Mặc dù Ngô Tuấn được xem là đại thần đứng đầu Triều đình nhưng phủ đệ của ông lại không quá bề thế. Phủ nắm bên rìa phía đông của Kinh thành, nơi vắng vẻ, tĩnh mịch. Thu qua, đông lại đến, dẫu cho đã quá giờ Dần nhưng bâu trời vẫn đặc quánh một màu tối tăm, phủ Lê gia lại chỉ thấp thoáng một vài ánh đèn mờ, trong sân chỉ có hai, ba gã lính canh và gia đinh già đang dọn dẹp. Lính canh dẫu không có nhiều nhưng kẻ nào người nấy to như hộ pháp, mắt như chim ưng, nhìn qua đã biết là thân thủ phi phàm. Các dãy phòng cũ kỹ, các khung cửa gỗ đã bạc màu, bong tróc, .... Nhìn qua là thấy rõ căn Phủ này từ lâu đã chẳng được tu sửa.
Trong chính điện phủ Lê Gia, Ngô Tuấn đang họp bàn cùng hai vị đại nhân được mời đến là Trương Định và Phương Thịnh Văn. Thịnh Văn vừa được thăng chức Trung Úy, hàm Tòng Ngũ Phẩm, theo quan chế từ nay đã đủ tư cách lên thiết triều nơi Long Thiên Cung cùng các đại thần.
Điện không rộng, nhưng trần cao vút nên thoáng đãng lạ thường. Bốn vách chất đầy giá sách, chẳng thiếu các tập thi ca đời Đường, đời Tống được sưu tầm cẩn thận. Thịnh Văn đảo ắt nhìn quanh, trong lòng không giấu nổi kinh ngạc: Ngô Tuấn Đại nhân thuở niên thiếu từng cùng đương kim Hoàng đế và Thái Tông tiên đế chinh chiến khắp nơi, vậy mà cả dung mạo lẫn khí chất vẫn nho nhã như thư sinh, chưa bị doanh trại mài thành kẻ cứng nhắc vô vị, dẫu uy thế vẫn lấn át cả tiếng sấm trên trời.
Ngô Tuấn ngồi trên chiếc ghế chạm hai con Nhai Tệ, thần thú trấn giữ binh khí đao kiếm, ghế của ông được đặt trên bậc thềm cao hơn chỗ ngồi của hai vị đại nhân bên dưới. Một tay cầm bản báo cáo vừa nhận từ Trương Định, tay kia đặt hờ lên thành ghế, ánh mắt đăm chiêu dán chặt vào bản báo cáo mà chẳng để ý thấy tay áo mình đã bị vén lên quá cao để lộ vết sẹo dài.
Thịnh Văn vốn là học trò được Ngô Tuấn đích thân dìu dắt từ buổi đầu tòng quân, nay lập chút công nơi biên ải mà được thăng chức. Thịnh Văn chủ động hành lễ cảm tạ: "Thịnh Văn nay được thăng chức Trung Úy, tất cả là nhờ có Đại tướng quân dìu dặt! Con xin khắc cốt ghi tâm ơn dạy dỗ của Đại Gia, suốt đời nghe theo sự sắp đặt của người."
Thịnh Văn khụy một gối xuống nền đất, chắp tay trước ngực tạ ơn kính cẩn. Ông không dám nhìn thẳng về phía Ngô Tuấn nhưng thoáng chốc lại trộm nhìn bề trên. Thái độ ung dung của Ngô Tuấn, ánh mắt màu Hổ Phách vừa trong trẻo lại vừa sâu thẳm ấy thật là độc nhất vô nhị, khó lòng không thu hút sự chú ý.
