Mùa đông cứ thế trôi qua, một tuần rồi một tháng. Cung thành chìm trong những đợt gió bấc gào rít, tựa tiếng thú dữ khóc than qua từng khe ngói lưu ly. Mùa đông đã quét qua Thăng Long bằng một cái lạnh thấu tủy, biến những tàng cổ thụ rợp bóng thuở nào thành những thân gỗ trơ trọi đen đúa, chĩa cành khô lên nền trời xám xịt, như những bàn tay gầy guộc đang cầu xin chút nắng ấm.
Trong gian phòng nhỏ hẹp dành cho các nội quan, Đại Thái giám Tô Đức Khải ngồi thu lu bên chiếc bàn gỗ tạp. Ngọn nến leo lét hắt bóng lưng còng của lão lên vách tường loang lổ. Đôi tay nhăn nheo, lấm tấm đồi mồi, đang tỉ mẩn đếm từng xâu tiền đồng.
Lạch cạch... lạch cạch...
Tiếng đồng điếu chạm nhau khô khốc. Khóe môi lão khẽ nhếch lên một nụ cười hiếm hoi. Chỉ còn hơn tháng nữa là đến Tết Nguyên Đán. Số bạc này, thêm mấy tấm lụa tốt Bệ hạ vừa ban hôm trước, lão định nhờ người ở Nội Vụ Phủ mang về Thanh Hóa. Lão mường tượng cảnh đứa cháu gái duy nhất, người thân duy nhất của Lão sau khi chí gái Lão tạ thế, được khoác áo mới, được ăn một cái Tết no đủ. Chỉ nghĩ đến đó, cái rét luồn qua khe cửa cũng chẳng buốt nổi cõi lòng cằn cỗi của lão nữa.
Chợt tiếng gõ cửa dồn dập phá tan sự tĩnh mịch. Một tiểu thái giám của Nội Vụ Phủ rụt rè bước vào, hơi thở kết thành làn khói trắng.
"Bẩm Khải công công, có thư khẩn từ Phủ Thanh Hóa, Ta ngựa vừa đưa tới ban sáng. Người đưa thư dặn phải trao tận tay ngài."
Nụ cười trên môi Đức Khải cứng lại. Thư khẩn ư? Lão vội vơ lấy phong thư ố vàng, những ngón tay bất giác run lên. Cháu gái lão xưa nay có gửi thư cũng chỉ là mấy lời thăm hỏi qua loa, nhờ thương lái đem theo, sao hôm nay lại dùng đến Ta ngựa khẩn cấp?
Lão xé phong thư, đưa tờ giấy Tuyên Thành mỏng dính sát ngọn nến. Vừa trông thấy những nét chữ nghệch ngoạc, xiêu vẹo quen thuộc, đồng tử lão co rút lại. Máu trong người như đông cứng. Tờ giấy mong manh bỗng nặng ngàn cân, tuột khỏi những ngón tay vô lực, rơi xuống trên xâu tiền đồng. Hơi lạnh từ nền gạch theo gót chân bốc thẳng lên đỉnh đầu. Gương mặt già nua trắng bệch như xác chết, mồ hôi hột túa ra ướt đẫm trán, dẫu ngoài trời đang độ rét đậm.
---
Gió đông hôm ấy ngày càng mạnh, trong hậu điện Long An Cung, không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.
Hoàng đế Nhật Tôn ngồi tựa nửa người vào chiếc ngai gấm, đôi mắt vằn tơ máu, đờ đẫn nhìn qua khung cửa sổ hé mở. Ngự uyển tiêu điều xơ xác trong màn sương mù mịt, như tấm gương soi rõ sinh mệnh đang cạn dần của chính ông.
Dưới thềm, vài tiểu thái giám mười bốn, mười lăm tuổi quỳ rạp, lóng ngóng bưng những đôi hài nhung dâng lên. Nhìn đám hạ nhân tay chân vụng về, sợ sệt, Nhật Tôn nhíu đôi mày rậm.
