Dòng sông Mẹ mùa hạn mặn rút xuống mức thảm hại, phơi bày những doi sình đen kịt, sủi bọt khí lục bục bốc mùi trứng thối và phèn chua chát ngắt. Nước sông không chảy nổi, nó đứng im, quánh đặc một màu đỏ quạch như nước rỉ sét từ lòng một cái đỉnh đồng rỉ sét trăm năm.
Thầy Ba đứng ở mũi chiếc ghe lườn mục nát, hai bàn tay thô ráp mộc mạc bấu chặt lấy cây sào tre, gồng cứng bắp thịt kéo lê chiếc ghe rẽ qua một thảm bèo lục bình chết héo. Ở tuổi ba mươi, thân xác của lão hoàn toàn là xương thịt phàm trần, đôi bàn chân trần lội nước phèn cả buổi sáng bắt đầu loét đỏ, rát buốt như bị kim châm; muỗi mắt bu thành từng đám mây nhỏ quanh tai, cắn sưng tấy cả hai bên vành tai mọc đầy lông tơ của lão.
"Đ.. má, ba đồng bạc cắc mà hành ông nội tụi bây đi lội cái đầm sình thúi này," Ba chửi thề một câu ráo hoảnh, nhổ toẹt mẩu tàn thuốc rê bết nước bọt xuống lòng sông.
Trước mặt lão là vũng xoáy rễ bần. Nơi này, những gốc bần cụt ngọn không mọc lá, rễ của chúng đâm tủa ngược lên cạn, ngoằn ngoèo và nhọn hoắt như năm ngón tay của những cái xác chết đuối đang cố cào cấu lấy không khí để tìm đường sống. Lớp váng mỡ sình màu vàng khè đóng thành từng mảng dày bao quanh những chiếc rễ bần, ruồi nhặng bu đen kịt, bay vo ve thành chuỗi thanh âm nhức óc.
Lão Ba đưa mắt ráo hoảnh nhìn quanh, hai tay thủ thế, rút từ sau lưng quần ra một cái cây móc sắt rỉ sét — công cụ hành nghề vớt xác trần tục của lũ phu chài lưới. Lão thọc mạnh cây móc sắt xuống tâm vũng xoáy, nơi dòng nước rỉ sét đang chuyển động đờ đẫn, chậm chạp quay quanh một cái hố sình ngầm dưới đáy sông.
Khực. Đầu móc sắt cắm ngập vào một khối vật chất nằng nặng, dẻo quánh dưới lòng sình sâu.
Lão Ba nghiến răng, gân xanh nổi dọc bả vai trái, cánh tay đang đau rần lên một cách bất thường, từng lóng xương nhức buốt vì bị hàn khí phèn chua mặn chát luồn vô tận tủy. Lão dùng hết tàn lực của gã đàn ông ba mươi tuổi quen nghề khuân vác, giật mạnh cây móc sắt lên khỏi mặt nước.
Một cái xác trồi lên khỏi mặt váng mỡ vàng khè.
Sình non bốc mùi lợm giọng. Bọc trong mớ quần áo vải thô rách tướp trông như là thi thể hình người. Nhưng kì dị thay, cái xác hổng hề trương phình như kẻ chết ngộp, nó xẹp lép lùng bùng, khiến tay lão Ba lạnh ngắt, da gà nổi rần rần. Nó nhăn nheo, lùng bùng và xẹp lép một cách tởm lợm, trông như một cái bong bóng heo bị xì hết hơi, trôi dạt lềnh bềnh giữa những rễ bần cụt ngọn.
Lão Ba tóm lấy chỏm tóc ướt sũng của cái xác, kéo rẹt một phát đặt nằm sấp lên sàn gỗ mục của chiếc ghe lườn. Cái xác không phát ra tiếng động giòn tan của xương khớp va chạm vào vách gỗ, mà nó đổ xuống một tiếng bạch... oạp... giống như một bao tải da chứa đầy nước bùn nhão.
Thầy Ba nheo mắt dòm kỹ. Làn da của cái xác trắng bệch, nhợt nhạt đến mức nhìn thấu được những đường gân xanh đen ngoằn ngoèo chuyển động bên dưới lớp biểu bì giống như lũ đỉa đói đang giãy giụa. Lão thọc tay vào túi quần lấy ra điếu thuốc rê tự quấn, quẹt diêm nhưng đầu diêm đã bị phèn chua ẩm mốc gặm mòn, không ăn lửa. Lão chửi đổng một tiếng, vứt cái quẹt diêm xuống sàn ghe, rồi thò tay sau lưng quần rút con dao phay bằng sắt cùn ra.
Lão lật ngửa cái xác lên. Mũi dao ấn nhẹ, lớp biểu bì xám ngoét lập tức sụp xuống như vũng sình lầy. Lớp vỏ nhão nhoét phát ra thứ tiếng xèo xèo ớn lạnh, trơn tuột như chạm một mảnh vải mục. Không có một giọt máu đỏ tươi nào tứa ra, cũng chẳng có lấy một đốt xương sườn hay một mảng nội tạng nào phơi ra ngoài.
Bên trong cái xác kia hoàn toàn trống rỗng. Nó chỉ là một cái bao tải da chứa đầy một thứ sình non đặc quánh, đen kịt, bốc lên mùi phèn chua loét trộn lẫn mùi mắm khú dơ dáy tột cùng. Và lẫn giữa vũng sình đặc bốc khói hôi rình ấy, vô vàn những tơ tóc rữa nát dài thượt, ướt sũng đang vặn vẹo, co thắt liên hồi như một ổ trùn chỉ vỡ tổ.
