Trời chớm đông, sương lạnh buông xuống thành Thăng Long thành một tấm màn bàng bạc. Gió bấc rít qua những dãy hành lang hun hút, cuốn mấy chiếc lá ngô đồng khô xoáy tròn trên nền gạch Bát Tràng. Trước cổng Cung Linh Từ, cảnh tượng tịch liêu đến rợn người. Nơi từng rực rỡ nhất nhì hậu cung, đón bao bước chân ân sủng của bậc quân vương, nay cửa đóng then cài, hai chữ "Linh Từ" thếp vàng trên hoành phi cũng như phủ một lớp bụi mờ của sự ghẻ lạnh.
Kính Minh và Càn Quyết đứng lại trước cánh cổng gỗ lim đóng kín. Gió tạt vào tà áo gấm khiến Càn Quyết rùng mình. Phía sau hai vị Hoàng tử, mấy tiểu thái giám gồng mình ôm những rương gỗ nặng trĩu, bên trong chất đầy chăn gấm, áo lông cừu cùng mứt quả, điểm tâm thượng hạng.
"Mở cửa! Bổn điện hạ muốn vào vấn an Mẫu thân!" Càn Quyết bước lên, đôi mày kiếm nhíu chặt, giọng cậu trai ba phần nóng nảy, bảy phần phẫn uất.
Sau cánh cổng có tiếng lách cạch. Một kẽ hở vừa đủ một người lách qua được hé ra. Trần Nữ quan, kẻ được Hoàng đế Nhật Tôn đích thân giao việc canh giữ Cung Linh Từ, bước ra, theo sau là hai gã cấm vệ nai nịt gọn gàng, tay lăm lăm chuôi kiếm. Mặt mụ lạnh tanh, khẽ nhún gối hành lễ, nhưng ánh mắt toát vẻ ngạo mạn của kẻ đang nắm quyền trong tay.
"Hạ nhân thỉnh an nhị vị Điện hạ. Song thứ cho hạ nhân mạo phép, Thánh chỉ của Bệ hạ đã ban, Nguyên Phi Lệnh bà đang cấm túc dưỡng bệnh, trong không ra, ngoài không vào. Không có lệnh bài ngự tiền, bất kỳ ai cũng chẳng được bước qua bậc cửa này."
"To gan!" Càn Quyết trợn mắt, toan xông tới. "Ngươi dám lấy lông gà làm lệnh tiễn, cản đạo hiếu của Hoàng tử sao?"
"Em Quyết, lùi lại!" Kính Minh đưa tay giữ chặt bờ vai đang run lên vì giận của em. Mắt cậu điềm tĩnh, sâu như mặt hồ thu. Cậu hiểu chốn thâm cung này cứng quá ắt gãy. Kẻ trước mặt tuy chỉ là một Hạ nhân, nhưng sau lưng mụ là quyền uy tuyệt đối của Phụ Hoàng, và rất có thể cả ánh mắt dò xét của Hoàng hậu.
Kính Minh thong thả bước lên, khóe môi nở nụ cười nhã nhặn mà nặng ngầm. Từ trong ống tay áo rộng, cậu khéo léo trượt ra một túi gấm nhỏ, nặng trĩu, luồn vào tay Trần Nữ quan thật kín kẽ. Bạc chạm nhau lanh canh, trầm đục mà đầy cám dỗ.
"Trần Nữ quan ngày đêm túc trực nơi đầu gió, quả thật vất vả." Cậu cất giọng ôn tồn, mềm mỏng mà không hạ mình. "Ta và em Quyết làm con, không thể không tròn đạo hiếu. Nếu chẳng được gặp mặt, đành phiền Nữ quan mang giúp chút chăn ấm áo êm và đồ ăn này vào cho Mẫu thân. Mới đầu đông mà trời đã lạnh như vậy rồi, chút đồ mọn ấy, mong cô giúp chúng tôi."
Cảm được sức nặng của túi gấm, đuôi mắt Trần Nữ quan giật khẽ. Vẻ hống hách ban nãy tan như sương gặp nắng. Mụ khom người thấp xuống, giọng nịnh nọt: "Điện hạ có lòng, hạ nhân nào dám chối. Xin nhị vị yên tâm, đồ này hạ nhân sẽ đích thân đưa tận tay Nguyên Phi Lệnh bà."