"Cái lũ ranh này!" Giọng ông khàn đặc, đứt quãng như tiếng bễ lò rèn cạn gió. "Đế hài mỏng thế này, các ngươi muốn hàn khí nhập thẳng vào xương tủy Ta sao? Lấy thêm ba lớp đệm bông lót cừu nhét vào cho Ta!"
Đám thái giám run cầm cập, dập đầu vâng dạ, luống cuống lôi những miếng lót nhung dày nhét vào hài.
Tô Đức Khải bước qua ngưỡng cửa, cố giấu đôi tay đang run vào trong ống tay áo rộng. Lão khom người, nín thở, rón rén đến bên kỷ trà, khóe mắt kín đáo dõi nhìn vị quân vương.
Nhật Tôn hôm ấy khoác tấm áo choàng lông cáo dày sụ, nhưng bả vai vẫn thỉnh thoảng run lên vì những cơn ớn lạnh từ trong xương thấm ra. Một tay ông chống cằm, tay kia không ngừng xoa nắn hai hạt hồ đào bằng ngọc lục bảo.
Cạch... cạch... cạch...
Tiếng ngọc chạm nhau đều đặn, vô hồn, vang vọng giữa tẩm điện rộng lớn nghe mà rợn người. Ánh mắt ông trống rỗng, u uất, tựa vực thẳm không đáy đang toan nhai nuốt vạn vật.
Đợi đám tiểu thái giám lui khuất sau bình phong, Đức Khải mới dám quỳ một gối, hạ giọng: "Bệ hạ, chén thuốc ngự y dâng đã dùng được nửa canh giờ. Long thể người đã bớt đau nhức phần nào chưa ạ?"
Nhật Tôn chẳng buồn nhìn lão, chỉ nặng nề thở dài, âm thanh mang theo sự cạn kiệt của sinh mệnh. Mấy tháng nay, cơn đau từ trong xương tủy dày vò ông không nguôi, đêm nào cũng trằn trọc đến tận canh tư, mà trước mặt bá quan ông vẫn phải giữ dáng ngồi thẳng như tùng bách.
"Thuốc của lũ lang băm Thái Y viện chẳng khác nước lã, chẳng có chút tác dụng nào." Ông siết chặt hai hạt hồ đào trong lòng bàn tay, gằn từng chữ. "Nội Vụ Phủ hồi bẩm là Tạ Quang Bửu Thái y đã qua đời, ta cứ cảm thấy có chỗ đáng nghi nên mới cho Vệ Cẩm Y điều tra, sáng nay bọn chúng mới hồi bẩm lại, người biết kết quả thế nào không!?"
“Dạ… dạ!” Tô Đức Khải cố gắng bình tĩnh nhưng ánh mắt của ông đã dao động không ngừng, vẻ lúng túng hiện rõ qua vài giọt mồ hôi thấm trên cố.
“Chẳng có gì cả, bọn chúng quả quyết khẳng định trên thi thể tên Thái Y đó không có dấu vết sát hại, đã vậy cũng không tìm thấy được bất kỳ phương thuốc nào trong phủ của hắn, mọi việc cũng đành bất lực, đi vào ngõ cụt!” Nhật Tôn thở từng hơi nặng nhọc, khó khăn, vừa ho hắng vừa cố rặn ra từng chữ, “Ta thực lòng không biết,... Hụ…. có kẻ đằng sau dàn xếp cái chết này quá tỷ mỷ hay không, hụ….”
Đức Khải cúi gằm mặt, chóp mũi cay xè, giọng e dè tột độ: "Bẩm Bệ hạ, Người suy nghĩ nhiều rồi! Người lo việc Nước vốn đã hao tâm tổn sức, nếu cứ bận tâm về một kẻ hạ nhân đã chết mà hao khí nữa thì không đáng đâu ạ!"