Đầu ngón tay lão Ba cứng đờ. Linh giác thầy pháp gào thét trong thâm tâm: Thứ này chẳng phải người chết đuối. Đây là một món đồ tùy táng được nhào nặn từ sình lầy để dâng cúng cho một khế ước ngầm nào đó.
Lũ tóc rối bên trong cái bụng rỗng đột ngột vươn dài ra, trườn qua mép vách da, hướng thẳng về phía những vết chai sần trên bàn tay phải của Thầy Ba với một tốc độ chậm rãi đầy bệnh hoạn.
Thầy Ba ném chiếc móc sắt xuống sàn ghe, hơi thở hốc hác trộn lẫn mùi sình non lợm giọng. Lão định mở hòm kiếng để tìm một lá bùa trấn oán, thì nhận thấy một mảnh giấy bổi cũ nát bị kẹt cứng giữa những sợi tóc rối của cái xác xẹp lép.
Đó là một tờ giấy bổi nhầy nhụa, bề mặt dính bết những lớp vảy cá lóc khô cong và thứ nhựa bần đặc quánh màu xám bẹ chuối. Mảnh giấy tỏa ra mùi mắm khú ủ lâu năm quện với vị chua loét của nước phèn đứng. Mực viết trên giấy không phải mực tàu thuần túy mà là hỗn hợp mực trộn với máu cá chết, khiến các nét chữ uốn lượn như giun bò và đang rỉ ra thứ dịch thể màu đen bầm nhạt nhẽo.
Dưới ánh nắng tháng Ba trắng lóa, những con chữ trên mảnh giấy bổi nhảy múa, bóp méo nhận thức của lão Ba:
“Khế ước bưng biền... Năm thứ mười bốn triều [...] Tế nạp mười ba hài nhi bọc lụa đào xuống vũng xoáy rễ bần... Đổi lấy mùa cá lóc đầy khạp, đất phù sa không nẻ mặn... Kẻ nào bội ước, Mẹ Đất Mục sẽ t r ở v ề s i ế t n ợ m á u…”
Lão Ba nhìn xuống dòng nước đỏ quạch rỉ sét và thấy hàng vạn khuôn mặt hài nhi đang mỉm cười rỗng tuếch dưới đám rễ bần mọc ngược. Vết sẹo phong ấn của Sư phụ trong lòng bàn tay trái của lão đột ngột nóng rực lên như bị gí sắt nung, báo hiệu một khế ước máu đã chính thức đánh dấu lão làm vật chứa nghiệp thay thế.
Ở mé ngã ba rạch, cách chiếc ghe lườn năm mươi sải tay, một đàn chuột cống nhum đầm lầy đã hoàn toàn đổi màu lông sang màu xám ngoét như màu vảy cá chết. Chúng không còn sợ nước phèn. Những con chuột bò lổm ngổm trên các thớ đất nẻ, hốc mũi khịt khịt đánh hơi thấy mùi sình non và tóc người phát ra từ phía ghe lão Ba. Đôi mắt chúng rực lên một màu đỏ lân tinh quái dị, bầy chuột đồng loạt ngửa cổ lên trời, phát ra những tiếng kêu chít chít khò khè bọt nước y hệt tiếng rên rỉ của những sinh linh ngạt nước.
Dưới lòng sông cạn, loài chim bìm bịp mắt đỏ — thứ khắc tinh bẩm sinh của vạn loài độc xà và mầm ngải — đậu kiên nhẫn trên những thân bần cụt ngọn. Con chim bìm bịp không kêu; nó trừng trừng nhìn xuống vũng mỡ sình vàng khè, cái mỏ sắc lẹm của nó thỉnh thoảng mổ phập xuống một sợi tóc người đang trồi lên từ kẽ rễ bần, nuốt chửng vào diều với một sự thèm khát tăm tối.
Lão Ba dùng lưỡi dao phay hất toàn bộ đống tóc rối và sình đặc trở lại cái vỏ da, gói rịt cái xác mục lại bằng một tấm bao bố cáu bẩn. Lão cắm sào, đẩy ghe quay về bến đò, mồ hôi lạnh túa ra dọc sống lưng làm ướt đẫm mảng áo bà ba sờn rách vai.
Trên bờ bến đò, lão Tư Ếch và Dì Bảy vẫn ngồi đó, nhưng khuôn mặt của họ lúc này đã méo xệch đi một cách phi lý, không còn dáng vẻ hoảng hốt tìm kiếm thằng nhỏ như lúc nãy. Ánh mắt họ không nhìn vào Thầy Ba, mà dán chặt vào tấm bao bố đang rỉ ra thứ nước phèn màu đen ngòm lạch tạch xuống sàn ghe. Lão Tư Ếch nói vọng xuống bằng cái giọng khò khè ùng ục nước:
"Vớt được xác thằng con của góa Cẩm chưa thầy pháp? Ngó bộ nặng gánh dữ nghen."
Thầy Ba bước lên bờ sình loét choét, lôi cái xác không xương xềnh xệch trên đất nẻ. Lão không nhìn hai kẻ dư hơi kia, đưa bàn tay phải quệt ngang mồ hôi trên trán, ráo hoảnh đáp:
"Nặng cái con mẹ nó. Đưa tao tới chòi con Cẩm. Cái xác này đách phải người, vớt vát cái quỷ gì. Tụi bây đang nuôi quỷ hay cái giống gì!"
Dì Bảy nghe vậy bỗng cười hinh hích, cái nụ cười cứng đờ dán chặt vào hộp sọ không làm xê dịch các nếp nhăn trên khóe mắt. Mụ không trả lời, chỉ dùng móng tay đen ngòm cào mạnh vào cẳng tay trái làm bong ra một mảng da vảy cá xám ngoét dưới ánh nắng tháng Ba nung chảy mỡ người.