Tờ thông báo được dán lên vách nhà chung vào lúc sương chưa tan hết.
Ông Thiệp dán nó bằng hồ nếp nấu loãng, quét bốn góc rồi quét thêm một đường giữa, vuốt từ trong ra ngoài cho hết bọt khí. Ông làm chậm và làm kỹ, việc của người đã dán hàng nghìn tờ giấy lên đúng cái vách ấy. Chùm chìa khóa ở thắt lưng ông kêu lách cách mỗi lần ông đổi chân.
Khi ông quay lại thì sau lưng đã có mười mấy người.
"Cụ đọc hộ đi."
"Tôi giữ nhà chung, tôi không đọc hộ." Ông Thiệp nói. "Đọc sai một chữ là tôi mang tiếng."
Người ta tìm Đức. Đức đang trên đường xuống chợ, bị bà Tần túm tay áo kéo ngược lên dốc, và nó đứng trước tờ giấy còn ướt hồ, đọc to, từng câu một, giọng đều, không thêm không bớt.
Ngày hai mươi. Đối chiếu toàn khu trạm hút. Mọi hộ có tên trong quỹ góp chung. Mỗi hộ nộp bản kê đầy đủ giao dịch ba tháng của mọi người trong hộ. Bản kê phải khớp với sổ của các nơi thu mua trong khu. Chỗ nào thiếu thì ghi là thiếu. Gọi theo thứ tự danh sách hộ, gọi từ sáng, ai vắng mặt thì ghi là vắng mặt.
Rồi câu cuối.
"Các nơi thu mua có đăng ký trong khu nộp bản sao sổ nhập ba tháng cho nhà chung trước ngày mười chín."
Đức đọc xong thì im. Nó đọc lại một lượt nữa trong đầu, và Nam đứng cách nó bốn bước nhìn thấy hai ngón tay dầm mực của nó siết lại quanh mép ống tay áo.
"Nơi thu mua nào?" Có người hỏi.
"Chỗ nào có số hiệu."
"Kho Ba có số hiệu à?"
"Từ hôm qua."
Cái tin đó đi vòng qua đám đông chậm hơn Nam tưởng. Người ta cần một lúc để nối được hai đầu: cái kho ở chân dốc, chỗ họ đem đồ tới cầm, giờ là một chỗ có sổ mà người trên tra được.
Bà Tần lên tiếng trước.
"Thế cái vòng bạc bà Chỉnh cầm tháng trước có nằm trong sổ ấy không?"
"Có," Đức nói.
"Cái nồi, cái chăn, cái áo bông người ta cầm, có nằm trong sổ ấy hết không?"
"Có."
"Thế người ta chuộc về rồi thì sao?"
Đức trả lời câu đó đúng như nó phải trả lời, và Nam nghe ra ngay là nó đã trả lời chậm nửa nhịp.
"Thì trong sổ có thêm một dòng ghi là đã chuộc."
Trong bốn mươi người đứng đó, Nam đoán có chừng năm người nghe hết cả câu. Số còn lại dừng ở chữ "chuộc về". Cả đám người chuyển thế đứng gần như cùng một lúc, cái động tác của người vừa nhìn thấy một lối ra.
"Chuộc về thì đồ nó ở nhà mình," một gã trẻ nói to, "thì nó là đồ nhà mình, người ta xuống đếm thì đếm cái gì?"
"Không phải thế." Đức nói. "Nghe tôi nói hết đã. Sổ nhập không phải sổ đồ đang nằm trong kho. Sổ nhập ghi giao dịch. Cầm là một dòng, chuộc là một dòng nữa. Chuộc về thì trong sổ thành hai dòng, chứ không thành không dòng nào."
"Mày mười bảy tuổi."
"Thì tôi mười bảy tuổi." Đức nói. "Chữ trên giấy không hỏi tuổi tôi."