Lão xoa nhẹ vào sau vai gáy của Bệ hạ như muốn xoa dịu cơn ho, ông nuốt khan nói tiếp: "Bệ hạ, ngự y viện đã bẩm rằng thứ thuốc giảm đau Bửu thái y từng dùng, tuy dập được cơn đau tức thì, nhưng tàn phá xương tủy, hao mòn nguyên khí. Dùng lâu sinh ảo giác, trằn trọc bất an, phế phủ bốc hỏa khiến da dẻ lở loét. Bệ hạ là bậc chí tôn, sao có thể dùng lại thứ tà dược ấy?"
Cạch!
Hai hạt hồ đào ngừng bặt. Nhật Tôn từ từ quay đầu, ánh mắt tựa hai lưỡi chủy thủ cắm ngập vào đỉnh đầu Đức Khải.
"Ngươi thì biết cái gì?...hụ…" Giọng Nhật Tôn cố rít lên, không to mà lạnh như băng. "Đau đớn róc xương xẻ thịt thì đã sao? Lở loét da dẻ thì đã sao? Ta chỉ là không muốn để bá quan văn võ thấy mình sức cùng lực kiệt mà coi thường, ta thà chịu vạn tên xuyên tim, quyết không để mình đến việc thở cũng khó nhọc, việc nói một câu cũng nặng nề như này. ….. hụ hụ” Nhật Tôn gần như ngã gục theo từng tiếng ho kéo dài, “Một ngày ta còn ngồi trên ngai này, Ta phải là kẻ định đoạt sinh tử thiên hạ, chẳng thể có một giây yếu mềm, cũng chẳng thể để thiên hạ thấy Ta chỉ là cái xác đang chờ chết!"
Tiếng ho hắng vang vọng nơi cung điện rộng lớn, mỗi tiếng ho giống như mang theo vạn mũi kim đâm vào cổ họng. Nhật Tôn ôm cổ mình, ánh mắt thẫm đẫm bao nhiêu là phẫn nộ, sát khí. Thứ sát khí ấy dường như kéo Hoàng đế khỏi cơn đau quằn quại để từng câu từng chữ ngày càng trở nên mạch lạc, khí thế vẫn đủ sức bức người, vẫn đủ ép Đức Khải nghẹt thở.
Dẫu ngoài kia, gió đông đang thét gào mà hậu điện này lại nóng nực đến lạ. Một luồng khí nóng cứ bao quanh lấy Đức Khải. Từng giọt mồ hôi lấm tấm nhỏ trên thái dương rồi nhỏ từng vệt dài trên gò má. Bàn tay giấu trong ống tay áo cuộn chặt phong thư ố vàng. Nét chữ nghệch ngoạc của đứa cháu đang thoi thóp trên giường bệnh như ngọn lửa thiêu đốt tâm can lão.
---
Không thể chần chừ thêm nữa. Dẫu có bị lôi ra Ngọ Môn chém đầu, ta cũng phải nói!
Đức Khải bất chợt dập đầu cộc cộc xuống nền gạch Bát Tràng, tiếng va khô khốc, thê lương: "Bệ hạ! Hạ nhân muôn vàn đáng chết, tội đáng muôn trượng! Cúi xin Bệ hạ khai ân, cho phép hạ nhân được xuất cung một chuyến!"
Nhật Tôn khẽ nheo mắt, sát khí trên mặt ngưng lại.
"Hạ nhân vừa nhận được gia thư." Đức Khải nghẹn ngào, nước mắt đục ngầu tràn khỏi khóe mắt nhăn nheo, rớt lã chã xuống mu bàn tay. "Cháu gái hạ nhân, giọt máu cuối cùng của họ Tô, đang mắc bệnh hiểm nghèo, e chẳng qua nổi vài ngày. Hạ nhân một đời bôn ba chốn cung đình, nay thân thích chỉ còn mình nó. Cúi xin Bệ hạ thương xót, cho hạ nhân về nhìn mặt nó lần cuối, chôn cất nó cho mồ yên mả đẹp. Ơn này, kiếp sau hạ nhân xin làm trâu làm ngựa, kết cỏ ngậm vành báo đáp Bệ hạ!"
