chuyện tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy. Một lão binh đứng trong đội ngũ lặng lẽ cúi đầu, giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống tuyết trắng tan tành.
Trong lúc bước đi cùng đội ngũ tiến vào đại doanh, Dương Quảng nhìn vị tướng quân cao lớn đi bên cạnh, thầm gọi trong đầu:
"Hệ thống, tên tướng quân này tên gì? Ta thật sự không nhớ nổi."
[Ký chủ, ngươi là Hoàng đế Đại Tùy, vừa được người ta nghênh đón tung hô vạn tuế, vậy mà đến tên thủ tướng biên thành của mình cũng không biết sao?]
"Cả nước có mấy chục triệu dân, quan viên tướng lĩnh nhiều như lông trâu, ta làm sao nhớ hết được? Tra giúp ta mau lên!"
Một bảng thông tin cơ mật lập tức hiện ra trong thức hải của Dương Quảng:
[Họ tên: Hàn Kình]
[Tuổi: 43]
[Chức vụ: Đại Đồng Thủ Tướng, Trung tướng Đại Tùy]
[Xuất thân: Biên quân thực chiến]
[Chiến công: Tham gia phòng thủ phía Bắc 17 năm, đánh lui 23 đợt tập kích quy mô nhỏ, chỉ huy thành công 4 trận phản kích biên giới, thương tật 7 lần.]
[Đánh giá: Tướng lĩnh thực chiến ưu tú.]
Dương Quảng lập tức sáng mắt:
"Mẹ nó, đúng là người tài!"
[Độ trung thành: 95. Rất cao. Nguyên nhân: Ngươi vừa xây nghĩa trang liệt sĩ.]
"Mạnh vậy?"
[Ngươi không hiểu quân đội. Đối với rất nhiều binh sĩ, tiền thưởng rất quan trọng. Nhưng được nhớ tới, cũng rất quan trọng.]
Dương Quảng hít sâu một hơi. Hắn đột ngột dừng bước, đứng thẳng người giữa trung quân đại doanh, dõng dạc hô lớn:
"Hàn Kình nghe chỉ!"
Hàn Kình lập tức quỳ sụp xuống:
"Thần nghe chỉ!"
Toàn bộ binh sĩ xung quanh cũng đồng loạt quỳ theo, tiếng giáp trụ va chạm rầm rập xé toạc màn đêm lạnh giá.
Dương Quảng đứng ngược hướng gió, vạt hắc bào bay phần phật, thanh âm trầm hùng nội lực vang vọng khắp vạn quân:
"Trẫm ở Trường An, ngày đêm lo lắng cho biên quân. Trẫm lo mùa đông giá rét tới, các ngươi không có áo ấm để mặc, không có chăn dày để đắp, doanh trại không đủ than sưởi, quân nhu bị kẻ gian ăn chặn! Trẫm nhìn báo cáo không yên tâm, nghe tấu chương càng không yên tâm, cho nên đêm nay Trẫm tự mình vi hành tới đây!"
Ánh mắt hắn sáng rực như đuốc, quét qua từng khuôn mặt của những người lính biên thùy:
"Người đời thường nói, Trường Thành là vách đá bảo vệ Đại Tùy. Nhưng Trẫm nói cho các ngươi biết: Sai rồi! Đá gạch không giữ được thiên hạ, thành trì không giữ được giang sơn! Thứ giữ vững nền độc lập của Đại Tùy chính là các ngươi! Từng người, từng người một đang đứng ở đây, chính các ngươi mới là bức tường biên giới dệt bằng máu thịt, là Trường Thành bất tử của Hoa Hạ!"
Hàn Kình siết chặt nắm tay, bờ vai run lên kịch liệt vì xúc động.
"Cho nên hôm nay, Trẫm không tới để thị sát, không tới để nghe báo cáo sáo rỗng! Trẫm tới là để tận mắt nhìn xem bức tường bằng máu thịt này của Trẫm có còn đứng vững hay không, có còn đủ ấm hay không! Nếu thiếu áo ấm, Trẫm cấp! Nếu thiếu lương thực, Trẫm bổ sung! Còn nếu có kẻ nào dám ăn chặn một cắc quân nhu của các ngươi, Trẫm chém bay đầu ba họ nhà nó!"
Tiếng gầm cuối cùng mang theo sát khí ngập trời. Giữa trời tuyết Đại Đồng, không biết ai là người đầu tiên hô lên:
"Bệ Hạ vạn tuế!"
Ngay sau đó, âm thanh như sóng thần bùng nổ:
"Bệ Hạ vạn tuế!"
"Bệ Hạ vạn tuế!"
Lần này, họ hô vang không phải vì thiên tử, không phải vì long bào, mà vì những người lính nơi biên cương biết rằng, người ở Trường An thực sự nhớ tới bọn họ.
Sau khi kết thúc nghi thức, Dương Quảng từ chối mọi yến tiệc tiếp đón, hắn chỉ nói ngắn gọn:
"Dẫn đường. Đi xem doanh trại, đi xem nhà bếp, kho quân nhu, chỗ ngủ, bệnh xá. Nếu còn thời gian thì đi xem cả nhà xí."