Nhưng đám đông đã bắt đầu tan ra ở rìa. Người ta đi lùi vài bước rồi quay hẳn người, đi nhanh dần, và Nam nhìn thấy hai người đàn bà chạy, chạy thật, xuống dốc, tay giữ vạt áo.
Đức đứng lại trước tờ giấy còn ướt hồ.
"Tao nói đúng mà," nó nói.
"Tao biết mày nói đúng."
"Tao nói đúng và tao nói to và tao nói trước mặt bốn chục người." Nó quay lại nhìn xuống dốc. "Mày xuống kho ngay đi. Mày xuống trước họ."
Nam xuống không kịp trước họ.
Lúc cậu tới chân dốc thì trước cửa kho Ba đã có mười một người đứng, và ông Hoạch đang tra chìa vào ổ khóa với mười một người thở sau gáy. Bào chạy ra từ phía sân sau, tay còn cầm cái chổi.
"Có chuyện gì đấy?"
"Mở cửa đi bác." Nam nói. "Cháu kể sau."
Đến giữa buổi sáng thì hàng người kéo dài từ cửa kho ra tới gốc gạo, rồi vòng qua gốc gạo, rồi đứng thành hai lượt. Người ta mang tiền trong khăn tay, trong ống tre, trong bọc vải buộc ba nút. Có người mang cả cái mẹt để đựng đồ chuộc về.
Ông Hoạch ngồi sau quầy. Ông không đứng dậy lần nào trong bốn tiếng.
Cách làm là thế này: người ta xưng tên, Nam chạy vào trong tìm cái thẻ, đối chiếu số thẻ với dòng trong sổ, ông Hoạch tính gốc, tính lãi theo số ngày, đọc lên; người ta trả; ông Hoạch ghi một dòng chuộc kèm ngày; Bào vào kho lấy đồ ra, đối chiếu thẻ lần nữa trước mặt chủ, rồi bóc thẻ.
Hai năm rưỡi Nam dán thẻ ở cái kho này. Cậu biết cái nồi đồng nằm giá thứ ba từ dưới lên, biết mấy cái cày dựng chụm ở góc phía đông vì gian ấy khô nhất, biết chỗ nào để đồ bạc và vì sao. Sáng hôm ấy là lần đầu tiên trong hai năm rưỡi cậu thấy cái việc mình vẫn làm mỗi ngày trở thành cái việc quan trọng nhất trong phòng.
"Vòng bạc, bà Chỉnh, thẻ hai trăm mười bốn."
"Gốc một đồng hai, lãi hai mươi tám ngày, một hào tư. Một đồng ba hào tư."
Bà Chỉnh đếm tiền ra mặt quầy, đếm hai lần, tay run. Bà đeo cái vòng vào cổ tay ngay tại chỗ rồi kéo tay áo phủ xuống.
"Tháng sau tôi lại mang xuống," bà nói.
"Vâng."
"Ông đừng cười tôi."
"Tôi có cười bà bao giờ đâu," ông Hoạch nói, và ông đã ghi xong dòng của bà trước khi bà quay lưng.
Đến lượt thứ mười mấy thì bắt đầu có người thiếu tiền. Một bà mẹ trẻ đếm ra đủ gốc nhưng thiếu bốn hào lãi, đứng ở quầy không nhúc nhích, và người đứng sau lưng bà ta là bà Tần. Bà Tần rút trong yếm ra bốn hào đặt xuống.
"Trả tôi sau mùa."
"Vâng ạ."
"Bao giờ?"
Bà mẹ trẻ ngẩng lên. Cả hàng người im một chút, vì ai cũng biết câu vừa rồi là câu gì.
"Cháu không dám hứa," cô ta nói.
"Ừ," bà Tần nói. "Thế thì cầm lấy."
Ông Hoạch ghi dòng chuộc của cô ta. Ông không ghi bốn hào của bà Tần, vì bốn hào của bà Tần không phải việc của cái kho.
Gần trưa, bà Tần tới lượt mình. Bà chuộc tập giấy bọc vải bà cầm hồi tháng ba, ba đồng. Bà trả đủ. Rồi bà đứng nguyên chỗ, không nhường lối.