Từng lời thốt ra đều rỉ máu, thảm thiết, chẳng có nửa điểm giả dối. Nhưng rơi vào tai Nhật Tôn lúc này, chúng lại thành mồi lửa ném thẳng vào kho thuốc súng của sự nghi kỵ.
Từ sau vụ biến loạn ở Tường Phúc Cung, rồi chuyện Tạ Quang Bửu biến mất rồi được thông báo là đã chết đầy bí ẩn, bóng đen phản trắc cứ lảng vảng quanh long sàng. Hoàng đế chẳng còn tin ai. Từng bát thuốc dâng lên, từng ánh mắt phi tần, từng bản tấu triều thần, trong mắt ông đều ẩn chứa mưu đồ phản nghịch.
Tẩm điện lặng ngắt. Gió bấc ngoài kia rít lên từng hồi ma quái.
Đột nhiên Nhật Tôn đứng phắt dậy, tấm áo choàng lông cáo trượt xuống đất. Bàn tay nhợt nhạt vơ lấy chén trà Long Tỉnh đang bốc khói trên kỷ, ném thẳng về phía Đức Khải.
Xoảng!
Chén sứ vỡ tan. Nước trà nóng rực tạt vào vai, văng lên mặt lão. Lão thái giám già rú lên một tiếng, co rúm cả người. Mảnh sứ rạch một đường dài trên má, máu rỉ ra. Nhưng lão chẳng dám đưa tay ôm mặt, chỉ cắn chặt môi, run rẩy thu mình như con giun bị dẫm nát, thút thít không thành tiếng. Lão biết cơn thịnh nộ của đế vương đã giáng xuống, lão sẽ chết tại đây, chẳng bao giờ gặp lại cháu gái.
Đức Khải chỉ biết trườn tới, hai tay ôm chặt gấu long bào lót bông, gục đầu xuống mu bàn chân nhà Vua chờ phán quyết, chẳng dám xin tha nửa lời.
"Ngươi nói nghe hay lắm! Hiếu nghĩa cảm động đất trời lắm!" Nhật Tôn gầm lên, lồng ngực phập phồng, đôi mắt vằn đỏ nhìn chằm chằm kẻ đang run rẩy dưới chân. "Ngươi chọn đúng lúc này để xin xuất cung sao? Tô Đức Khải, ngươi theo hầu Ta từ thuở Ta còn là Hoàng tử thất thế, ba chục năm nay Ta coi ngươi là tâm phúc, là kẻ duy nhất có ngươi túc trực Ta mới nhắm mắt yên giấc. Vậy mà nay, khi long thể Ta suy kiệt nhất, khi quanh Ta hàng vạn con sói đói rình ăn tươi nuốt sống ngai vàng này, ngươi lại chọn rời bỏ Ta?!"
Ông đá văng tay Đức Khải, lùi một bước, nụ cười vặn vẹo, chua chát: "Nói thật cho Ta biết! Có phải ngươi đã biết được bí mật gì? Hay kẻ nào ngoài kia đã đút lót, hứa cho ngươi vinh hoa để ngươi tiếp tay hại Ta? Ngươi sợ ở lại sẽ bị liên lụy chu di cửu tộc nên bịa ra cớ cháu gái ốm đau để cao chạy xa bay? Hả?! Trả lời Ta!"
Tiếng quát vang như sấm giữa tẩm điện. Đức Khải ngẩng phắt lên, mặc máu và nước trà nhem nhuốc, đôi mắt già mở to đầy bi phẫn. Nỗi oan khuất và lòng trung bị chà đạp đã đè bẹp cả sợ hãi.