Ngô Tuấn khẽ gật đầu, vẫn điềm nhiên, chẳng tỏ vẻ vui mừng quá độ: "Đường quan trường còn dài, ngươi phải nhớ kỹ: trong quân có uy nghi, có thứ bậc tôn ti, tuyệt không được tự ý hành động ngoài sự an bài của bề trên. Kẻ khôn lỏi, mưu mẹo vặt vãnh, dẫu thành công nhất thời cũng chỉ đáng gọi là tiểu nhân. Chớ buông lời nịnh bợ hoa mỹ, hãy dốc lòng xông pha, lấy thành tích thực mà báo lên trên, ấy mới là đạo làm tướng chân chính."
Câu ấy như răn riêng Thịnh Văn, nhưng lại khiến Trương Định đứng cạnh giật mình, sống lưng lạnh toát. Lão liếc nhìn Ngô Tuấn đang trầm mặc, thầm đoán xem lời kia có nhắm vào mình chăng.
Trương Định vốn chẳng phải hạng quan tầm thường. Lão làm quan từ đời Thái Tông, công trạng chẳng kém Ngô Tuấn là bao. Chỉ tiếc tuổi đã cao mà đến nay vẫn chỉ giữ chức Đô Chỉ Huy Sứ, phải cúi đầu dạ vâng trước kẻ nhỏ tuổi hơn mình nhiều nhưng đã nắm trọn quyền thống lĩnh ba quân. Lão giả vờ chẳng hiểu ẩn ý, vội tiếp lời, giọng sốt sắng: "Đại Gia dạy chí phải! Văn đại nhân phải khắc cốt ghi tâm từng lời hôm nay. Được theo hầu Đại Gia, đường công danh của người ắt còn rộng mở dài lâu!"
Ngô Tuấn đáp nhàn nhạt: "Định đại nhân quá lời. Ta chẳng qua cũng chỉ là bề tôi của Bệ hạ, tài đức gì mà dìu dắt được ai. Định đại nhân có được ngôi vị hôm nay, âu cũng nhờ biết nương theo thời thế, đón đúng chiều gió thì cánh diều mới bay cao. Còn như kẻ ngu dốt, gió mát thổi hướng đông lại cố chạy về hướng tây hứng nắng độc, thì dẫu ta hóa thành thần tiên cũng chẳng dạy nổi."
Câu ấy chẳng khác ngàn mũi kim nhỏ đồng loạt châm vào da thịt Trương Định. Ngày Ngô Tuấn mới chân ướt chân ráo bước lên thiết triều, lão nào nghĩ có ngày kẻ mình chẳng buồn liếc mắt lại ngồi trên cao còn mình đứng dưới thấp, mất mặt vô cùng. Gương mặt lão tối sầm, thầm đoán Ngô Tuấn đã biết chuyện gần đây mình thường lui tới phủ Bá Định. Lòng bồn chồn, lão chỉ đáp cho có lệ: "Dạ! Đại Gia dạy chí phải."
Bá Định và Ngô Tuấn vốn như nước với lửa, không đội trời chung. Trương Định đang nằm dưới trướng Ngô Tuấn mà lại mơ màng thân thiết với phe đối địch, lọt vào tai một kẻ đa nghi nhiều mưu tính như ông, ắt đã âm thầm chất chứa ngờ vực từ lâu.
Ngô Tuấn không lộ chút biểu cảm, ông quay về phía Thịnh Văn, giọng điệu có phần khẩn trương: “Thịnh Văn! Hôm trước ta sai người xuống dưới các quân doanh trao đổi, tình hình như thế nào!?”
“Dạ! Bẩm Đại tướng quân, Hạ thần đã trao đổi với các Quân trưởng. Họ muốn xin Đại tướng quân thay măt họ bẩm báo Bệ hạ cho tăng thêm bổng lộc!” Thịnh Văn vừa hồi báo, vừa lén nhìn vết sẹo dài trên cánh tay phải của Ngô Tuấn.
Ngô Tuấn đã thoáng thấy cái nhìn của cấp dưới, gương mặt bỗng lộ ra chút vẻ gượng gạo hiếm thấy, bèn nhanh tay kéo vạt áo xuống để chê đi vết sẹo xấu xí ấy. Ông cố gắng nở nụ cười lạnh che đi sự lúng túng.