Mụ nghiêng người, ra hiệu cho thị vệ mở rộng cánh cổng để đám thái giám chuyển rương vào. Đúng lúc cánh cổng lim hé rộng, một luồng hơi từ bên trong ùa ra, phả thẳng vào mặt Kính Minh. Đó chẳng phải cái lạnh ẩm mốc của nơi bị bỏ hoang, mà là hơi ấm dịu của than hồng cháy rực, kèm mùi hương nhè nhẹ, thanh tao: hương oải hương, thứ hương Nguyên Phi Ỷ Lan ưa nhất, thường tự tay xông trong lư đồng mỗi khi tĩnh tâm đọc kinh.
Hốc mắt Kính Minh bỗng nóng ran. Đôi vai gồng cứng để làm chỗ dựa cho em nay khẽ chùng xuống. Hơi ấm và mùi hương quen thuộc ấy như một lời hồi đáp không lời, xoa dịu bao nỗi lo đã gặm nhấm lòng cậu suốt những ngày qua. Mẹ cậu vẫn bình an, bà không phải chịu cảnh giá rét túng thiếu như những phi tần thất sủng khác chốn cấm cung.
"Đi thôi, em Quyết." Cậu kéo tay em rời đi, bước chân đã vững vàng nhẹ nhõm hơn nhiều.
Đi được một quãng, Càn Quyết vẫn hậm hực, đá văng chiếc lá khô dưới chân: "Anh cho mụ ta bạc làm chi? Hạng người ấy có đáng không?"
"Không đáng," Kính Minh khẽ đáp, mắt vẫn nhìn phía trước. "Nhưng anh cần Mẫu thân được ấm hơn là cần mụ ta mất mặt. Chuyện hôm nay, em nhớ giữ trong lòng, đừng để ai nghe thấy."
Càn Quyết ngẩn ra nhìn anh, rồi gật đầu, không hỏi thêm.
---
Cánh cổng vừa khép, chính điện Cung Linh Từ lại tĩnh mịch đến ngột ngạt. Rèm lụa rủ kín các ô cửa chạm trổ, ánh nến sáp leo lét hắt bóng người lên nền gạch. Ái Nhi đang cúi lau chiếc bình sứ thanh hoa bằng vạt lụa mỏng, trán rịn mồ hôi. Nàng liếc về chiếc giường lớn giữa tẩm điện, nơi có một bóng người cuộn tròn, trùm kín chăn gấm từ đầu đến chân, không nhúc nhích.
"Chị Tranh!" Ái Nhi buông tấm lụa, chống tay ngang hông, oán trách. "Em lau dọn đến đau cả lưng, còn chị cứ sướng rơn, nằm ườn trên giường phụng ỷ của Lệnh bà mà ngủ. Công bằng ở đâu chứ?"
Dưới lớp chăn dày, một cái đầu bù xù thò ra. Nguyễn Thị Tranh thở hắt, mặt đỏ lựng vì ngộp, trừng mắt: "Chẳng ai ra vào cung ta, cửa đóng then cài, lấy đâu ra bụi cho em lau mãi? Em tưởng nằm bó giò giả bệnh thế này là sướng lắm chắc? Lệnh bà đã dặn, con mụ Trần Nữ quan kia một ngày ngó nghiêng ba bận, ta mà không trùm chăn giả bệnh cho khéo, mụ thấy Lệnh bà chẳng có ở chính điện thì chúng ta kiểu gì cũng sẽ bị trị tội!"
Hóa ra người nằm trên chiếc giường ấy không phải Nguyên Phi. Thị Tranh chỉ là kẻ thế thân, giữ chỗ cho chủ nhân đang bận việc khác ở nơi mà kẻ canh cổng chẳng thể nào ngờ tới.
Nàng vừa dứt lời, định ngồi dậy hít thở thì ngoài kia vang lên tiếng chân lộp cộp cùng tiếng bản lề kèn kẹt.
"Trần Nữ quan tới!" Ái Nhi rít qua kẽ răng.