Lão dập đầu liên tiếp ba cái, máu trán hòa cùng máu mặt, khàn giọng thề: "Bệ hạ minh xét! Nếu hạ nhân có nửa điểm mưu phản, trời tru đất diệt, vĩnh viễn không được siêu sinh! Hạ nhân dẫu ngu muội cũng biết, nếu có lòng phản trắc, hạ nhân đã lẳng lặng trốn khỏi cung ngay trong đêm, đâu dám quỳ đây tự nộp mình cho Bệ hạ băm vằm? Hạ nhân chỉ là kẻ tàn phế hèn mọn, không quyền không thế. Dẫu có kẻ thù muốn đoạt ngôi Bệ hạ, chúng thèm gì một cái xác khô như hạ nhân mà hứa hẹn vinh hoa?"
Bàn tay run lẩy bẩy của lão thò vào ngực áo, lôi ra tờ Tuyên Thành nhàu nát, thấm đẫm mồ hôi, dâng lên quá đầu: "Cúi xin Bệ hạ xem xét! Đây là nét chữ của con bé, nét chữ chính hạ nhân năm xưa đã xin người trong cung dạy cho nó. Hạ nhân thà chết dưới chân Bệ hạ hôm nay, cũng tuyệt không dám lừa Thánh nhan nửa lời!"
---
Nhật Tôn đứng trơ ra, ánh mắt lướt qua tờ giấy đang rung bần bật trong tay kẻ hầu. Ông không nhận lấy. Sự đa nghi đã ăn sâu vào tủy não khiến ông chẳng thể phân biệt giọt lệ kia là thật hay là đỉnh cao của giả dối.
Nhưng nhìn mái tóc đã bạc, tấm lưng còng và đôi mắt vẩn đục đang tuyệt vọng cầu xin của Đức Khải, một ký ức xa xăm bỗng phá vỡ bức tường băng giá trong lòng vị Hoàng đế.
Đó là một đêm mưa xối xả cách đây ba mươi năm.
Một Hoàng tử mười lăm tuổi, vì làm phật ý Tiên đế, bị phạt quỳ giữa sân gạch Thái Hòa Điện. Mưa quất rát mặt, gió lạnh như ngàn lưỡi dao cắt da. Vị Hoàng tử ấy ngất lịm vì phong hàn, thập tử nhất sinh. Và trong đêm tối nhất ấy, có một tiểu thái giám gầy gò nhỏ thó chẳng màng tính mạng, lén cởi tấm áo duy nhất của mình che cho ông, rồi dùng chút thân nhiệt mỏng manh ôm ấp, giữ cho ông hơi ấm cuối cùng. Cậu thức trắng ba ngày ba đêm sắc thuốc, hầu hạ bên giường bệnh. Cũng chính trong ba ngày ba đêm sinh tử ấy, cha mẹ cậu ở quê nhà lâm bạo bệnh qua đời. Cậu vĩnh viễn mất cơ hội nhìn mặt song thân lần cuối, chỉ vì chọn ở lại giữ mạng cho một Hoàng tử thất thế.
Tiểu thái giám ấy chính là Tô Đức Khải đang quỳ trước mặt ông lúc này.
Ba mươi năm đằng đẵng trôi qua như cái chớp mắt. Ân tình xưa chưa từng được báo đáp tử tế, nay lại muốn tước nốt cơ hội cuối cùng để người ấy gặp người thân duy nhất còn lại trên đời sao?
Cơn giận ngùn ngụt trong lòng Nhật Tôn chợt xẹp xuống, nhường chỗ cho một nỗi trống rỗng, u hoài đến nát gan. Ông từ từ nhắm mắt. Gió bấc ngoài kia vẫn gào, nhưng lửa giận trong lòng quân vương đã tắt hẳn.
"Đứng lên đi."