“Ta biết mà! Quả nhiên ta đã đoán trúng tâm tư của bọn họ!”
“Đại Gia! rõ ràng bọn Hạ thần này đang được đà lấn tới. Những năm gần đây, biên giới phương bắc đã phần nào ổn định, phía nam Chiêm Thành cũng thuần phục uy lực của Đại Việt. Có thể nói quân binh có phần nhàn hạ, hiện tại mà đề xuất tăng bổng lộc, chỉ sợ Bệ hạ sẽ thấy không hợp lý, lại nghĩ chúng ta có yêu sách.” Thịnh Văn nhận thấy Ngô Tuấn có phần luống cuống, bèn cúi sầm mặt xuống mà hồi lời.
“Người nghĩ như vậy là chưa được thấu đáo!” Ngô Tuấn từ tốn nhấc chén trà bên cạnh lên nếm một ngụm rồi mới nói tiếp, “Ngươi biết vì sao, Bệ hạ hàng năm vẫn tuyển binh chiêu tướng mà không dám cắt giảm nhân sự không!?”
“Dạ! Mong Đại gia chỉ giáo!”
“Quân binh đâu chỉ để giữ thiên hạ, mà còn giữ cho xã tắc ổn định. Đám phản đảng không phục Triều đình vẫn hoành hành. Ấy là còn chưa kể Hồng Y Hội, bọn Tù trưởng biên viễn muốn dựng rào tự trị. Nếu không có quân binh thì tiếng nói Triều đình sẽ không có sức nặng.”
Ngô Tuấn từ tốn đứng dậy, từ từ bước xuống từng bậc thềm, ông chậm rãi đi xung quanh hai vị võ tướng giải thích: “Đúng là mấy năm gần đây, chúng ta không có xung đột với Đại Tống hay Chiêm Thành nhưng nổi loạn bên trong vẫn cần dẹp yên, đó là còn chưa kể, quân linh không chỉ đảm nhận việc quân, họ còn giúp dân khai hoang, đắp đê ngăn lũ,.... Nếu như bổng lộc thiếu thốn, một là lòng quân uể oải, hai là khó tránh có kẻ sinh lòng oán hận. Ta răn đe quân lính không thể chỉ cần khẩu khí và mệnh lệnh. Nếu không có bổng lộc lấy gì mà nuôi sức quân!?”
“Đại gia dạy dỗ chí phải! Hạ quan đã ngu muội quá rồi!” Thịnh Văn cúi đầu nhận lỗi.
“Ngươi cũng vì muốn tốt cho Triều Đình thôi! Ngươi giúp ta soạn một bản tấu sớ, nay mai ta sẽ trình lên Bệ hạ!”
Thịnh Văn vâng dạ, rồi giọng nghiêm trọng hơn: "Bẩm Đại Gia, còn một việc nữa. Các tiểu đội của hạ quan gần đây thường thấy quân binh nhà Tống, từng tốp nhỏ, xuất hiện nơi giáp ranh Vị Châu."
Ngô Tuấn chẳng hề ngạc nhiên, chỉ khẽ gật: "Chuyện này ta từng đàm đạo riêng với Bệ hạ."
Ông vỗ tay ba lần, Hạ nhân từ bên ngoài bê vào phòng một chiếc rương lớn cùng một bức thư. "Đây là thư Bệ hạ gửi Hoàng đế nhà Tống hỏi thăm sức khỏe. Còn trong rương này, ngoài tượng rồng gỗ chạm khắc tinh xảo dùng để tiến cống, còn có một bó Hoàng Kim Hoa."
Hạ nhân dâng cả hai món đến trước mặt Trương Định. Ngô Tuấn trầm giọng dặn dò: "Chuyến sang Đại Tống này, Định đại nhân phải hết sức cẩn trọng. Ta đã đề bạt ngươi làm chức sứ giả chuyến này. Bệ hạ cũng đã chuẩn tấu. Công văn, tấu sớ chắc cũng đã chuẩn bị xong, đợi lần sau lên Triều, ngươi sẽ được nghe."
