Cái nắng tháng Ba đổ lửa, bỏng rát như xát muối vào da thịt, nó không phải thứ nắng hanh vàng thông thường; nó như cái chảo lửa hầm hập đặc quánh trắng lóa, nung chảy lớp phù sa dưới lòng sông cạn thành những thớ vảy bùn khô khổng lồ rạn nứt loang lổ. Hơi đất hầm hập bốc lên từ mấy khe nẻ dọc rìa doi đất, ngó xuyên qua lớp nắng gắt lờ đờ mờ câm, vạn vật như bị một màng sáp vàng khè bao phủ nhòe nhẹt.
Bến đò đứng gió. Từ chòi lá mé sông xộc lên mùi cá lóc nướng trui khét lẹt, vờn quanh lớp váng mỡ sình vàng khè bám đầy xác nhặng xanh. Tiếng máy dầu rống lên đứt quãng ngoài dòng nước đỏ quạch mùi rỉ sét, nấc lên vài tiếng khô khốc rồi lịm tắt một cách quái gở, nhường chỗ cho tiếng chửi thề văng mạng của mấy tay bợm nhậu dưới gốc bần thối.
Dưới gốc bần rụng trái thối bầm dập, sáu bảy gã đàn ông cởi trần, da thịt sạm đen vì nắng háp, bắp thịt nổi cuồn cuộn đang gác chân lên phản gỗ gãy, vừa nốc thứ rượu đế sủi tăm vừa gãi sột soạt vào lớp da hông. Lớp da non chỗ be sườn gã lái đò tên Tư Ếch nổi lên từng mảng vảy xám ngoét, rỉ dịch mủ sáp trắng đục mùi long não. Gã giấu nhẹm nốt ngứa ấy bằng cách phếch một vệt mỡ cá lóc đặc sệt lên người, rồi hạ giọng chửi đổng:
"Mả cha cái nước sông, càng uống càng rát họng. Ghe bầu lão quản sự bữa nay chưa về, xóm này hết mẹ nó gạo ngọt ăn rồi!"
Dì Bảy ngồi trong quán nước kế bên, đôi mắt lờ đờ không thèm ngước lên, giọng nhừa nhựa:
"Gạo trấu còn không có mà đổ vô họng, ở đó mà ngọt với lạt. Lo mà chèo ghe ra vũng xoáy, nghe đâu đêm qua lại có đứa sẩy chân."
Chiếc ghe lườn lầm lì ủi cái mõm sứt sẹo vào bãi sình loét choét mé bờ. Thầy Ba bước một chân trần xuống bùn non. Bùn đặc quánh kẹp chặt lấy năm ngón chân chai sần, nước phèn ăn loét đỏ rát mút lấy mắt cá chân lão.
Thầy Ba rập ranh tuổi ba mươi, cơ thể cường tráng nhưng gầy gò do đói ăn và lội bộ đường trường suốt ba tỉnh Nam Sơn. Lão mặc bộ bà ba đen sờn cũ rách bươm hai bên nách, vạt áo dính bệt mồ hôi chua loét. Sau lưng quần dắt một con dao phay bằng sắt cùn của thợ rèn địa phương, chuôi gỗ quấn dây kẽm gỉ sét. Lão là một gã thầy pháp nghèo kiết xác, đang trốn chạy nợ nghiệp nát xương từ miệt Xứ Phèn Độc dạt về vùng biên thùy hẻo lánh này để kiếm cơm qua ngày.
Thầy Ba đứng tựa lưng vào gốc cây bần lớn mọc nhào ra mé nước tại bến sông, bàn tay phải gầy gộc thọc vào túi áo bà ba đen sờn cũ để lôi ra một nhúm thuốc rê vụn và mảnh giấy nhật trình rách. Mảnh giấy đã bị nước phèn ăn mòn đến mủn ra như bã đậu, mực in nhòe nhoẹt xen lẫn những vết ố vàng loang lổ của nước mưa và mùi đất ẩm.