Hàn Kình và các tướng lĩnh nghe xong thì ngơ ngác. Bình thường Hoàng Đế tới sẽ kiểm tra duyệt binh, chiến mã. Còn vị này, mở miệng là xem nhà bếp với nhà xí.
Thế là giữa trời đông Đại Đồng, vị Thiên Khải Đế sải bước đi sâu vào từng ngõ ngách của trại lính. Hắn không hỏi binh sĩ giết được bao nhiêu địch, mà hắn ân cần hỏi nhà ở đâu, cha mẹ còn khỏe không, đã cưới vợ chưa. Điệu bộ ân cần, chân chất khiến cả doanh trại vừa sợ hãi vừa ấm lòng.
Khi bước vào bệnh xá biên quân, nhìn thấy mấy chục thương binh cụt tay què chân đang định hoảng hốt bò dậy hành lễ, Dương Quảng lập tức quát lớn:
"Nằm xuống! Không được nhúc nhích! Người đang bị thương mà còn đòi đứng dậy, các ngươi muốn tăng thêm việc cho Bộ Y tế sao?"
Các thương binh khựng lại, rồi ngoan ngoãn nằm xuống. Một vị lão binh mất đi cánh tay trái nhìn Dương Quảng, khàn giọng hỏi:
"Bệ hạ, Người thật sự vượt ngàn dặm xa xôi tới đây chỉ để nhìn những phế nhân như chúng thần sao?"
Dương Quảng nhìn quanh một lượt những vết thương chằng chịt trong phòng, lắc đầu, khẽ cười:
"Không. Trẫm còn tới đây là để tận mắt nhìn xem, Đại Tùy này hiện tại đang nợ những ai."
Cả căn phòng bỗng chốc lặng ngắt, những giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má những người lính dạn dày sương gió.
Hàn Kình bước lên phía trước, khom người tâu:
"Bệ hạ, nhờ có cồn sát khuẩn, phương pháp khâu vết thương cứu mạng và Kim Sáng Dược do Bộ Y tế ban xuống, thương binh của ta trước đây đáng lẽ phải chết vì hoại tử nay đã giảm được hơn một nửa. Bệnh xá biên quân đều nói đây là thần tích."
"Đó không phải thần tích, đó là y học. Người cứu họ không phải thần tiên, là những đại phu nghiên cứu ngày đêm." Dương Quảng đáp lời, rồi ánh mắt hắn chợt trầm xuống. "Còn những người đã khuất đâu?"
Nụ cười trên môi Hàn Kình tắt ngấm, bầu không khí lập tức đông cứng lại. Ông cúi đầu, trầm giọng đáp:
"Bẩm Bệ hạ... Ở phía Tây doanh trại có một gò đất, trước đây chúng thần gọi là Đồi Vô Danh. Hiện tại đang chuẩn bị khởi công xây dựng Nghĩa trang Liệt sĩ."
"Dẫn Trẫm tới đó."
Dưới trời tuyết rơi xối xả, một đoàn người lặng lẽ đi về phía Tây doanh trại. Trước mắt họ hiện ra một gò đất mênh mông, không bia mộ lộng lẫy, chỉ có từng hàng đất nhô lên thô sơ giữa màn tuyết trắng xóa. Có những ngôi mộ mới đắp, có những ngôi mộ cũ đã sụt lún, và rất nhiều ngôi mộ trên đó chỉ vỏn vẹn hai chữ Vô Danh.
Hàn Kình nghẹn ngào nói:
"Rất nhiều người không tìm được quê quán, không còn thân nhân, ngay cả tên tuổi cũng thất lạc..."
Dương Quảng không đáp. Hắn chậm rãi bước tới trước một nấm mồ vô danh, quỳ xuống, dùng bàn tay tự mình gạt đi lớp tuyết lạnh phủ trên mặt đất. Hắn đứng thẳng người lên, giọng nói nhẹ bẫng nhưng vang vọng:
"Không sao. Rồi sẽ có tên. Người có quê, đưa về quê. Người vô danh, khắc tên Liệt Sĩ Đại Tùy. Người không ai nhớ, thì quốc gia nhớ!"
Nói đoạn, Dương Quảng bất ngờ bước tới một cái cây già đã khô héo vì mất nước bên cạnh nghĩa địa. Hắn hít sâu một hơi, khí huyết trong người vận hành cuồn cuộn.
Ầm!!!
Một tiếng nổ chát chúa vang vọng. Dương Quảng tung một chưởng Hàng Long đánh thẳng vào thân cây. Thân cây cổ thụ vốn đã khô héo chịu một lực kình khủng khiếp, lập tức gãy ngang, rắc một tiếng đổ rầm xuống đất. Toàn bộ binh sĩ chứng kiến đều trợn tròn mắt.
"Cho Trẫm mượn đao."
Dương Quảng nhận lấy thanh chiến đao từ tay binh sĩ. Lưỡi đao múa lên xẻ dọc thân cây gãy, nhanh chóng đẽo ra một tấm ván gỗ lớn. Do phát lực quá mạnh, vết nứt trong lòng bàn tay hắn rỉ ra những giọt máu tươi đỏ rực. Hàn Kình biến sắc định can ngăn nhưng Dương Quảng không để ý. Hắn đưa tay, dùng chính dòng máu nóng của mình, từng nét từng nét viết lên mặt gỗ.