Ánh mắt Trương Định thoáng mơ hồ rồi chuyển sang king ngạc trong phút chốc, không hiểu vì sao mình được giao trọng trách này, nhưng lão nhanh chóng định thần, quỳ xuống nhận lệnh: “Bệ hạ và Đại gia đã tin tưởng giao phó, Thần lĩnh chỉ!”
Chức sứ giả chẳng phải ai cũng được tin cậy giao phó. Đường sang Đại Tống tuy phải vượt muôn trùng núi sông hiểm trở, cũng là cơ hội thăng tiến hiếm có. Lão dán mắt xuống nền, không sao đoán nổi con người ngồi trước mặt: kẻ vừa ngầm tỏ ý nghi ngờ mình, nay lại nói đã đích thân đề bạt mình lên Bệ hạ.
Ngô Tuấn đặt cuốn sách xuống bàn, cười nhạt: "Ta tin ngươi mới đề bạt ngươi lên Bệ hạ. Hoàn thành tốt trọng trách này, chớ để sai sót, cũng đừng để ta hối hận vì đã tin lầm người."
Trương Định chẳng dám vui mừng, cũng cố tỏ vẻ cung kính cúi đầu tạ ơn.
Thịnh Văn đứng bên, gương mặt còn non nớt lộ vẻ băn khoăn, mạnh dạn hỏi: "Hạ quan ngu dốt, mạo muội xin hỏi. Bó Hoàng Kim Hoa trông ủy mị, đem sang Đại Tống tiến cống cùng tượng rồng gỗ oai nghiêm, chẳng phải quá tương phản sao?"
Ngô Tuấn nét mặt thả lỏng, chẳng nghiêm khắc, nhưng giọng khàn khàn ngụ ý sâu xa: "Ngươi còn phải học nhiều. Trước đây Hoàng đế Tống từng gửi thư khen cảnh Hoàng Kim Hoa rực rỡ bao phủ cả một vùng trời Long Vị Châu, nói muốn tận mắt thưởng lãm. Nhưng nay mới tháng mười, chưa phải mùa Hoàng Kim Hoa nở." Ông ngừng lại, ánh mắt sắc bén. "Vậy mà đây là giang sơn của Bệ hạ, người có quyền sai người lùng khắp mọi ngóc ngách, tìm cho bằng được đóa Hoàng Kim Hoa trái mùa để gửi sang. Điều đó cho thấy từng tấc đất, từng ngọn cỏ cành hoa trong cõi bờ này, Bệ hạ đều nắm rõ trong lòng bàn tay. Kẻ ngoài có nhòm ngó cũng chỉ dám đưa mắt nhìn, tuyệt đừng có ý chạm vào."
"Hạ quan đã hiểu." Thịnh Văn không giấu vẻ khâm phục. "Cả Bệ hạ lẫn Đại Gia quả là bậc có tầm nhìn xa trông rộng."
"Có gì thần thông đâu, chẳng qua ta và Bệ hạ đều từng khổ sở trên chiến trận, trải nhiều chuyện nên nhìn nhanh hơn ngươi mà thôi." Ông chẳng nhận lời khen, chỉ xem đó là một lời nhắc cần thiết. "Còn nữa! Ngươi sai người cắm cờ Đại Việt song song cùng cờ nhà Tống, kích cỡ phải ngang bằng nhau nơi các vùng phân định ranh giới, đồng thời cho quân lính cải trang thành dân thường, thường xuyên tuần tra biên ải."