"Ông Hoạch."
"Vâng."
"Cái dòng ông vừa viết ấy." Bà nói. "Ông bỏ đi được không."
Kho im hơn một chút. Người đứng ngay sau bà Tần lùi lại nửa bước, cái lùi của người muốn nghe rõ mà không muốn bị tính là đang nghe.
"Không được."
"Tôi trả ông thêm."
"Bà Tần—"
"Tôi biết ông không thiếu tiền. Tôi nói cho ông biết là tôi có trả." Bà đặt hai tay lên mép quầy. "Ba mươi mốt năm ông ngồi cái ghế đó không có tờ giấy phép nào. Tuần trước ông muốn ghi thế nào thì ghi. Hôm qua ông cầm tiền của ông đi mua cái số hiệu ấy. Ông mua cho ông, ông Hoạch ạ. Ông không mua cho tôi."
Ông Hoạch để cây bút xuống ngang thân nghiên mực.
"Vâng," ông nói. "Tôi mua cho tôi."
"Thế thì đừng bắt tôi trả tiền cái ông mua."
"Bà Tần, cái sổ này từ hôm qua phải giữ đủ ba năm và người ta đối chiếu lúc nào cũng phải có. Tôi bỏ một dòng thì cái dòng trên với dòng dưới nó lệch số thứ tự. Người ta không cần biết tôi bỏ dòng nào, người ta chỉ cần đếm."
"Ông cứ nói là ông ghi nhầm."
"Rồi người sau tôi cũng ghi nhầm. Rồi cả cái sổ là sổ ghi nhầm." Ông ngẩng lên nhìn bà. "Tôi ghi cho bà rồi thì tôi ghi cho ai nữa? Bà đứng đây, bà nhìn ra ngoài kia hộ tôi một cái."
Bà Tần không quay lại nhìn hàng người. Bà cầm tập giấy bọc vải lên, ôm vào ngực, và đi ra.
"Tôi biết ông đúng," bà nói khi đi ngang chỗ Nam. "Ông đúng thì mặc kệ ông."
Hoa Gia đứng bên kia đường, dưới gốc gạo, từ lúc nào không ai để ý.
Cô không vào. Cô đứng đó với hai tay khoanh trước ngực, mắt đi dọc hàng người, và cứ một lúc lại cúi xuống mẩu giấy trong lòng bàn tay. Nam ra ngoài đổ nước, thấy cô, đi lại.
"Cô đếm à."
"Từ đầu giờ."
"Được bao nhiêu rồi?"
"Bốn mươi bảy người đã vào, mười chín người đang đứng." Cô nói. "Nhưng tôi không đếm người vào. Tôi đếm nhà nào không có ai xuống đây sáng nay."
Nam nhìn hàng người.
"Nhiều không?"
"Mười một nhà." Hoa Gia gấp mẩu giấy lại. "Trong đó có bốn nhà trong danh sách hai mươi ba hộ. Cậu nghĩ vì sao bốn nhà đó không xuống?"
"Vì họ không có gì để chuộc."
"Hoặc vì họ đã biết chuộc cũng không được gì." Cô nói. "Hai cái đó nhìn giống nhau ở ngoài đường, mà trên giấy thì khác hẳn. Tôi cần biết là cái nào."
Cô đi. Cô không hỏi thăm ông Hoạch, không hỏi Nam đêm qua dì cậu nói gì.
Ông Vạn tới lúc quá trưa, khi hàng người đã ngắn lại còn năm sáu người.
Ông ta là người xóm trên, tay to, đi chân đất, mang theo một cái bọc tiền cuộn tròn nhét trong lưng quần. Ông ta xưng tên, xưng cái cày, và Nam đi vào trong tìm thẻ.
Nam biết trước khi cậu tìm.
Cậu quay ra, đứng ở đầu quầy, không nói. Ông Hoạch nhìn mặt cậu rồi tự kéo cuốn sổ về, lật ngược lại ba trang.