Nhanh như chớp, Thị Tranh kéo tuột chăn trùm quá đầu, cuộn mình quay vào vách, cố ho từng tiếng đứt quãng của kẻ bệnh nặng. Ái Nhi vội chỉnh vạt áo, rũ mắt đứng cung kính cạnh lư hương.
Trần Nữ quan bước vào, theo sau là hai thị vệ khiêng mấy rương lớn. Mắt mụ sắc như dao cạo quét quanh tẩm điện, rồi dừng lại ở đống chăn gấm phập phồng những nhịp thở nhọc nhằn.
"Nhị vị Điện hạ có lòng hiếu thảo, gửi áo ấm và đồ ăn cho Lệnh bà." Mụ cất giọng lanh lảnh, đầy vẻ bỡn cợt. "Hạ nhân xin lại gần, thay mặt Điện hạ vấn an Lệnh bà một tiếng."
Nói rồi mụ bước tới, toan vén tấm rèm lụa mỏng trước giường.
"Khoan đã!" Ái Nhi lao tới như mũi tên, dang tay chắn ngang. Mặt nàng tái mét, tim đập thình thịch muốn vọt khỏi lồng ngực, nhưng giọng vẫn cố cứng cỏi: "Nữ quan dừng bước! Đêm qua Lệnh bà lại phát sốt cao, hàn khí thấm tận xương tủy, ngự y từng dặn bệnh này rất dễ lây. Nữ quan là người thường xuyên bẩm báo ngự tiền, nhỡ nhiễm chướng khí, kinh động đến long thể Bệ hạ, tội ấy Nữ quan có gánh nổi chăng?"
Trần Nữ quan khựng lại, bàn tay lơ lửng từ từ hạ xuống. Mụ nheo mắt hồ nghi, tiến nửa bước, ép sát mặt vào Ái Nhi, gằn từng tiếng: "Bệnh mười mấy ngày chẳng thuyên giảm? Lạ thật. Hay để hạ nhân quay về bẩm Bệ hạ, xin ân chuẩn cho vài vị danh y Thái y viện vào bắt mạch bốc thuốc cho Lệnh bà. Kẻo mang tiếng hậu cung chăm sóc không chu toàn!"
Ái Nhi căng như dây đàn sắp đứt. Nếu mụ đem Thái y tới, màn kịch giả bệnh sẽ bị vạch trần, tội khi quân, Cung Linh Từ lập tức thành pháp trường. Mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng. Nàng gắng giữ bình tĩnh, nắm nhẹ tay mụ, giọng dịu hết mức: "Nữ quan vất vả rồi. Lệnh bà chỉ cần tĩnh dưỡng vài ngày là khỏi, đâu dám làm phiền Bệ hạ cùng Thái y viện." Tay kia đã luồn vào vạt áo, định lôi tấm ngọc của mình ra đút lót cho mụ mau đi.
Nào ngờ giọng mụ bỗng mềm xuống, khác hẳn dáng vẻ đằng đằng thường ngày. Vẻ dò xét tan biến hẳn. Túi bạc nặng trĩu của Kính Minh còn nằm trong tay áo mụ, mà lòng tham của kẻ ấy thì chẳng bao giờ biết cãi lại đồng tiền.
"Cô Nhi nói cũng phải. Lệnh bà cần tĩnh dưỡng, hạ nhân không quấy rầy nữa. Để đồ ở đây, chúng ta lui."
Mụ hất cằm bảo thị vệ đặt rương xuống rồi quay lưng bước ra. Tiếng khóa sắt "cạch" vang lên lạnh lẽo, để lại Ái Nhi đứng ngây, mắt tròn mắt dẹt. Nàng nào biết vì sao mụ đổi ý.
Khi tiếng chân mụ đã xa, Thị Tranh mới dám tung chăn ngồi bật dậy, Ái Nhi ngồi phịch xuống đất than ngắn thở dài:
"Hôm nay mặt trời mọc đằng tây chăng? Con mụ này ngày nào cũng làm khó chúng ta, phải có tiền mới chịu quay gót, vậy mà nay ta chưa kịp làm gì mụ đã đi mất rồi! Là cớ làm sao?!"