"...Tin từ Phủ Long Thành... Vụ thảm sát tại Xứ Phèn Độc vẫn là một hố đen của giới Chấp pháp... [Một vệt máu loang lớn xóa mất đoạn giữa]... Thống lĩnh Trần Khải của Phủ Dị Sự phát lệnh phong tỏa toàn bộ long mạch vùng trũng... Truy nã một đồ đệ phái Thiết Mộc Tông mang nợ nghiệp mười ba mạng người...".
Thầy Ba rít một hơi khói khét lẹt từ chiếc tẩu quấn mảnh giấy nhật trình rách, khói thuốc bay xiên xẹo rồi đứng bệt lại giữa không trung như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Lão nheo con mắt ráo hoảnh nhìn vào dòng chữ "Vụ thảm sát Xứ Phèn Độc" đang dần bị lửa than thiêu rụi thành tro xám. Khói thuốc bay xiên xẹo, đứng bệt lại giữa không trung rồi chìm lặn xuống mặt đất rỉ sét dưới gốc bần.
"Mả cha nó, cái đất gì sặc mùi xác thối… Trật tự Sắt cũng đách dám thò chân tới…" Ba lẩm bẩm, giọng ráo hoảnh, cộc lốc.
Lão xách theo một hòm kiếng mẻ góc sờn tróc, bên trong lỉnh kỉnh vài xấp bùa giấy vàng vẽ sẵn bằng Thạch khoáng huyết sắc, cái túi đụt da trâu ẩm mốc chứa gạo muối trộn bột khoáng huyết sắc.
Nằm khuất sau những xấp bùa vàng chu sa là một hũ sành nhỏ, nước men đã rạn nứt thành những đường vân chằng chịt như mạng nhện, cổ hũ quấn chặt nhiều vòng bằng dây chuối khô đã chuyển sang màu đen xỉn. Khi Thầy Ba xốc nhẹ hòm kiếng, chất lỏng bên trong sánh đặc, phát ra tiếng “ọc ọc” nặng nề, tỏa ra mùi hăng hắc của mực tàu quyện với vị tanh nồng của máu chó rừng bị nhiễm tà khí từ rừng tế. Miệng hũ bết dính những mảng sáp mực đã khô cứng, xù xì và lạnh ngắt, cảm giác như đang chạm vào lớp da của một xác chết lâu ngày.
Mảnh giấy bản bết dính trên thân hũ sành đã bị nước phèn chua ăn mòn, chỉ còn sót lại vài dòng chữ Nôm rách nát:
“Mực trộn tủy… kỵ nhất nắng t r ư a… vẽ m ộ t n é t, nợ m ộ t s á i… k h ô n g đ ư ợ c t r ả b ằ n g t i ề n…”
Đó là toàn bộ tài sản của gã thầy pháp nghèo kiết xác đang đói rã họng.
Cách bến đò hai cây số đường lầy lội là gò mả lạng hoang vu, nơi cỏ cú và bẹ chuối rũ mục mọc um tùm như chực chờ nuốt chửng những nấm mồ không tên.
Ông Chín Mù, mình trần, da sạm bám đầy bụi đất gò mả, hai hốc mắt sâu hoắm trắng dã đục ngầu do cườm nước, đang cặm cụi dùng xẻng sắt băm gân đất. Công việc sáu mươi năm của lão chưa từng lệch một nhịp: sáu giờ sáng đào huyệt, trưa ăn cơm mắm khú, chiều nhặt xương cổ vỡ, đêm nằm dưới hố nói chuyện với linh hồn người vợ quá cố.
Lão Chín mấp máy bờ môi khô khốc, đứng sững giữa bãi tha ma. Hai hốc mắt sâu hoắm, đục ngầu như ráng chiều tàn ghim chặt về hướng bến đò đang sặc sụa mùi tử khí.
Dưới mé sông, cái loa cũ mèm rè rè rống lên bài ca cổ đứt quãng, chìm lấp giữa những tràng chửi thề văng mạng của đám bợm nhậu.