"Ông Vạn cầm cái cày mồng hai tháng hai," ông nói. "Hạn chuộc hai tháng. Hôm nay là quá mười ba ngày."
"Tôi biết là tôi quá hạn." Ông Vạn nói. "Tôi mang đủ. Tôi mang cả lãi quá hạn."
"Cái cày không còn ở đây nữa."
Ông Vạn đứng im.
"Tôi bán cho một ông lái ở chợ trên. Tám hôm trước." Ông Hoạch nói. Ông nói thẳng, không hạ giọng. "Quá hạn mười ngày thì tôi bán. Ba mươi mốt năm tôi làm thế, ai cầm ở đây cũng biết cái lệ đó."
"Tôi biết cái lệ đó."
"Vâng."
"Tôi biết cái lệ đó," ông Vạn nói lại, và tay ông ta bắt đầu run, "nhưng ông bán mất cái cày của tôi thì tôi lấy gì tôi cày?"
"Tôi trả ông phần chênh. Tôi bán được hơn chỗ ông nợ tôi một đồng bảy. Một đồng bảy là của ông, tôi vẫn giữ đây."
"Tôi không cần một đồng bảy. Tôi cần cái cày."
Ông Hoạch không nói gì. Ông kéo ngăn kéo, đếm ra một đồng bảy, đặt xuống mặt quầy, và để tiền nằm đó.
"Ông ghi cái vụ bán ấy vào sổ chứ?" Đức hỏi từ chỗ khung cửa. Nam không biết nó tới từ lúc nào.
"Có."
"Ngày mồng bảy?"
"Mồng bảy."
Đức bước vào, tới bên quầy, và nó không xin phép ai cả, nó kéo cuốn sổ về phía mình và nhìn dòng ấy.
"Bác bán một món đồ cầm quá hạn hôm mồng bảy," nó nói. "Hôm mồng bảy kho Ba chưa có số hiệu."
"Thì sao?"
"Thì bác bán tài sản cầm cố ở một nơi thu mua không đăng ký." Đức nói. "Ba mươi mốt năm không ai hỏi bác câu đó, vì không có sổ thì không có gì để hỏi. Bây giờ có sổ rồi. Và cái sổ ấy phải nộp bản sao lên nhà chung trước mồng mười chín."
Ông Vạn nhìn hết người này tới người kia, cái nhìn của người nghe hai đứa trẻ con nói một thứ tiếng khác trong lúc mình đang mất một cái cày.
"Thế tôi thì sao?" Ông ta hỏi.
Không ai trả lời ông ta ngay, và cái khoảng lặng ấy dài đúng bằng cái khoảng lặng mà tất cả những người trong phòng đều nghe thấy.
Ông Hoạch đẩy một đồng bảy sang thêm một chút.
"Ông cầm chỗ này," ông nói. "Rồi chiều mai ông xuống đây. Tôi có cái cày cũ ở gian sau, lưỡi mòn nhưng còn chuôi tốt. Tôi cho ông mượn tới hết vụ. Không tính tiền, không viết giấy, không hứa gì cả — ông xuống thì có, ông không xuống thì thôi."
Ông Vạn cầm tiền. Ông ta đi ra tới cửa rồi dừng lại, quay đầu, định nói thêm rồi lại thôi, rồi đi.
Nam đứng ở đầu quầy nhìn theo ông ta. Trong ngực cậu, dưới xương ức, cái điểm tì lên tiếng và không chịu xuống. Trên mặt quầy, cuốn sổ ghi rằng khoản của ông Vạn đã tất toán và kho Ba còn trả lại cho ông ta một đồng bảy.
Đức vẫn đứng bên cuốn sổ.
"Sáng nay bác ghi bao nhiêu dòng chuộc?"
Ông Hoạch đếm.
"Năm mươi hai."
"Ngày thường bao nhiêu?"
"Hai. Ba."
Đức gật đầu chậm.