Thị Tranh trèo xuống giường, chạy đến bên Ái Nhi, giọng run run: "Nguy quá! Chút nữa là tiêu rồi!" Rồi nàng nhìn chiếc hòm nhỏ cất dưới gầm giường. "Trang sức và vàng bạc Lệnh bà mang theo sắp cạn sạch rồi. Đám ấy chẳng khác quỷ đói. Chẳng có tiền riêng của Lệnh bà ngày ngày đút lót, than sưởi, chăn gấm, đồ ăn ngon chúng đều cắt xén, chỉ đưa vào toàn thứ ẩm mốc. Đến lúc cạn tiền, lấy gì đổi hơi ấm đây?"
Cả hai bước tới chiếc rương các Hoàng tử vừa gửi vào, mở nắp. Bên trong là những xấp áo lông cừu dày dặn, những túi than không khói thượng hạng, cùng vô vàn đồ ăn khô ngon lành. Cả hai ôm nhau mừng rỡ, Thị Tranh xém chút chảy nước mắt vì xúc động.
"Không sao rồi. Có đồ của hai vị Điện hạ, ít nhất ta cũng cầm cự qua hết mùa đông khắc nghiệt này."
Ái Nhi nhìn đống áo ấm ấy gương mặt đang hoảng loạn dần lấy lại chút thần sắc: "Từ ngày chúng ta phải chôn chân chốn này thì hai vị Điện hạ vẫn luôn gửi lời hỏi thăm, bây giờ lại gửi đồ vào, nghĩ đến là ấm lòng rồi! Đồ tốt nhiều như vậy, hai vị ấy hẳn đã tốn không ít tâm tư. Nhưng…”
“Cung của Lữ Chiêu Nghi, của các Thái Phi Cung Trường Thọ cũng từng gửi đồ đến thăm hỏi dẫu chúng ta cũng đâu thân thiết gì với họ!?” Ái Nhi trầm ngâm nghi hoặc.
“Lệnh bà chúng ta từng quản lý lục cung, cũng từng chăm sóc cho bọn họ, dù thường ngày một câu họ không hỏi đến nhưng trong lúc nguy nan chắc cũng đôi phân động lòng thương,” Thị Tranh mơ hồ phán đoán, hai tay sờ qua sờ lại tấm vải ấm trong gương rồi bỗng chợt rơi vào trầm tư, “Chỉ tiếc là Càn Đức Điện hạ, cũng là con ruột Lệnh bà chúng ta nhưng đến một câu hỏi thăm cũng chẳng có, thật chạnh lòng!” Thị Tranh không giấu nổi ủ dột, ánh mắt nàng ta vừa có nét u buồn, vừa phảng phất nỗi bực dọc.
Ái Nhi vỗ nhẹ vai Thị Tranh, cẩn trọng nhắc nhở: “Chị tuyệt đối đừng nhắc đến Đức Điện hạ trước mặt Lệnh bà, kẻo bà buồn!”
“Chuyện này đương nhiên ta biết! Ta chỉ là buột miệng cảm thán thôi!”
Tiếng thở dài của cả hai hòa cùng tiếng gió đông rít ngoài cửa từng hồi. Cung Linh Từ từ rực rỡ trở nên vắng lạnh, thê lương đến thế, thật là làm lòng người ngao ngán.
---
Không khí Tây Điện đặc quánh mùi ẩm mốc, mục nát của màn trướng cũ rách và bụi lưu cữu bao năm. Ánh sáng lọt qua kẽ ngói vỡ, hắt lên đồ đạc ngổn ngang bám đầy mạng nhện. Hữu Thắng, gã thái giám tổng quản của Cung này, thở hồng hộc, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Hắn dùng hai tay bẩy chiếc tủ lim nặng trịch ra khỏi góc tường rồi ngã bệt xuống đất, vừa ho sặc sụa vừa thều thào:
"Lệnh bà... khụ khụ... Đã mười mấy ngày chúng ta lật tung cái Tây Điện này lên. Gầm giường, xà nhà, sau rèm, chỗ nào cũng đã gõ thử. Hay là Bệ hạ chỉ tùy miệng nói bóng gió, thật ra chỉ muốn phạt chúng ta dọn cái kho rách nát này?"