"Tới bến đi mậy! Chén này không cạn là làm chó nghen bưởi!" Chú Tư Ếch, gã lái đò khét tiếng nát rượu, dập mạnh cái ly sứt mẻ xuống chiếu, rượu đế văng tung tóe lên đôi chân nứt nẻ phèn chua.
"Thôi đi cha nội! Chiều nay vợ tía nó lột da tía bây giờ! Uống như hạm!" Một gã trai trẻ cười hô hố, tiện tay bốc khúc ruột cá lóc bỏ tọt vào mồm nhai nhóp nhép, mỡ cá chảy tràn qua kẽ môi.
"Sợ cái con khỉ khô! Đàn bà là cái bến, đàn ông là con đò. Đò đậu đâu bến phải chịu đó chớ!" Lão Tư Ếch trợn mắt, vỗ đùi bôm bốp.
Cách đó mươi bước chân, mấy bà thím đội nón lá rách bươm đang lúi húi xẻ khô cá lóc trên những tấm phên tre. Ruồi nhặng bu đen bu đỏ, bay vo ve thành từng đám như đám mây. Tiếng dao thớt lạch cạch, tiếng con nít khóc ré lên đòi bú, tiếng chó cỏ sủa cắn nhau ầm ĩ quanh đống rác ngổn ngang bốc mùi ối a. Không khí kẹo lại, dính bệt mồ hôi. Hơi nóng từ mặt đất bốc lên làm cảnh vật lờ đờ, rung rinh như nhìn qua một lớp kính mờ.
Thầy Ba lân la lại cái quán nước lụp xụp, ngồi xổm trên bục đá trước quán cóc của dì Bảy, rít điếu thuốc rê cháy đỏ bừng. Lão nhả một ngụm khói mù mịt, mắt ráo hoảnh đảo quanh cái cồn nghèo xơ xác này. Lão đến đây vừa để trốn chạy nợ nghiệp, vừa theo lời nhờ vả đi tìm mộ thất lạc, một cái mánh kiếm cơm cò con. Nơi này, theo mắt lão, trần tục đến mức ma quỷ cũng chê không thèm tới. Người sống đông đúc, ồn ào và lấn át mọi thứ âm khí.
"Uống miếng nước trà đi cậu. Nắng nôi vầy, ngồi ỳ ra đó trúng gió độc có ngày." Dì Bảy bưng ra cái ca nhựa cáu bẩn, bên trong là thứ nước màu nâu nhạt quánh lại vì để lâu.
"Cảm ơn dì." Thầy Ba đón lấy ca nước, tu một hơi. Vị chát ngầm ngầm của lá trà lẫn với vị mằn mặn của mồ hôi rịn quanh mép môi. "Cái cồn này cạn nước vầy, bà con làm ăn sao sống nổi hở dì?"
"Thì nhe răng ra mà chịu chớ sao cậu." Dì Bảy chép miệng, hất hàm về phía mạn sông.
"Cậu coi, cạn trơ cả gốc bần. Hồi xưa nghe mấy ông bà già kể, khúc sông này là chỗ nước xoáy, xác chết trôi sông dạt về đây mắc kẹt vào rễ bần nhiều vô kể. Đâm ra mới có cái tên Cồn Xác Trôi. Chèn đét ơi, nói nào ngay, đất này linh lắm đó nghen!"
Thầy Ba bật cười khùng khục, nụ cười nửa miệng của kẻ tự coi mình là thầy pháp biết tỏng mánh lới giang hồ.
"Đất linh gì mà người sống đói rã họng, giẫm đạp lên nhau mà sống vầy dì Bảy? Linh là linh ba cái đồng bạc cắc thì có."
Đang nói dở câu, âm thanh huyên náo của xóm đò bỗng nhiên rẽ ra một nhịp. Con Cẩm bước lên từ bến nước.
Không có tiếng xì xầm nào cất lên lập tức, nhưng Thầy Ba cảm nhận được hàng tá ánh mắt đục ngầu của mấy gã đàn ông trên bàn nhậu đồng loạt dán chặt vào tấm lưng người đàn bà ấy. Con Cẩm góa chồng đã ba năm. Nó bận chiếc áo bà ba màu nâu non đã bạc phếch, dính bệt vào mảng lưng ướt đẫm mồ hôi, hằn rõ những đường cong tàn úa nhưng đàn bà đến tức thở. Mái tóc đen nhánh, dài thượt ướt sũng nước sông vắt một bên vai.