Máu đỏ, gỗ trắng. Giữa trời tuyết, hiện lên tám chữ lớn: ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ.
Toàn bộ nghĩa địa lặng ngắt như tờ. Dương Quảng nâng tấm biển gỗ lên, vận lực cắm mạnh xuống nền đất đóng băng. Tấm biển đứng sừng sững giữa gió tuyết, giống như một lời hứa với người sống, cũng là một lời hứa với người đã khuất.
Sau đó, hắn nhận lấy ba nén nhang, châm lửa. Trước mặt hàng trăm quân sĩ, trước mặt vô số ngôi mộ vô danh, Thiên Khải Đế chắp hai tay, cúi người thực hiện một bái. Hắn không bái thiên, không bái địa, mà bái những người đã nằm xuống. Hàn Kình cảm thấy cổ họng nghẹn lại, rất nhiều lão binh đỏ hoe mắt.
Dương Quảng cắm ba nén nhang xuống vùng đất lạnh lẽo, làn khói xám mờ nhạt dần tan vào không trung tĩnh mịch. Hắn đứng đó, trầm mặc một hồi lâu rồi mới chậm rãi cất tiếng, giọng nói không còn vẻ uy nghiêm của bậc đế vương mà trầm đục, như chứa đựng cả một nỗi niềm nặng trĩu:
"Những gì các ngươi còn lưu luyến nơi trần thế, Trẫm xin thay các ngươi gánh vác. Cha mẹ già, Trẫm sẽ phụng dưỡng. Gia đình vợ con, Trẫm sẽ chu cấp đủ đầy, bảo toàn cuộc sống bình an cho họ, không để ai phải chịu cảnh bần hàn hay bị kẻ khác ức hiếp. Ngay cả hương hỏa, Trẫm cũng sẽ giữ cho các ngươi đời đời được ấm áp. Đã trọn nghĩa với non sông, giờ đây, các ngươi hãy cứ an lòng mà nhắm mắt an nghỉ..."
Hắn lùi lại một bước, ánh mắt như ngọn đuốc xuyên thấu màn tuyết mịt mù, quét qua những nấm mồ hoang lạnh. Giọng hắn trầm hùng, vang vọng giữa đất trời tĩnh mịch, mang theo nỗi bi tráng thấu tận tâm can:
"Ta, Dương Quảng, đứng ở nơi đây với tư cách đại diện cho vạn dân Hoa Hạ, cúi đầu bái tạ các anh linh chiến sĩ! Các ngươi là những người con ưu tú nhất, đã dùng máu thịt làm thành lũy, dùng xương cốt làm cột trụ, kiên cường trấn thủ nơi tử địa lạnh lẽo nhất để đổi lấy bình yên cho giang sơn phía sau. Ta thấu tận tâm can nỗi đau của các ngươi: có kẻ thân xác còn chưa kịp trao nhẫn cưới, người chưa kịp phụng dưỡng đấng sinh thành, thậm chí đến cái tên cũng hóa thành hư vô trong gió tuyết. Nhưng chính cái chết của các ngươi đã làm nên sự bất tử của dân tộc! Các ngươi đứng ở nơi đầu sóng ngọn gió, để Đại Tùy mãi mãi kiêu hãnh đứng vững, để Hoa Hạ vạn thế trường tồn, để núi sông quy nhất liền một dải, và để con cháu đời sau được sống dưới bầu trời không còn bóng tối chiến tranh!"
Dương Quảng chắp tay siết chặt, đôi vai run lên vì xúc động, hắn cúi người sâu đến mức gần như chạm sát mặt đất lạnh lẽo, giọng nói trầm khàn như tiếng gầm của dã thú bị nén lại trong lồng ngực:
"Vì các ngươi là anh hùng trong tim ta!!! Vì Hoa Hạ, một bái!"
Phía sau, Hàn Kình đột nhiên quỳ sụp xuống, đôi mắt đỏ ngầu, gào lên giữa cơn bão tuyết:
"Vì Hoa Hạ! Một bái!"
Hàng trăm quân sĩ đồng loạt quỳ rạp xuống nền tuyết trắng, tiếng thét xé tan màn trời đông Đại Đồng, vang vọng như tiếng sấm dậy giữa trời xanh:
"Vì Hoa Hạ! Một bái!"
Khói hương quyện vào màn tuyết trắng, hóa thành tâm nguyện của vạn người, bay thẳng lên chín tầng mây. Tấm bia máu hiên ngang đứng sừng sững giữa phong ba, nhuốm màu thời gian và tang tóc. Chẳng ai rõ những anh linh vùi xác nơi biên thùy có thấu chăng lời nguyện thề, nhưng tất thảy những người còn sống nơi đây đều đã khắc tạc ngày này vào tâm khảm. Ngày mà Thiên Khải Đế mặc hắc long bào, lội tuyết đến Đại Đồng; ngày mà Đại Tùy cúi đầu, dùng sự thành kính cao nhất để tiễn đưa những người con đã vì sơn hà mà hóa thành bụi đất.