"Trong ba tháng vừa rồi, sổ của bác chạy đều. Rồi đến ngày mười lăm có một bức tường." Nó nói. "Năm mươi hai dòng chuộc trong một buổi sáng, đúng cái buổi sáng người ta dán tờ thông báo lên vách nhà chung. Người ngồi đọc sổ này hôm hai mươi không cần quen ai trong khu. Người ấy chỉ cần nhìn cái cột ngày."
"Rồi người ấy nghĩ gì?" Nam hỏi.
"Người ấy nghĩ cả khu vừa cùng nhau làm một việc trong cùng một buổi sáng." Đức nói. "Bốn chục người sáng nay chạy xuống đây để tên mình đỡ lộ. Họ vừa ký tên vào cùng một dòng, tất cả cùng lúc. Không ai ép họ, không ai lừa họ. Tao đứng trước mặt họ tao nói ra sự thật, và sự thật làm họ chạy nhanh hơn."
Bà Sảo tới lúc kho đã vắng.
Bà không mang tiền. Bà mang cái làn không, y như hôm qua, và bà đứng ở cửa một lúc cho tới khi ông Hoạch ngẩng lên.
"Tôi không chuộc được," bà nói. "Tôi xuống hỏi một câu."
"Bà hỏi."
"Người ta bảo cái sổ của ông phải nộp lên trước mồng mười chín. Trong sổ ông có cái nhẫn của tôi ghi bao nhiêu?"
Ông Hoạch không trả lời ngay.
"Bốn đồng," ông nói.
"Ông cho tôi bốn đồng thật à?"
"Tôi đưa bà bốn đồng." Ông nói. "Trong sổ tôi cũng ghi bốn đồng. Cái nhẫn ấy đáng sáu."
Bà Sảo đặt cái làn xuống nền đất.
"Ông ghi thấp cho tôi."
"Vâng."
"Cả ba lần?"
"Cả ba lần."
Bà đứng đó một lúc lâu, và Nam nhìn thấy bà làm một phép tính trong đầu, và cậu nhìn thấy bà làm xong nó trước cả Đức.
"Ông đừng sửa," bà nói.
Ông Hoạch nhấc đầu lên.
"Ông định sửa lại cho đúng phải không. Trước mồng mười chín." Bà nói. "Thằng nhỏ này với thằng kia đứng đây bàn từ hôm qua, tôi nghe được nửa câu lúc tôi ra cửa. Ông đừng sửa."
"Bà biết bà đang bảo tôi cái gì không."
"Tôi biết." Bà Sảo nói. "Ông nghe tôi nói cái này. Nhà bà Duyên bên kia rãnh, năm kia mất cái khung cửi. Tôi đứng ngoài xem người ta khiêng. Cái khung cửi ấy bà ta cầm ở hiệu trên phố, ghi đúng giá, tám đồng. Đến lúc bà ta bị xếp vào diện có tài sản chuyển nhượng được thì bên nắm văn tự bảo lãnh kê luôn cái khung cửi vào phần bảo đảm cho khoản góp bà ta còn thiếu. Bà ta không được chuộc nữa. Cái chỗ cầm cũng không giữ được cho bà ta, vì nó có ghi, nó có số, nó nằm ở một chỗ có đăng ký."
Đức bước lại gần thêm một bước.
"Vật cầm ghi từ năm đồng trở lên mới kê biên được," nó nói. "Dưới năm đồng thì xếp là vật cầm nhỏ, không vào danh mục."
"Đấy," bà Sảo nói. "Cái nhẫn của tôi ghi bốn đồng thì nó là cái nhẫn của tôi đang gửi ở nhà ông Hoạch. Ghi sáu đồng thì nó là tài sản, và tài sản thì người ta đem đi được."
Kho im. Ngoài sân có tiếng Bào kéo cái thùng gỗ về chỗ cũ.