Nó xách một cái giỏ mây nặng trĩu, rỉ ra những giọt nước phèn đục ngầu, sền sệt, nhỏ tong tong xuống lớp bùn khô. Đi theo sau nó là thằng Lượm, thằng con trai lên sáu ốm nhom ốm nhách, da đen trui, mình mẩy chỉ độc chiếc quần cộc trát đầy sình non.
"Bà nội cha nó, con Cẩm ngó bộ mướt rượt hà!"
Chú Tư Ếch nuốt nước bọt cái ực, thì thào vào tai gã thanh niên bên cạnh. Tiếng thì thào thô bỉ lọt thỏm giữa tiếng vọng cổ nhừa nhựa.
"Mướt thì mướt, mà đụng vô nó có ngày tàn đời nha tía. Nghe đồn từ hồi chả chết đuối, đêm nào nó cũng ra mé sông ngồi cào sình bỏ vô lu gạo. Người ngợm lúc nào cũng tanh rình mùi mắm khú, hổng ai dám rớ."
Gã thanh niên cười hềnh hệch, bốc thêm miếng mồi nhắm.
Thầy Ba nheo mắt nhìn theo bóng con Cẩm. Một người đàn bà lam lũ bình thường ở vùng quê nghèo. Chẳng có oán khí, chẳng có tà ma. Chỉ có sự mệt mỏi cùng cực hằn trên bờ vai trĩu xuống và gót chân rạn nứt vì phèn. Nó dắt thằng Lượm đi khuất sau rặng dâm bụt héo hon để về căn chòi lá ọp ẹp cuối cồn.
Phút xáo động ngắn ngủi vụt tắt, trả lại không gian ngột ngạt cho tiếng cụng ly và những tràng chửi thề tục tĩu. Lão Ba dụi điếu thuốc, toan đứng dậy thu xếp đồ đạc để vào xóm hỏi thăm mộ lạc.
Nhưng ngay lúc lão vừa đứng thẳng người lên, mặt trời đột ngột khuất sau một đám mây xám xịt khổng lồ từ phía thượng nguồn kéo tới.
Ranh giới âm dương mong manh như lớp sương mờ đột ngột ập xuống, nuốt chửng chút dương khí cuối ngày.
Cái nóng hầm hập bỗng chuyển sang một trạng thái trái khuấy: trán lão túa ra một lớp mồ hôi hột nóng rẫy, nhưng một luồng hơi lạnh buốt lại chạy xộc dọc theo tủy sống. Sự trớ trêu của thứ tà khí u uất đang bỡn cợt với sinh khí con người.
Gió từ mặt sông ngừng thổi hẳn. Dòng sông Mẹ đục ngầu phù sa bỗng phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ, không một gợn sóng, chết cứng.
Lão Ba khẽ nhíu mày. Lão nhận ra Âm thanh cõi dương bỗng chốc nghẽn đặc, méo mó một cách dị hợm. Tiếng chửi thề của lão Tư Ếch, tiếng khóc của đứa con nít, tiếng dao thớt băm thịt… tất cả vẫn đang diễn ra ngay trước mắt lão, nhưng âm thanh lại bị bóp nghẹt, như thể lão đang bị dìm đầu xuống dưới mặt nước và nghe mọi thứ vọng lại qua một màng lọc dày đặc.
Thứ âm thanh rõ ràng nhất lúc này, ma quái thay, lại là tiếng lép nhép kéo dài từ phía rặng dâm bụt ban nãy.
Lép... nhép... lép... nhép…
Tiếng bước chân dẫm lên sình non. Khứu giác của lão lập tức bị xâm lấn. Cái mùi khét lẹt của cá lóc nướng trui và mùi mồ hôi chua nồng của đám đàn ông bị thổi bay không tì vết.