Khiết Nương đứng lặng giữa đống hỗn độn. Dẫu đang cấm túc, xiêm y chỉ là lụa trắng trơn không thêu hoa, khí chất uy nghi điềm tĩnh của nữ nhân từng chấp chính Triều đình vẫn tỏa ra chẳng giấu nổi. Đôi mắt phượng sắc sảo của bà lướt qua từng viên gạch dưới nền, giọng kiên định:
"Ngươi nhầm rồi ... Bệ hạ chẳng bao giờ làm chuyện vô nghĩa. Bao năm ta kề cận Ngài, cùng bàn việc nước, ta hiểu rõ tâm tính quân vương. Trước khi cấm túc, ánh mắt Ngài nhìn về Tây Điện này chẳng phải ánh mắt trách phạt, mà là ánh mắt của người trao gửi sinh mệnh. Chắc chắn có một bí mật đang giấu ở đây."
Nói đoạn bà lại bước đi, bàn tay khẽ lướt trên bức tường loang lổ. Bỗng: cạch! Dưới gót hài thêu của bà, một viên gạch Bát Tràng khẽ lún xuống một phân. Cảm giác nhỏ nhặt vô cùng, nhưng chẳng lọt khỏi sự nhạy bén của Khiết Nương. Bà dừng bước, từ từ quỳ xuống, miết nhẹ những ngón tay thon dài lên mặt viên gạch. Khác với gạch đất nung xung quanh nhám và lạnh, viên này nhẵn thín, gõ vào nghe trầm đục, rỗng ruột. Ấy là đá Thanh Hóa gọt đẽo tinh xảo, chẳng phải gạch nung.
"Hữu Thắng, lại đây!" Giọng bà sắc lạnh, dứt khoát. "Tìm quanh đây xem còn viên đá nào cùng chất liệu, cùng độ lún như vậy chăng. Mau lên!"
Hữu Thắng lật đật bò tới. Hai chủ tớ quên cả bụi bặm, rạp người xuống nền gõ từng tấc gạch. Một lúc sau, Hữu Thắng reo khẽ: "Lệnh bà, ở đây có một viên!"
"Ta cũng tìm được một viên nơi góc này!"
Cuối cùng họ tìm ra tất cả tám viên đá đặc biệt nằm rải rác. Khiết Nương lùi vài bước, đôi mày thanh tú nhíu chặt, trong đầu nhanh chóng nối các điểm lại. Tám viên đá ấy chẳng hề xếp ngẫu nhiên, chúng nằm theo một trật tự, những nét ngang nét dọc cắt nhau thành một chữ hoàn chỉnh.
"Là chữ 'Thiên'!" Bà thốt lên, đôi mắt sáng bừng.
Bà nhắm mắt ghi nhớ vị trí rồi mở ra, cẩn trọng đặt gót hài lên từng viên đá theo đúng thứ tự các nét bút. Một... hai... ba... bốn... Đến viên thứ tám, viên cuối nằm nơi nét phẩy vươn dài, bà dồn lực đạp mạnh xuống.
Rầm... rầm...
Cả nền Tây Điện rung chuyển dữ dội. Bụi từ xà nhà rơi lả tả như mưa. Từ lòng đất vang lên tiếng cọc cạch giống như các khối đồng cọ vào nhau vô cùng khó chịu, rợn người. Ngay giữa chữ "Thiên", bốn phiến gạch lớn trượt dài sang hai bên, để lộ một hố sâu đen ngòm, há ra như mõm dã thú khổng lồ. Từ miệng hầm, luồng khí hôi thối bị nén hàng chục năm phụt lên như sương độc. Bụi mù mịt khiến Khiết Nương lảo đảo lùi lại, lấy vạt áo che mặt ho sặc sụa. Vô số rết lớn, gián đất đen sì bị kinh động, túa lên bò lổn nhổn khắp sàn.
"Lệnh bà cẩn thận!" Hữu Thắng hét lớn.
Bất chấp nỗi sợ, Hữu Thắng nhào tới lấy áo bào đập liên hồi vào đám côn trùng gớm ghiếc, lấy thân hình cồng kềnh chắn giữa miệng hầm và Nguyên Phi, sẵn sàng đổi mạng vì chủ.