Sau lễ tế bái vạn anh linh nơi Đồi Vô Danh, phong tuyết bên ngoài dường như càng lúc càng dữ dội. Để đảm bảo an toàn cho Thiên tử trước sự hiếu kỳ của hàng vạn quân dân sau khi biết tin Hoàng Đế xuất hiện, Dương Quảng cuối cùng cũng chịu để Hàn Kình “áp giải” về lại trung quân đại trướng của tổng trại để bàn định đại sự.
Trong đại trướng rộng lớn, đống than lửa đỏ hồng cháy bập bùng, xua đi cái lạnh buốt của biên thùy. Một tấm bản đồ địa hình phương Bắc cực kỳ chi tiết được trải kín mặt bàn gỗ sồi.
Dương Quảng ngồi xuống ghế chủ vị, bưng lấy chén trà nóng nghi ngút khói do nội thị dâng lên, lẳng lặng nhìn vết máu ở lòng bàn tay đã được thị vệ băng bó cẩn thận. Hắn nhấp một ngụm trà, bất ngờ phá vỡ bầu không khí im lặng bằng một câu hỏi:
"Hàn Kình, Trẫm hỏi khanh, hiện tại trong biên quân của khanh đã có 'Sư đoàn' nào chưa?"
Hàn Kình đang đứng nghiêm chỉnh ở bên cạnh, nghe thấy hai chữ từ miệng Thiên tử thì thoáng ngẩn người, nét mặt hiện lên vẻ hoang mang:
"Bệ hạ... 'Sư đoàn' là cái gì ạ? Thần chưa từng nghe qua chức danh hay quân chế này bao giờ."
Dương Quảng đặt chén trà xuống, thản nhiên giải thích:
"Đó là một khái niệm tổ chức quân đội mới do Trẫm đề ra. Khanh xem, hiện tại quy mô 'Quân đoàn' của chúng ta thì quá lớn, khó lòng điều động linh hoạt; trong khi cấp 'Lữ đoàn' hay 'Doanh' thì lại quá nhỏ, không đủ sức độc lập tác chiến trên diện rộng. Trẫm muốn biết giữa hai cấp độ đó, biên quân hiện tại có cơ cấu nào tương đương hay không."
Hàn Kính nhíu mày suy nghĩ một lát, lục tìm trong mười mấy năm kinh nghiệm binh nghiệp của mình rồi lắc đầu đáp:
"Bẩm Bệ hạ, nếu đối chiếu theo quân chế chính thức của Đại Tùy hiện nay thì hoàn toàn không có. Quân đội ta từ trước đến nay vẫn phân chia theo hệ thống các Vệ, các Doanh và các Quân trực thuộc triều đình, chưa từng hình thành một hệ thống chỉ huy trung gian chuẩn hóa nào như ngài nói."
Dương Quảng khẽ gật đầu, quả nhiên đúng như hắn dự đoán. Quân đội ở đây vẫn mang nặng tính chất cát cứ và phân mảnh, thiếu đi những bộ khung chỉ huy cơ động tầm trung để tối ưu hóa sức mạnh. Hắn chưa kịp nói gì thì Hàn Kình đã vội vàng bước lên một bước, chỉ tay vào bản đồ tiếp lời:
"Nhưng... nếu xét theo quy mô quân số thực tế trên chiến trường biên cương, một số cụm quân phòng thủ trọng điểm của chúng ta hiện nay quả thực đã có cấu trúc gần giống với ý tưởng của ngài."
"Ồ? Khanh cứ nói rõ xem nào." Dương Quảng nhướng mày, lộ ra vẻ hứng thú.
Hàn Kính gõ nhẹ ngón tay lên vị trí các trọng trấn phía Bắc:
"Tại Đại Đồng này, hiện tại thần đang quản lý khoảng ba vạn quân thường trực, chưa tính các doanh trại phụ thuộc và công binh dã chiến xung quanh. Trên thực tế, quy mô tác chiến này đã tương đương một cụm quân cơ động tầm trung. Ở các hướng khác, Nhạn Môn có hai vạn quân, Mã Ấp có một vạn năm nghìn binh sĩ, Liêu Đông trấn giữ ba vạn rưỡi, và U Châu có hơn hai vạn quân."
Dương Quảng vừa nghe vừa nhẩm tính. Trong đại não của một người hiện đại, bộ khung biên chế quân đội hoàn chỉnh của thế kỷ hai mươi mốt lập tức được phác thảo và khớp lệnh hoàn hảo với dữ liệu của Hệ thống: Quân đoàn, Sư đoàn, Lữ đoàn, Trung đoàn, Tiểu đoàn, Đại đội, Trung đội, và cuối cùng là Tiểu đội.
Hàn Kính đứng bên cạnh quan sát vẻ mặt trầm ngâm nhưng ánh mắt rực sáng của Dương Quảng, sống lưng bỗng chốc cảm thấy có một luồng khí lạnh chạy qua. Ông đã quá quen thuộc với biểu cảm này của Thiên Khải Đế. Mỗi khi vị tân đế này để lộ ra thần thái suy tính điên rồ ấy, điều đó có nghĩa là vương triều này chuẩn bị đón nhận một trận phong ba cải cách long trời lở đất.