Thay vào đó, một luồng khí lạnh ngắt xộc thẳng vào hai hốc mũi lão. Đó không phải mùi thối của rác. Đó là mùi của bùn sâu lên men dưới đáy ao giam hãm hàng chục năm, quyện chặt với cái mùi hăng hắc, buồn nôn của mồ hôi nhục dục và một thứ mùi thanh khiết đến rợn người của nhang trầm loại thượng hạng. Mùi nhang trầm thanh khiết quẩn quanh thứ uế khí dơ dáy đâm xộc vào mũi, khiến dạ dày lão lộn nhào, buồn nôn tột độ.
Lão quay phắt đầu về phía rặng dâm bụt. Ở đó, thằng Lượm không theo mẹ về nhà. Nó đang đứng chết trân dưới bóng râm của một cây bần cụt ngọn, cách lão chừng mười sải tay.
Thằng nhỏ đưa bàn tay cáu bẩn lên gãi ngứa ở cẳng tay trái. Thao tác rất bình thường của một đứa trẻ bị muỗi đốt. Nhưng nó gãi mạnh quá. Móng tay đen ngòm cắm ngập vào da thịt.
Lão Ba nín thở. Lão thấy rõ, dưới lực cào xé ấy, lớp da non nớt của thằng bé không bong ra những vệt xước đỏ ửng rướm máu. Nó lật bong lên thành từng mảng cứng cáp, sáng loáng dưới thứ ánh sáng nhờ nhờ của buổi chiều tà.
Bên dưới lớp da người ấy, không phải là cơ thịt đỏ hỏn, mà là một lớp vảy nhớp nháp, xám ngoét, xếp lớp lên nhau y hệt vảy của một con cá lóc khổng lồ đang rỉ ra thứ chất nhờn trong vắt, đặc quánh. Thằng bé vẫn cặm cụi gãi, khuôn mặt vô hồn không bộc lộ một tia đau đớn nào, trong khi Không gian nín bặt. Xuyên qua màn sương chiều đặc quánh, âm thanh sụn sột của móng tay cào lên lớp vảy cá xoáy thẳng vào màng nhĩ, khiến da gà dọc sống lưng lão Ba rần rần nổi cộm, chân tay lạnh ngắt.
Mắt lão Ba giật liên hồi. Lão định cất tiếng gọi nó, định chạy tới vạch tay nó ra xem cho rõ.
Nhưng trước khi lão kịp cử động, từ phía sau lưng thằng Lượm, trong vùng tối đen đặc của bụi rậm, một bàn tay trắng bệch, thon dài lướt ra. Bàn tay ấy không có móng, các đầu ngón tay mềm nhũn, rỉ nước. Nó chậm rãi đặt lên vai thằng Lượm, vuốt ve lớp vảy đang tróc ra với một sự nâng niu, vỗ về ma quái, ớn lạnh.
Thằng Lượm ngước khuôn mặt đờ đẫn lên khoảng không tối tăm đó, mấp máy môi:
"Má Cẩm... ngứa...". Nhưng con Cẩm đã đi về chòi từ mười phút trước rồi mà.
Lão Ba Cụt nuốt khan, sống lưng lạnh toát. Mặt trời hoàn toàn tắt bóng. Xóm đò chợt im ắng một nhịp trước khi lũ chó cỏ đồng loạt ngửa cổ sủa tru tréo lên không trung, từng âm thanh xé nát cái màng nhầy của cõi dương.
Thầy Ba rời khỏi quán Dì Bảy, đôi mắt lão vẫn còn dính bệt hình ảnh cái bàn tay trắng bệch nhầy nhụa vừa lướt qua vai thằng nhỏ. Lão không xông ra ngay lúc đó. Nhãn quan thực dụng của một gã giang hồ hành pháp bảo lão rằng, khi mạch đất đang rùng mình rò rỉ tà khí, kẻ nào nôn nóng kẻ đó chết trước.