Dứt lời, ánh mắt ông nhìn xa qua khung cửa sổ, thầm đoán những toan tính ngầm của triều đình phương Bắc. Nhà Lý lập quốc chưa tròn trăm năm, các triều trước chưa từng kéo dài quá ba đời vua, nay ngay trong nội bộ triều đình cũng cuộn trào không ít sóng ngầm chưa lộ. Khả năng một cuộc chiến nổ ra vẫn treo lơ lửng trên đầu, chưa thể yên tâm.
Đúng lúc ấy, một hạ nhân vội vã chạy vào quỳ bẩm: "Bẩm Đại Gia, có Phán đại nhân cầu kiến."
Ngô Tuấn lập tức phất tay cho hai vị đại nhân lui xuống. Ông ngồi lặng chờ đến khi tiếng bước chân của Trương Định và Thịnh Văn đã khuất ngoài hành lang, mới cho Ngô Phán vào.
---
Ngô Phán bước vào chính điện, bụi đường xa còn vương đầy, y phục nhàu nát lấm lem. Ông quỳ xuống tham kiến, không quên thỉnh tội trước: "Hạ quan vì gấp rút hồi kinh bẩm báo, chẳng kịp chỉnh đốn tác phong, xin Đại Gia thứ tội."
Ngô Tuấn chỉ mong sớm biết kết quả điều tra, phất tay miễn lễ, giọng gấp gáp: "Không cần tiểu tiết! Nói ngay, chớ sót một chi tiết nào."
Ngô Phán đáp, giọng vẫn điềm tĩnh dẫu đường xa mệt nhọc: "Bẩm Đại Gia, hạ quan đã đến tận Thanh Hóa điều tra kín đáo như lời dặn. Hóa ra Trịnh Cung và Ôn Mã không phải trẻ mồ côi như sổ Đinh ghi, mà đều có cha mẹ song toàn. Tận nơi quan sát, gia cảnh họ dư dả giàu có, hoàn toàn không giống hoàn cảnh nghèo khó lưu lạc phải bán mình vào cung như lời khai trước đó."
Ngô Tuấn khẽ nhíu mày, ra hiệu tiếp tục.
"Hạ quan dò hỏi hàng xóm, mới biết cha mẹ họ tuổi cao, không còn sức làm lụng. Xưa vốn nghèo khó, nay lại nhà cao cửa rộng, hỏi ra mới rõ số tiền hằng tháng đều do một người mặc quan phục trong cung đích thân mang đến. Rõ ràng là Sổ Đinh gốc của hai anh em ấy cũng đã bị hủy, hoặc làm giả lại từ đầu."
Nghe đến đó, Ngô Tuấn đã lờ mờ đoán ra phần nào, khẽ gật gù: "Bảo sao bọn chúng liều mạng thế. Tội ám sát Hoàng đế, nếu lộ thân phận thật thì cả tộc khó thoát án tử. Xem ra đã có kẻ đưa điều kiện trước để chúng yên tâm hành sự, cam làm con tốt thí mạng." Ông trầm ngâm, "Kẻ thao túng được sổ sách của tri phủ, làm giả trót lọt sổ Đinh mà chính tri phủ cũng không hay, ắt phải là người có chức bậc không nhỏ trong cung."
Gương mặt ông thoáng hoài nghi, giọng chậm rãi như tự đối thoại: "Hôm ấy ta nhận thư cầu cứu của Nguyên Phi, nói trong cung có biến, dặn ta điều tra cho rõ chuyện ám sát. Quả nhiên chính nó cũng sớm đoán ra có nội tình phức tạp ẩn phía sau."
Trán Ngô Phán lấm tấm mồ hôi, giọng như người đã kiệt sức mà vẫn cố đứng vững: "Hạ quan còn một việc nữa. Ở vùng Đầm Sen, quê của hai tên thích khách đó có một căn nhà cũng rất khả nghi. Hạ quan thấy thường có người mang lệnh bài trong cung ra vào, xét dáng vẻ cách hành sự, đích thực xuất thân từ Cẩm Y Vệ. Thám thính thêm, phát hiện họ đang trông giữ một bé gái chừng bảy, tám tuổi. Dò hỏi mới biết căn nhà thuộc về một vị đại quan trong cung, tên là Tô Đức Khải, và đứa bé chính là cháu ruột của ông ta."