Quả nhiên, Dương Quảng gõ gõ ngón tay xuống mặt bàn, đột ngột hỏi dồn:
"Hàn Kính, nếu Trẫm giao cho khanh ba vạn quân, khanh quản được không?"
"Thần quản được!" Hàn Kính đáp dứt khoát.
"Nếu là sáu vạn quân thì sao?"
Hàn Kính khựng lại một giây: "Thần vẫn có thể gánh vác!"
"Vậy nếu Trẫm giao thẳng vào tay khanh mười vạn quân thường trực chiến đấu?" Dương Quảng xoáy sâu ánh mắt vào vị thủ tướng.
Mồ hôi hột của Hàn Kính lập tức rỉ ra trên trán, ông cẩn trọng suy nghĩ rồi thành thật đáp:
"Bệ Hạ... Nếu lên tới quy mô mười vạn quân, hệ thống truyền lệnh bằng cờ hiệu và kho trạm hiện tại của thần sẽ quá tải ngay lập tức. Để vận hành khối người khổng lồ đó, thần bắt buộc phải có thêm một bộ phận phụ trách mưu lược chuyên biệt để phụ tá, hệ thống hậu cần phải được tách độc lập, và đặc biệt là cần một cơ cấu chỉ huy trung gian thật chuẩn hóa để chia nhỏ quyền lực điều hành."
RẦM!!!
Dương Quảng đột ngột đập mạnh bàn một phát, cười lớn đầy sảng khoái:
"Chính xác! Khanh vừa tự mình nói trúng cái tử huyệt của quân đội Đại Tùy rồi đấy!"
Hàn Kính giật nảy mình, vội vàng cúi đầu: "Bệ Hạ, thần lỡ lời..."
"Không lỡ lời, khanh nói rất hay!"
Dương Quảng đứng bật dậy, hai tay chắp sau lưng, sải bước đi quanh đại trướng. "Quân đội của ta hiện tại nhìn thì hùng mạnh, nhưng thực chất lại thiếu đi một bộ khung xương sống trung gian ở giữa. Chúng ta thiếu hệ thống chỉ huy chuẩn hóa để phân tách nhiệm vụ, thiếu bộ phận tham mưu chuyên trách để phân tích chiến cục, và thiếu cả cơ cấu 'Sư đoàn' để tăng cường tính cơ động độc lập độc chiến. Khanh yên tâm, Trẫm không hỏi chơi đâu."
Hàn Kính nghe đến đây, sắc mặt chấn động, run giọng hỏi:
"Bệ Hạ... việc chuẩn hóa quân chế này, thần nghe nói Quân Ủy và các đại thần ở kinh thành đã rục rịch thi hành gần một năm nay trên các quân đoàn trung tâm rồi. Nhưng vì sao ở biên quân phía Bắc, suốt thời gian qua vẫn không thấy triều đình có động tĩnh gì ban xuống? Có phải..."
Dương Quảng dừng bước trước tấm bản đồ, nhìn thẳng vào Hàn Kính, giọng nói trầm xuống nhưng đầy thấu hiểu:
"Khanh có biết vì sao Trẫm lại cố tình giữ nguyên quân chế cũ của biên quân suốt một năm qua không? Biên cương hoang lạnh, gió thổi cỏ lay đều có thể dẫn đến vạn kiếp bất phục! Nơi này là tuyến đầu chịu trận, là lá chắn sống của vương triều, chứ tuyệt đối không phải là cái phòng thí nghiệm để cho đám văn thần võ tướng ở kinh thành đem ra thử nghiệm các chính sách mới! Một khi triều đình thúc ép cải tổ sai một ly, phòng tuyến phương Bắc sẽ sụp đổ ngay lập tức, bách tính Đại Tùy sẽ lại rơi vào cảnh lầm than. Cho nên, Trẫm bắt buộc phải để các quân đoàn nội địa vận hành ổn định bộ khung mới, rồi mới dám động tới nơi quan trọng nhất là các khanh."
Hàn Kính nghe xong, cõi lòng dâng lên một cỗ ấm áp và cảm kích tột cùng. Hóa ra, suốt một năm qua, không phải triều đình bỏ quên biên quân, mà là vị Thiên Khải Đế này đang dùng sự bảo hộ âm thầm nhất để che chở cho họ.
Dương Quảng xoay người, ngón tay thon dài thong thả lướt qua đường ranh giới hiểm trở trên bản đồ, ánh mắt bỗng chốc trở nên thâm sâu như vực thẳm:
"Nhưng... thời gian bình yên của các khanh không còn nhiều nữa đâu. Người Đột Quyết ngoài kia đang già đi, vương triều của họ đang suy yếu, thời đại này cũng đang chuyển dịch rất nhanh. Trẫm nói cho khanh biết một bí mật, sớm thôi, toàn bộ biên quân các khanh... sẽ được lệnh rút về khỏi Đại Đồng."