Lão lội bì bõm qua một đoạn đê trơn tuột, nước phèn chua loét ngấm vào những vết ghẻ nước dưới kẽ chân làm lão nghiến răng trệu trạo. Lão tìm thấy một chiếc ghe lườn cũ nát nằm phơi bụng trên bãi sình, cách quán dì Bảy một quãng đủ xa để không phải nghe tiếng chửi thề của đám bợm nhậu.
Thầy Ba ngồi bệt xuống be ghe mục, rút từ sau lưng quần điếu thuốc rê nát bấy. Lão quẹt diêm, nhưng đầu diêm đã bị phèn chua ẩm mốc gặm mòn, đánh mãi chỉ ra vài tia lửa xám xịt rồi lịm tắt. Lão chửi đổng một câu ráo hoảnh:
"Khốn nạn, tới cái lửa cũng phản tao hử mậy?"
Lão gục đầu xuống gối, cơn đói cồn cào trong bao tử lép kẹp làm linh giác của lão mờ đi một nhịp. Trong cái nóng hầm hập của buổi chiều đứng gió, mùi mắm khú từ xóm vạn đò quyện với mùi bẹ chuối hoại tử tạo thành một thứ không khí đặc quánh, ru ngủ cái nhục thân phàm trần đang kiệt quệ của gã lữ hành.
Giữa lúc gã thầy pháp gục đầu thiếp đi vì thân xác phàm trần đã cạn kiệt sinh lực, nơi rặng dâm bụt héo rũ, một cõi âm u tà mị lặng lẽ rẽ lối bước vào thực tại.
Thằng Lượm vẫn đứng đó, trơ trọi như một cái cọc tre cắm nhầm chỗ. Tiếng muỗi vo ve bỗng nín bặt phi lý. Dòng sông Mẹ đang chảy xiết bỗng đứng im phăng phắc như một tấm gương đen kịt.
Bàn tay không móng từ bóng tối bụi rậm bắt đầu rịn ra thứ dịch nhầy trong vắt, quấn chặt lấy cổ họng thằng bé, nhưng nó không khóc. Lớp vảy cá trên tay thằng Lượm bắt đầu phập phồng, co thắt theo nhịp đập của mạch nước ngầm nhiễm độc bên dưới. "Má Cẩm... ngứa... ngứa quá…" Thằng nhỏ mấp máy môi, tiếng nói nghe như tiếng nước sủi bọt từ một cái họng ngập sình.
Nó lững thững bước xuống mép nước. Nước phèn chạm vào chân nó không làm loét da, mà trái lại, những miếng vảy xám ngoét bắt đầu "uống" nước một cách thèm khát. Thằng Lượm từ từ chìm xuống vũng xoáy rễ bần, không một tiếng động, không một gợn sóng, chỉ để lại những bong bóng khí đục ngầu mùi mỡ cá chết.
Mặt trời rớt tõm xuống mạn sông như một cục hòn ban đỏ lừ, tắt ngúm. Thầy Ba giật thột tỉnh giấc bởi tiếng chó cỏ sủa tru dài.
Lão lết đôi chân tê dại quay lại phía bến đò để tìm chút trà quạo chống đói. Lúc này, không gian đã không còn cái vẻ xô bồ của ban chiều. Đám thanh niên mặt mày xám ngoét, dì Bảy thì lóng ngóng đánh rơi cả chén sứ. Đám đông nhốn nháo, mặt mày tía tai, có kẻ quýnh quáng đánh rơi cả chén trà khi hay tin thằng Lượm nhà góa Cẩm bặt tăm từ xế trưa. Có người mách rằng hồi trưa thấy nó đi lân la ra chỗ vùng xoáy nước rễ bần, chắc sảy chân chết đuối rồi.
Giữa làn sương mù đục ngầu phả lên mùi tử khí, lão Quản sự bước ra với cặp mắt cá diếc lồi hẳn ra ngoài, như lúc nãy. tuyệt nhiên không có một chút lo lắng như đám người kia đang chạy đi tìm kiếm thằng nhỏ. Lão tiến thẳng về phía Thầy Ba, chằm chằm vào cái hòm kiếng cũ rách trên tay Ba, khóe môi giật nhẹ, nhếch lên nụ cười cứng đờ, lớp da xám căng ra như dán sát vô sọ khỉ.