Ngô Tuấn sững sờ, mắt mở to nhìn thẳng Ngô Phán: "Tô Đức Khải?! Đại Thái Giám ngự tiền đó sao?"
"Chính là hắn." Ngô Phán khẳng định chắc nịch. "Hạ quan đã đột nhập nha môn tri huyện xác minh mới dám chắc như vậy. Lại có một chuyện lạ: hằng tuần đều có vật phẩm từ kinh thành gửi về nhà Khải đại nhân, nhưng không gửi thẳng, mà đều bị Tri huyện giữ lại. Toàn là thuốc thang, hạ quan đoán cô bé đang mắc bệnh nặng. Nhưng theo dõi suốt một, hai ngày, chẳng thấy bóng vị thái y nào ra vào chữa trị."
"Chuyện này quả kỳ lạ." Ngô Tuấn cau mày. "Xem ra Tô Đức Khải này thật đáng ngờ. Hai kẻ hành thích Bệ hạ lại cùng quê cùng xã với hắn... Kẻ muốn hành sự gian tà trong cung mà cần tay sai ra mặt, ắt chỉ tiếp cận được những người đã gỡ bỏ mọi đề phòng, hoặc chí ít nắm rõ gốc gác gia cảnh của kẻ ấy."
Ngô Tuấn lúc này chìm trong muôn mối nghi hoặc chồng chất, mải nối kết từng sự kiện rời rạc, đến mức chẳng để ý những vết thương hằn rõ trên người Ngô Phán, cứ dồn dập gặng hỏi.
Ngô Phán đành nói tiếp, giọng lộ rõ vẻ mệt mỏi: "Bẩm Đại Gia, hạ quan đã cứu được cô bé ra khỏi căn nhà ấy." Ông thở từng nhịp nặng nề. "Trong lúc âm thầm theo dõi nhà Tô Đức Khải, hạ quan tận mắt thấy tên Cẩm Y Vệ kia định ra tay ám sát cô bé. Không kịp nghĩ nhiều, hạ quan xông vào cứu, đành hạ sát hắn tại chỗ, rồi tức tốc về kinh bẩm báo Đại Gia."
Ngô Tuấn vốn cẩn trọng, để ý từng tiểu tiết nhỏ nhất, vậy mà trong chuyện này lại như kẻ mất hồn, chẳng hề nhận ra hơi thở dồn dập, dáng vẻ sắp ngã quỵ của người trước mặt. Mãi đến khi nhận ra tình hình thật, ông mới hoảng hốt đứng bật dậy, giọng cuống quýt: "Vậy cô bé đó giờ thế nào?!"
"Cô bé ổn cả, chỉ bị thương nhẹ. Hạ quan đã đưa cô bé về phủ Đại Gia, hiện tạm nghỉ ở điện phía đông, chỉ cần có người chăm sóc chu đáo, vài tuần sẽ bình phục."
Lúc ấy Ngô Tuấn mới thấy dưới chân Ngô Phán có mấy vết thương mới băng bó qua loa, bảo sao hắn thở hổn hển nãy giờ. Ông vội chạy lại, dùng cả hai tay đỡ Ngô Phán đứng dậy: "Ngươi bị thương rồi sao! Sao không nói sớm, cứ quỳ mãi ở đó!"
Ông lập tức gọi hạ nhân đang túc trực ngoài cửa: "Ngươi đi mời thái y vào phủ ngay!" Nhìn Ngô Phán tàn tạ, ông thấy mình thật vô tâm, vì việc công mà gấp gáp, chẳng để ý đến người thân cận của mình. Ông buông một lời cảm kích: "Quả nhiên ta không nhìn lầm người! Ngươi không làm ta thất vọng, làm tốt lắm."