Giọng ông vang lên nhỏ bé, khàn đặc, không còn uy lực của bậc chí tôn, chỉ như tiếng thở dài của một lão nhân mỏi mệt. Đức Khải sững sờ, ngước đôi mắt nhòe lệ nhìn chủ nhân.
"Ngươi thu dọn đồ đạc, về Thanh Hóa đi." Nhật Tôn lùi lại, tự tay nhặt tấm áo choàng lông cáo dưới đất. "Về sớm, còn kịp nhìn mặt con bé."
"Bệ hạ..." Đức Khải run rẩy, nước mắt lại trào, lần này là nước mắt của tủi thân và hàm ơn tột độ.
Nhật Tôn quay lưng, hướng mắt về ngự uyển tiêu điều. Lưng ông hơi còng xuống, bóng đổ trên nền gạch cô độc hơn bao giờ hết. "Đức Khải à..." Giọng ông mang một âm sắc bi thương mà cả đời ông chưa từng để lộ trước ai. "Ba mươi năm qua ngươi chịu nhiều cực khổ vì Ta. Ta tính tình thất thường, lúc nóng lúc lạnh, trách phạt ngươi chẳng ít lần. Việc năm xưa khiến ngươi không được nhìn mặt song thân, là Ta có lỗi với ngươi."
Nghe ba chữ "Ta có lỗi", Đức Khải như bị sét đánh. Làm tôi, mấy ai trong sử sách từng nghe bậc đế vương hạ mình nhận lỗi? Cổ họng lão nghẹn lại như bị bàn tay vô hình bóp chặt, dập đầu lia lịa: "Bệ hạ ngàn vạn lần chớ nói thế! Được hầu hạ Bệ hạ là phước ba đời của hạ nhân! Bệ hạ bảo trọng long thể, hạ nhân lo xong việc nhà sẽ lập tức hồi kinh, ngày đêm túc trực bên Người!"
Nhật Tôn không đáp. Ông không tin Đức Khải sẽ quay lại, cũng chẳng còn đủ sức để trông cậy vào lòng trung của bất kỳ ai. Ông khẽ xua tay vào không trung, rồi chậm rãi bước ra ngưỡng cửa, bỏ lại Đức Khải một mình giữa tẩm điện rộng lớn.
Đức Khải quỳ đó hồi lâu, nước mắt lã chã rơi trên nền gạch lạnh. Lão ngước nhìn giá gỗ đàn hương bên cạnh ngai vàng, nơi treo ngay ngắn bộ long bào thêu rồng cuộn kim tuyến rực rỡ, uy nghi.
Qua màn lệ, bộ long bào nhòe đi, chồng lên hình bóng một vị Hoàng tử anh dũng, nụ cười ấm áp như ánh thái dương, từng vỗ vai lão mà nói: "Sau này ta làm Vua, sẽ cho ngươi hưởng vinh hoa phú quý cả đời!"
Nay vinh hoa phú quý đã thừa, mà lòng người lại hóa tro lạnh. Cung thành hoa lệ này, ngai vàng rực rỡ này, rốt cuộc đã dùng lưỡi dao vô hình nào để cắt gọt, bào mòn một trái tim ấm áp, biến vị minh quân năm nào thành một kẻ ôm mộng bá vương mà cô độc, đa nghi và thảm hại đến thế?
Đức Khải lau vội vệt máu trên má, cúi xuống nhặt từng mảnh sứ vỡ nơi nền gạch, sợ có người vô ý giẫm phải. Đến lúc này lão mới thấy đau, nhưng cái đau ấy nhẹ tênh so với nỗi lo cho đứa cháu nơi quê nhà xa xôi.
Gió bấc vẫn lùa qua khe cửa. Đức Khải lết đôi chân già đứng dậy, bóng lão xiêu vẹo, chậm rãi rời Long An Cung, mang theo nỗi bi ai vô tận của một vương triều đang chìm dần vào bóng tối.
Q2·Ch.5: Tâm can như vỡ vụn
📖 Quyển 2: Lửa ngầm