"Còn cái ngưỡng mười đồng," ông Hoạch nói. "Tôi sửa cả ba dòng về giá thật thì tổng ba tháng của bà là mười hai đồng rưỡi. Bà bị gọi lên đối chiếu trước cả hai mươi ba hộ kia."
"Vâng."
"Bà không sợ cái đó?"
"Sợ chứ." Bà Sảo nói. "Nhưng tôi đứng trước mặt người ta được. Cái nhẫn thì không đứng được."
Đức đang tính. Nam thấy hai ngón tay dầm mực của nó gõ nhẹ ba nhịp lên mép quầy, mỗi nhịp một con số.
"Có một cách nữa," nó nói. "Bác sửa hai dòng, để nguyên dòng thứ ba. Đôi khuyên về bốn đồng, áo bông về hai đồng rưỡi, cái nhẫn giữ nguyên bốn đồng. Tổng thành mười đồng rưỡi."
"Vẫn trên mười."
"Vẫn trên mười. Bà Sảo vẫn bị gọi trước." Đức nói. "Nhưng cái nhẫn vẫn dưới năm, vẫn là vật cầm nhỏ, vẫn chuộc được. Còn bác thì đứng trước người ta với hai dòng đã đính chính có ngày tháng và một dòng còn sai."
"Một dòng còn sai là một dòng còn sai," ông Hoạch nói.
"Vâng." Đức nói. "Cháu không nói nó sạch. Cháu nói nó là cái ít bẩn nhất trong mấy cái đang có trên bàn."
Ông Hoạch nhìn bà Sảo.
"Bà chọn đi."
"Ông hỏi tôi thật à?"
"Tôi hỏi bà thật."
Bà Sảo cúi xuống nhặt cái làn lên. Bà cầm nó bằng cả hai tay trước bụng, và bà trả lời không phải ngay lập tức nhưng cũng không lâu.
"Hai dòng kia ông sửa đi. Cái nhẫn ông để nguyên." Bà nói. "Rồi hôm hai mươi tôi lên trước. Tôi lên trước thì tôi về trước, chiều tôi còn phải trở thằng nhỏ."
Bà đi ra tới bậc thềm rồi quay lại.
"Ông Hoạch. Ông giấu tôi cái đó gần ba tháng."
"Vâng."
"Lần sau ông hỏi tôi trước." Bà nói. "Tôi không biết chữ, tôi không ngu."
Khi tiếng dép lê của bà đã khuất, ông Hoạch ngồi rất lâu với cây bút đặt ngang thân nghiên mực. Rồi ông kéo tờ giấy trắng về phía mình.
"Đức."
"Vâng."
"Cái đơn đính chính viết thế nào?"
"Cháu viết cho bác."
"Không." Ông Hoạch nói. "Mày đọc cho tao viết. Chữ tao xấu, nhưng cái đơn ấy phải là chữ tao."
Chiều, Nam với Bào đi xin chữ ký.
Ông Lãm hàng cối nghe hết, không ngắt lời một câu nào, rồi ông ngồi xuống cái cối đá đang đục dở và chùi tay vào ống quần.
"Tao biết mày tám năm," ông nói. "Cái đó tao ký được."
"Vậy—"
"Khoan. Tao ký thì tao khai là tao biết mày tám năm. Rồi người ta hỏi tao: thế nó là con ai." Ông nhìn Nam. "Mày trả lời tao đi. Tao đứng đấy tao trả lời thế nào?"
Nam không trả lời được.
"Tao không sợ ký," ông Lãm nói. "Tao sợ cái câu thứ hai. Cái câu thứ nhất tao biết, cái câu thứ hai tao không biết, mà hai câu ấy nằm dưới cùng một chữ ký của tao."
Bà Lũy thì nghe xong liền rót cho hai đứa hai bát nước chè, và bà nói không trước khi ngồi xuống.
"Tao không ký."