"Cái gì?! Rút về?!" Hàn Kính cùng các tướng lĩnh trong trướng nghe thấy hai chữ này thì lồng ngực thắt lại, mặt mũi đồng loạt đại biến. Đối với người lính biên thùy, rút quân đồng nghĩa với việc từ bỏ phòng tuyến, từ bỏ lãnh thổ.
Dương Quảng nhìn thấy phản ứng hoảng loạn của thuộc hạ thì bật cười, ánh mắt lóe lên tia sáng ngạo nghễ đầy điên rồ:
"Các khanh hoảng cái gì? Trẫm nói rút về, không phải là để giải giáp quy điền, càng không phải là để cắt đất cầu hòa hay giảm bớt quân số!"
Hắn đột ngột dùng ngón tay nhấn mạnh vào vị trí Đại Đồng, rồi dứt khoát đẩy mạnh vạch chỉ tay thẳng lên phía Bắc, xuyên qua hoang mạc hoang vu trên bản đồ:
"Trẫm vốn dĩ không thích cái trò ôm tường phòng thủ mãi mãi! Xây trường thành, lập đồn lũy vốn là hành vi của những kẻ chưa đủ mạnh mẽ để nghiền nát đối phương nên mới phải co cụm lại để tự vệ. Khi Đại Tùy của Trẫm đã tích lũy đủ sức mạnh, tuyến biên giới của chúng ta sẽ không nằm bất động một chỗ nữa, mà biên giới phải tự đi tìm kiếm kẻ địch! Các khanh rút về là để tái cơ cấu thành những Sư đoàn thép cơ động nhất, chuẩn bị cho việc đẩy toàn bộ tuyến an toàn chiến lược của Đại Tùy ra xa thêm vạn dặm, biến vùng biên thành hiện tại thành vùng đất hậu phương nội địa an toàn!"
Ầm!
Cả đại trướng như có một luồng sấm sét vô hình nổ tung trong tâm khảm. Tầm nhìn chiến lược này vượt xa tư duy quân sự của thời đại thế kỷ thứ bảy. Hắn không muốn bảo vệ biên giới, hắn muốn dời biên giới đi lên phía Bắc!
Hàn Kính đứng trân trối nhìn vạch tay của Dương Quảng, huyết quản trong người bỗng chốc sôi sục như lửa đốt. Ông dứt khoát quỳ sụp xuống, hai tay ôm quyền gầm lên bằng tất cả nhiệt huyết của một con hổ tướng:
"Mạt tướng nguyện làm lưỡi đao tiên phong, khai phá bờ cõi cho Bệ Hạ!"
"Không vội, không vội nha." Dương Quảng bật cười, phất tay áo ra hiệu cho ông đứng dậy. "Đánh nhau mà không có hậu cần chu toàn thì đó là hành vi ngu xuẩn. Cứ đợi Trẫm xây xong Đại Vận Hà, kết nối xong hệ thống Thiên Khải Quốc Lộ, rồi Trẫm cho người đặt hệ thống đường sắt..."
Nói đến đây, Dương Quảng đột ngột khựng lại, vội vàng ngậm chặt miệng.
Hàn Kính nghệt mặt ra, chớp chớp mắt hỏi: "Bệ hạ... Đường... đường gì cơ ạ? Đường sắt là loại đường gì?"
Dương Quảng ho khan một tiếng để che giấu sự ngượng ngùng, quay mặt đi chỗ khác:
"Khụ khụ... Không có gì, là Trẫm thuận miệng nói nhảm thôi. Khanh coi như chưa nghe thấy gì đi."
Trong không gian tâm thức, giao diện Hệ thống lập tức nhấp nháy liên tục kèm theo tiếng cười trào phúng:
[Ký chủ, ngài lại lỡ miệng leak bản cập nhật vượt thời đại nữa rồi a. CEO gì mà giữ bí mật công nghệ kém thế!]
Dương Quảng nghiến răng thầm đáp: “Ngươi câm miệng! Một đế quốc vĩ đại đang trên đà phát triển, thỉnh thoảng vị tối cao lỡ tay rò rỉ vài bản cập nhật tương lai là chuyện vô cùng bình thường!”
Hắn lập tức thu lại vẻ ngượng ngùng, dời sự chú ý của Hàn Kính bằng cách chỉ tay vào một vệt nứt lớn, dài dằng dặc nằm ở vị trí cực kỳ xa xôi về phía Bắc trên tấm bản đồ da thú:
"Hàn Kình, khanh nhìn vào chỗ này xem. Đây là Baikal, một hồ nước ngọt khổng lồ, vô cùng rộng lớn. Tương lai, Trẫm sẽ cho xây dựng ngay tại bờ hồ này một thành phố kiên cố!"
Hàn Kình và các tướng lĩnh nhìn theo ngón tay Thiên tử, ai nấy đều hít sâu một hơi khí lạnh. Từ Đại Đồng nhìn lên vị trí Baikal đó cách xa ít nhất cũng phải mấy ngàn dặm hoang mạc, nơi đó hoang vu hẻo lánh đến mức ngay cả các bộ lạc Đột Quyết cũng hiếm khi đặt chân tới. Vậy mà vị Hoàng đế này đã vạch sẵn kế hoạch xây thành lập phủ ở đó từ bao giờ.