"Thầy pháp từ miệt trên dạt xuống hả? Ngó bộ nghèo kiết xác." Giọng lão quản sự khò khè, âm thanh như tiếng hai tấm ván hòm cọ xát vào nhau.
Thầy Ba không thèm chào, lão hạ hòm kiếng xuống phản gỗ, đưa hai ngón tay gõ gõ lên mặt bàn, mắt ráo hoảnh dòm thẳng vào nếp vảy xám trên cổ lão già:
"Nghèo mới dạt về cái cồn chết trôi này kiếm cơm. Nghe đâu mới có đứa sảy chân hả, quản sự tính trả bao nhiêu tiền cắc để vớt?"
Lão quản sự im lặng một nhịp, thọc bàn tay gầy guộc vào túi áo bà ba bạc phếch, lôi ra ba đồng bạc cắc xỉn màu, dính phèn chua loét kèm theo một bọc giấy đỏ đựng gạo trấu mục. Lão đặt phạch đồng bạc xuống mặt phản:
"Ba đồng bạc cắc, một bọc gạo nấu cháo. Vớt cái xác thằng con trai góa phụ Cẩm dưới vũng xoáy rễ bần đem lên gò mả cho lão Chín chôn. Làm được thì ăn, hổng được thì cút, xóm này không nuôi người không."
Thầy Ba nhìn ba đồng bạc cắc xỉn màu.
Đó là ba đồng bạc cắc đã bị nước phèn ăn mòn đến mức bề mặt rỗ chằng chịt như tổ ong, không còn nhìn rõ mặt chữ hay hình chạm nổi ban đầu. Chúng xỉn một màu xanh tím tái, bốc lên mùi trứng thối nồng nặc của lưu huỳnh trộn lẫn mùi mắm khú dơ dáy. Khi Thầy Ba vơ lấy chúng từ tay lão Quản sự, ba đồng bạc không phát ra tiếng leng keng lanh lảnh của kim loại quý, mà chúng kêu lạch cạch... lạch cạch... trầm đục, khô khốc như tiếng răng của người chết trôi va vào nhau trong vũng xoáy.
Lão Ba liếc nhìn những vệt gỉ xanh loang lổ đang rỉ ra thứ màu xám bẹ chuối trên lòng bàn tay mình. Đây không phải tiền mồ hôi nước mắt thông thường; đây là "Tiền ngậm hàm" — thứ bạc lẻ được đặt vào miệng xác chết trước khi đóng nắp áo quan để trả lộ phí đi đò. Lão Quản sự đã dùng tiền của người chết để mướn người sống làm một việc đoạt mạng. Nhận ba đồng bạc này, Thầy Ba đã vô tình chấp nhận gánh nợ nghiệp của cả cái xóm vạn đò này vào nhục thân mình.
Lòng bàn tay trái của lão bỗng râm ran đau nhói tận màng xương, một luồng âm khí âm ỉ từ lòng sông cạn bốc lên như muốn nuốt chửng lấy hơi thở của lão. Lão biết cái giá này rẻ mạt, nhưng bụng lão đang đánh trống trận. Cái khát khao lấp đầy bao tử lép kẹp đã đè bẹp luôn cái linh giác nhạy bén của kẻ mang nghiệp làm thầy.
Lão đưa bàn tay thô ráp cầm ba đồng bạc cắc nhét vào túi, dắt cây dao phay sắt cùn chặt hơn sau lưng quần, ráo hoảnh nói:
"Ba đồng bạc cắc... đủ mua một mạng chết trôi. Bà mẹ nó… dọn ghe, tới giờ mần ăn rồi."
Ba bước xuống bến sông, chiếc ghe lườn mục nát của lão từ từ đẩy ra giữa dòng nước đỏ quạch mùi rỉ sét, hướng thẳng về phía những rễ bần mọc ngược đang chìa ra như năm ngón tay quỷ ám dưới vùng xoáy sông Mẹ.