"Bà Lũy—"
"Tao nói không rồi thì tao nói thêm cho mày hiểu, mày ngồi xuống đã." Bà đẩy bát nước về phía Nam. "Tao không sợ hàng xóm. Cả cái dốc này ai chửi tao tao chửi lại được. Tao sợ tờ giấy. Mày nộp đơn, người ta gửi lên khu, khu trả lời xuống. Nếu người ta trả lời rằng mày đã có tên ở một cuốn sổ nào khác, thì cái tờ khai mày ký thành tờ khai gian, mà tên tao thì nằm ngay dưới. Lúc ấy tao không phải là bà hàng mì nữa. Tao là người làm chứng cho một tờ khai gian."
"Cháu sẽ không để bà—"
"Mày sẽ không để bà cái gì?" Bà Lũy nói. "Mày mười bảy tuổi và mày không có số hiệu. Mày lấy cái gì ra mà không để?"
Ra tới ngoài đường, Bào đá một hòn đá xuống rãnh.
"Còn ba người," nó nói.
Nam đứng lại giữa đường.
"Không còn ai cả."
"Còn ông thọt bán dầu, còn bà Chỉnh, còn—"
"Bào." Nam nói. "Hôm qua ông Tạ bảo đơn gửi lên khu, khu trả lời, nhanh thì hai mươi ngày. Hôm nay là mười lăm. Hôm đối chiếu là hai mươi."
Bào há miệng rồi ngậm lại.
"Tao đi cả buổi chiều," nó nói.
"Tao cũng đi cả buổi chiều."
"Không, ý tao là." Nó dừng, tìm chữ. "Ý tao là hôm qua tao ngồi trên bậc thềm tao đếm được năm cái tên và tao thấy tao có ích. Rồi bây giờ hóa ra cái tao đếm nó chẳng để làm gì, vì có ký đủ mười người thì cũng không kịp."
"Ừ."
"Tao ghét cái đó," Bào nói. "Tao ghét cái kiểu người ta đưa cho mình một việc rồi hóa ra việc ấy vốn đã hỏng từ trước lúc mình bắt đầu."
Nhà chung tối hôm ấy có đèn.
Nam đứng ở cửa một lúc trước khi gõ, vì cái cảnh bên trong khiến cậu không biết nên bước vào lúc nào.
Ông Thiệp ngồi ở cái bàn dài giữa nhà, dưới hai ngọn đèn dầu vặn to hết cỡ, chép. Bên trái ông là cuốn sổ bìa vải, mở ra, mép sờn tròn ở góc dưới bên phải. Bên phải ông là một chồng giấy rời. Ông chép từng dòng một, ngón tay trái dò theo dòng gốc, ngón tay phải cầm bút, và cứ chép được chừng mười dòng ông lại đặt bút xuống, nắm bàn tay phải lại rồi mở ra, nắm rồi mở, ba lần.
"Cụ ơi."
"Vào đi. Đừng đứng ở cửa, gió."
"Cụ chép gì đấy ạ?"
"Sổ." Ông Thiệp không ngẩng lên. "Trên khu bảo mọi nhà chung nộp sổ ra vào lên trước mồng mười chín. Để đối chiếu với danh sách hộ."
"Cụ nộp cuốn ấy à?"
"Tôi nộp bản chép." Ông Thiệp nói. "Cuốn kia tôi không đưa. Ba mươi bốn năm tôi cầm nó, tôi không đưa ai cả."
"Cụ chép được tới đâu rồi?"
Ông đặt bút xuống, ngang thân nghiên, và bây giờ ông mới ngẩng lên.
"Ba hôm nay tôi chép được mười một năm đầu," ông nói. "Còn hai mươi ba năm. Còn bốn ngày."
Nam nhìn chồng giấy rời. Nó dày, và nó chẳng dày bao nhiêu cả.
"Cụ chép không kịp."
"Không kịp."
"Rồi thì sao ạ?"
"Thì đến mồng mười tám tôi chép tới đâu hay tới đó, mồng mười chín tôi ôm cả cuốn gốc lên nộp." Ông Thiệp nói. "Tôi không có cách thứ ba. Tôi ngồi ba đêm rồi và tôi không tìm ra cách thứ ba."