"Nhưng đó là chuyện của mười năm, hai mươi năm nữa." Dương Quảng gõ nhẹ ngón tay trở lại vị trí Đại Đồng. "Còn việc trước mắt, ngay khi Đại Vận Hà và Thiên Khải Quốc Lộ làm xong, tuyến hậu cần kết nối thẳng từ Trung Nguyên tới đây sẽ được thông suốt hoàn toàn. Trẫm muốn các khanh phải biến Đại Đồng này thành một vùng đệm chiến lược, một thương thành ga trung chuyển khổng lồ chứ không đơn thuần là một pháo đài quân sự khô khốc."
Hắn nhìn thẳng vào mắt vị thủ tướng biên thành, nhấn mạnh từng chữ:
"Từ hôm nay, quy hoạch Đại Đồng không được theo tiêu chuẩn pháo đài nữa, mà phải theo tiêu chuẩn đô thị hiện đại! Phải xây dựng cơ sở vật chất, chợ búa, trường học, bệnh viện, nhà kho vận và các xưởng sản xuất quy mô lớn. Trẫm muốn bách tính sống ở Đại Đồng không có cảm giác mình đang ở nơi biên thùy nguy hiểm, mà phải cảm thấy họ đang sống ở trung tâm kinh tế của một vùng đất mới!"
Hàn Kính bàng hoàng. Đây không còn là chiến lược quân sự thuần túy, mà là một cuộc xâm lăng văn minh vô hình nhưng tàn khốc bậc nhất. Dương Quảng khoác hai tay sau lưng, thanh âm vang vọng đầy sức thuyết phục:
"Muốn giữ vững một vùng đất vĩnh viễn, đao kiếm và thành trì chỉ là công cụ ngắn hạn. Thứ thực sự biến mảnh đất này thành của Hoa Hạ chính là con người, là những gia đình định cư, là trường học, là trẻ con và tiếng cười sinh hoạt mỗi ngày. Cho nên, Trẫm quyết định: Mở thông thương biên giới ngay lập tức!"
"Cái gì?! Mở thông thương với Đột Quyết sao?!" Một vị võ tướng lão thành giật mình, không nhịn được thốt lên. "Bệ hạ, lũ người Hồ đó hung tàn thành tính, nhiều năm qua tay chúng đã nhuốm biết bao máu xương của đồng bào ta..."
Dương Quảng đưa tay lên cắt ngang lời vị tướng già, ánh mắt hắn nhìn vào ngọn lửa đang cháy trong lò, giọng nói bỗng trở nên trầm lắng, mang theo sự bao dung vĩ đại của một bậc thánh quân:
"Trẫm biết. Những đau thương mà họ gây ra cho chúng ta, sử sách Thiên Khải triều sẽ ghi nhớ kỹ, tuyệt đối không quên. Nhưng hận thù thì không được phép nuôi dưỡng từ đời này sang đời khác! Các khanh hãy nhìn ra ngoài kia xem, ở phía bên kia biên giới, người dân Đột Quyết thực chất cũng không sống dễ dàng gì. Mùa đông khắc nghiệt tới, họ cũng bị chết rét; hạn hán kéo về, chiến mã của họ cũng lăn ra chết, con cái của họ cũng phải chết đói, người già cũng chết bệnh vì thiếu y tế. Khác biệt duy nhất giữa họ và bách tính của Trẫm, là họ lỡ sinh ra ở bên kia vạch biên giới mà thôi."
Cả đại trướng bỗng chốc lặng ngắt như tờ, chỉ còn tiếng gió bắc đập vào vách da thú nghe leng keng.
"Trẫm không tin huyết thống có thể quyết định bản chất của một con người, càng không tin kẻ sinh ra ở thảo nguyên thì vĩnh viễn phải là kẻ thù của Hoa Hạ. Bắt đầu từ hôm nay, hãy mở các chợ giao thương liên biên giới tại Đại Đồng, Nhạn Môn, Mã Ấp. Cho phép người Hồ qua lại buôn bán, trao đổi hàng hóa tự do. Những người Đột Quyết nào muốn làm thương nhân, muốn làm nông dân, muốn học chữ và thật lòng muốn trở thành một phần của Hoa Hạ, Trẫm mở cửa nghênh đón họ! Hãy lập sổ sách đăng ký tạm trú, quản lý họ bằng luật pháp triều đình một cách công bằng."
Hắn đột ngột quay người lại, tà hắc long bào khẽ quét qua ánh lửa, đôi mắt sắc lạnh như chim ưng khóa chặt lấy Hàn Kính:
"Nhưng các khanh hãy nhớ kỹ lời Trẫm: Trẫm lệnh cho các khanh mở cửa biên giới, nhưng tuyệt đối không có nghĩa là cho phép các khanh buông đao xuống! Ngược lại, chính vì mở cửa, nên đao của các khanh càng phải mài cho thật sắc, tay phải giữ chặt lấy chuôi kiếm! Kẻ nào đến để hòa bình làm ăn, ta cho họ cuộc sống yên ổn; còn kẻ nào dám mượn cớ trà trộn để cướp bóc, xâm lược Hoa Hạ, đao của Đại Tùy phải nhanh hơn và chặt bay đầu hắn trước khi hắn kịp ra tay! Trẫm về kinh sẽ lập tức điều động nhân lực của Bộ Hộ, vật lực của Bộ Công và ngân lượng từ Nội khố phối hợp hỗ trợ các khanh toàn diện."