Phải mất chừng nửa nén nhang, bụi mới lắng, lũ côn trùng cũng tản đi, chui vào các kẽ hở. Khiết Nương chỉnh lại y phục, mắt không giấu vẻ kích động xen tò mò. Bà nhìn trân trân xuống những bậc đá phủ đầy rêu dẫn vào bóng tối vô tận.
"Hữu Thắng, mau đi đốt ngọn bấc. Ta phải xuống xem thực hư thế nào." Bà bước tới, giọng quả quyết.
"Không được đâu Lệnh bà!" Hữu Thắng quỳ rạp xuống, hai tay ôm chặt gấu váy bà. "Thánh chỉ đã ban, tuyệt không được rời Cung Linh Từ nửa bước. Lệnh bà mà bước xuống đó, nhỡ Trần Nữ quan thấy tẩm điện trống không thì đó là tội khi quân, chém đầu tru di! Hơn nữa, nay lục cung đều nằm trong tay Hoàng hậu, khắp nơi là tai mắt, lưới trời giăng kín. Dưới kia tối tăm, nhỡ là ngõ cụt, hoặc có bọn chúng phục sẵn chờ lấy mạng Lệnh bà thì sao?"
Lời can ấy như hồi chuông báo động, kéo Khiết Nương từ cơn kích động trở về vẻ điềm tĩnh lạnh lùng thường nhật. Bà dừng chân, đứng bất động bên miệng hầm, nhắm mắt xâu chuỗi mọi việc. Bệ hạ đột ngột hạ chỉ cấm túc bà ngay trong đêm, không lý do, không thông cáo lục cung, không định tội. Nếu vụ ám sát ở Cung Tường Phúc đã có kẻ dâng đủ nhân chứng vật chứng giả để đổ tội cho bà, thì với tính quyết đoán của quân vương, bà đã sớm bị ban lụa trắng hay thuốc độc. Đằng này Ngài chỉ giam lỏng bà, lại cắt cử người trấn giữ bên ngoài.
"Nói phải, ..." Bà từ từ mở mắt, khóe môi cong lên nụ cười thấu suốt, nơi khóe mắt long lanh giọt lệ cảm kích. "Bệ hạ không hề tin ta là hung thủ. Ngài đang dùng kế dụ rắn ra khỏi hang. Kẻ hại ta đã vắt kiệt tâm tư dựng nên một ván cờ hoàn hảo, nay thấy ta vẫn bình an, ắt đang nghiến răng ôm hận. Bọn chúng chắc chắn sẽ chó cùng rứt giậu, tìm cách ám toán ta ngay trong cung này."
Bà đưa tay chạm vách đá lạnh của căn hầm, ánh mắt rực sáng niềm tin bất diệt: "Bệ hạ để lại căn hầm này chẳng phải để ta bỏ trốn lúc này. Đây là đường sống cuối cùng, là bảo vật hộ mệnh Ngài âm thầm trao cho ta, phòng khi giông bão thật sự kéo đến, không gì cản nổi."
Ta còn con cái đang bơ vơ ngoài kia. Chúng còn nhỏ, chưa hiểu hết sóng gió chốn cung đình, nay ta chẳng thể ôm chúng vào lòng như xưa, nếu ta rút dây động rừng, chỉ sợ ảnh hưởng đến chúng. Nghĩ đến đó, tim Khiết Nương như thắt lại. Nhưng chính nỗi thương con ấy càng khiến bà quyết không gục ngã, bởi nếu bà ngã xuống, chẳng còn ai che chở cho chúng.
Giữa Tây Điện tối tăm, bóng Nguyên Phi Khiết Nương đổ dài trên nền đất. Bà không còn là một sủng phi thất thế ngồi chờ chết, mà đã sẵn tâm thế đón mọi sóng gió, kiêu hãnh vững vàng như cây tùng trên vách đá. Tấm màn bí ẩn của vương triều cô độc này rốt cuộc cũng đang dần được vén lên, từ chính nơi tăm tối nhất.
Q2·Ch.4: Cung Linh Từ trong gió bấc đầu mùa
📖 Quyển 2: Lửa ngầm