Ngô Phán vốn là đứa trẻ được chính Ngô Tuấn nhận nuôi từ thuở nhỏ, cái tên "Ngô Phán" cũng do ông đích thân đặt, mang họ Ngô như con ruột. Trong lòng Ngô Phán, ông luôn xem Ngô Tuấn như cha; nhưng ngược lại, suốt bấy nhiêu năm, Ngô Tuấn vẫn chỉ nhìn ông như một thuộc hạ trung thành.
Ngô Tuấn gọi thêm một hạ nhân vào dặn: "Ngươi đưa Ngô Phán đi tắm rửa, dùng bữa nghỉ ngơi cho lại sức."
Trước khi lui, Ngô Phán còn hỏi: "Bẩm Đại Gia, việc tiếp theo nên xử ra sao? Có cần bẩm rõ lên Bệ hạ chăng?"
Ngô Tuấn lập tức phủ quyết, giọng dứt khoát: "Bệ hạ đã không cho thông truyền chuyện ám sát ra ngoài. Nếu ta biết được mà tùy tiện tra xét, ắt khiến người thêm nghi hoặc, lại ảnh hưởng xấu đến Nguyên Phi." Ánh mắt ông trầm xuống. "Huống hồ, từ khi ta làm thống lĩnh quân đội, tình bằng hữu thuở thiếu thời giữa ta và Bệ hạ giờ chỉ còn nghĩa quân thần. Ta phải biết giữ đúng giới hạn của mình."
Ông nhìn ra ngoài cửa sổ, đôi mắt ẩn chứa nhiều suy tính: "Nhưng để tên Tô Đức Khải đó ở lại trong cung thật như giữ rắn độc bên mình! Ta sẽ tìm cách kéo hắn ra ngoài cung. Hiện giờ ngươi cứ nghỉ cho khỏe, đợi cô bé kia khỏi rồi, chúng ta sẽ về lại Phủ Thanh Hóa một chuyến." Ông lại gần, vỗ nhẹ vai Ngô Phán.
---
Ngô Phán lui xuống. Ngô Tuấn ngồi lặng giữa chính điện trống vắng, trong đầu hiện lên biết bao gương mặt, bao giả thiết chồng chéo. Nguyên Phi từng phụng mệnh Bệ hạ nhiếp chính, một tay quản triều chính suốt thời gian dài, khó tránh gây ra không ít oán thù, kẻ địch trong bóng tối.
Kẻ thao túng được cả một Tô Đức Khải, tuy hắn không phải chủ nhân nhưng ngày đêm túc trực bên Bệ hạ, tuyệt chẳng thể xem thường, thì đâu có nhiều. Kẻ đứng sau lôi kéo được hắn, ắt đã nắm điểm yếu chí mạng của hắn, mới sai khiến hành sự trót lọt đến vậy. Ông tự cuộn mình trong bao luồng suy tư. Người này khi giở trò, hẳn biết Bệ hạ không thể điều tra quá sâu. Sức Tông Chính Ty chỉ quanh quẩn trong Cung. Nếu điều tra đến tận Phủ, huyện, phải lục sổ Đinh ra tra án thì sẽ phải điều cả Hình Bộ, khi ấy trên dưới triều đình và hoàng thân quốc thích đều hay. Bệ hạ là người trọng thể diện nhất, đến lúc đó không chỉ biến Hoàng cung thành sân khấu cho thiên hạ đùa vui, mà còn có thể đánh động các thế lực thù địch như Hồng Y Hội.
Từng ngày từng đêm trôi qua, Nguyên Phi vẫn bị giam lỏng trong Cung Linh Từ. Một ngày nàng chưa thể bước ra khỏi cánh cửa ấy, một ngày Ngô Tuấn vẫn không thể ăn ngon ngủ yên. Ván cờ chính trị này, xem ra còn lâu mới lắng.
Q2·Ch.3: Phủ Lê gia buổi sớm
📖 Quyển 2: Lửa ngầm