Hàn Kính lồng ngực phập phồng dữ dội, ông tiến lên một bước, quỳ rạp xuống dập đầu:
"Mạt tướng lĩnh chỉ! Định không phụ sự kỳ vọng của Bệ hạ!"
Dương Quảng mỉm cười, ánh mắt một lần nữa xuyên qua màn đêm phong tuyết, hướng về phía thảo nguyên vô tận ngoài kia. Hắn biết, thứ mạnh nhất của Hoa Hạ thời đại mới này không phải là vách tường thành bằng đá kiên cố, mà chính là lòng người, là sức hút vĩ đại khiến cho mọi kẻ thù bên ngoài đều khao khát được cởi bỏ chiến bào để trở thành một phần của nó.
======================================================================
天啟雄文:《華夏同心論》
第三章:文化論 – 本色與同心
THIÊN KHẢI HÙNG VĂN:《 HOA HẠ ĐỒNG TÂM LUẬN 》
CHƯƠNG III: VĂN HÓA LUẬN – BẢN SẮC VÀ ĐỒNG TÂM
Quyển XV: Đa Nguyên Luận – Vạn Tượng Chi Mỹ
【 KINH VĂN 】
萬物共生,百花齊放。本色者,民族之靈魂;同心者,文明之歸聚。
(Vạn vật cộng sinh, bách hoa tề phóng. Bản sắc giả, dân tộc chi linh hồn; đồng tâm giả, văn minh chi quy tụ.)
【 LUẬN GIẢI CHI TIẾT 】
Những kẻ cai trị mang tư duy cũ kỹ và hẹp hòi xưa nay thường ra sức rêu rao một luận điệu phi lý rằng: "Muốn cho thiên hạ được thái bình thịnh trị, bờ cõi được vững bền, thì phải dùng bạo lực cường quyền để biến vạn dân thành một khuôn mẫu duy nhất, bắt tất cả phải suy nghĩ, nói năng và sống theo một dạng giống hệt nhau". Đó là một tư duy vô cùng ngu xuẩn và lệch lạc của những kẻ bất tài, lười biếng trong việc trị quốc, chỉ biết dùng sự độc đoán để khống chế thiên hạ.
Hành động áp đặt khiên cưỡng ấy chính là sự phá hoại tàn nhẫn đối với tự nhiên, chẳng khác nào nỗ lực tuyệt vọng của một kẻ muốn biến cả khu rừng bách thảo rực rỡ sắc màu thành một bãi cỏ hoang đơn điệu và cằn cỗi. Bản sắc riêng biệt của mỗi tộc người chính là linh hồn thiêng liêng cốt lõi của họ, là thứ không thể bị tước đoạt hay hòa tan. Sự vĩ đại kiêu hùng của Hoa Hạ vĩnh viễn không bao giờ nằm ở việc triệt tiêu sự khác biệt để tạo ra một xã hội vô hồn, mà nằm ở khả năng hòa hợp tuyệt vời của muôn vàn sắc thái, muôn vẻ bản sắc riêng biệt.
【 BIỆN LUẬN VÀ PHẢN BIỆN 】
Tầng lớp thống trị độc đoán luôn sợ hãi sự đa dạng, xem những phong tục tập quán, tiếng nói khác biệt của các dân tộc anh em là mầm mống của sự chia rẽ và phản loạn, từ đó chủ trương thực hiện chính sách đồng hóa triệt để bằng sắt và máu.
Ta lập ngôn ở đây để đập tan sự định kiến và bảo thủ đó!
Mỗi dân tộc, mỗi tiếng nói, mỗi phong tục tập quán lâu đời chính là một đóa hoa trân quý, độc nhất vô nhị trong khu vườn văn minh rộng lớn. Muốn cho đại thể Hoa Hạ được trường tồn rực rỡ và tràn đầy sinh khí, triều đình phải có bổn phận bảo hộ và để cho mỗi đóa hoa được tự do sinh trưởng, tự do tỏa hương sắc tự nhiên của chính mình, chứ tuyệt đối không phải là dùng quyền lực để chà đạp, ép buộc tất cả phải biến đổi thành một loài hoa duy nhất. Sự đồng tâm chân chính của một nền văn minh đỉnh cao không đến từ sự cưỡng bức đồng hóa, mà đến từ sự tự nguyện quy tụ, khi muôn vạn bản sắc khác nhau cùng chung nhịp đập hướng về đạo nghĩa công bằng tối cao của trời đất.
* Lập thuyết Hoa Hạ Đồng Tâm Luận là sản phẩm hư cấu. Phục vụ cho ý đồ của Thiên Khải Đế Dương Quảng, nhân vật chính của truyện. Không có thật. Không mang tính học thuật. Không có giá trị tham khảo.