Ông với tay kéo cái ghế đối diện ra cho Nam.
"Cậu xuống đây làm gì. Nói đi, tôi vừa chép hỏng một dòng vì nghe tiếng cậu gõ cửa."
Nam nói. Cậu nói ngắn: hai người làm chứng, hai mươi tuổi, biết cậu từ năm năm trở lên, và không kịp thời hạn.
"Không kịp thật," ông Thiệp nói. "Cái thủ tục ấy nhanh nhất là hai mươi ngày. Tôi biết vì tôi ngồi đây ba mươi bốn năm và người ta hỏi tôi câu đó nhiều lần rồi."
"Cháu biết là không kịp. Cháu vẫn xuống."
"Vì sao?"
Nam ngồi xuống cái ghế.
"Vì cụ là người duy nhất trong hạt này viết lại một dòng về cháu mà không ai bảo cụ viết."
Ông Thiệp nhìn cậu một lúc. Rồi ông kéo cuốn sổ bìa vải về, lật ngược, lật nhanh, tay ông biết chỗ.
"Năm nào?"
"Tám năm trước. Tháng chạp, hoặc tháng giêng, tháng hai."
Ông lật. Ông lật qua mấy chục trang, dừng, dò ngón tay xuống, lật tiếp, dừng lại.
"Đây."
Ông xoay cuốn sổ sang phía Nam và đặt ngón tay dưới một dòng.
Chữ nhỏ, đều, mực đã sang màu nâu. Ngày mười tháng hai. Bà Chín, xóm trên, đến xin giấy xác nhận cư trú cho một đứa con trai ở cùng nhà. Không có số hiệu. Không có giấy chuyển. Ghi tên gọi: Nam. Đã chỉ bà ấy sang phòng ba nhà hạt.
Bên dưới, thụt vào một chút, một dòng nữa bằng cùng nét chữ:
Đứa bé đứng đợi ở ngoài hiên. Không hỏi gì.
Nam đọc hai dòng ấy ba lần.
"Cháu không nhớ."
"Cậu chín tuổi." Ông Thiệp nói. "Tôi cũng không nhớ. Tôi chỉ nhớ là tôi có ghi, vì hôm ấy tôi ghi thêm một dòng, mà tôi thì rất ít khi ghi thêm dòng."
"Vì sao cụ ghi thêm?"
"Vì lúc ấy tôi thấy nó lạ." Ông nói. "Bây giờ tôi vẫn không biết nó lạ ở chỗ nào. Nếu biết thì tôi đã ghi rõ ra rồi."
Nam đặt tay lên mép trang giấy, không chạm vào dòng chữ.
"Cụ ơi," cậu nói. "Cái cuốn này mồng mười chín lên khu."
"Bản chép lên khu."
"Cụ vừa bảo cụ chép không kịp."
Ông Thiệp không đáp.
"Trong cuốn này có buổi chiều hôm kia," Nam nói. "Có chữ ký ông Cầm. Có cả đoạn ông ấy nói cháu không có tên trong quỹ, không có tên trong sổ hộ, không có tên trong danh sách phu công nhật bốn năm gần nhất. Cụ ghi đủ. Cháu đứng đấy cháu nhìn cụ ghi."
"Tôi có bảo trước với cậu là tôi ghi cả cái bất lợi cho cậu."
"Cụ có bảo." Nam nói. "Cháu vẫn bảo cụ giữ nguyên."
"Vâng. Cậu bảo tôi giữ nguyên."
Hai người ngồi im. Ngọn đèn bên trái cháy lệch, ông Thiệp với tay vặn nhỏ lại một nấc rồi vặn to trở lại.
"Cụ xé được không ạ."
Nam nghe thấy giọng mình hỏi câu đó và cậu không rút lại.
Ông Thiệp không giận. Ông kéo cuốn sổ về, gấp lại, đặt bàn tay lên bìa vải.
"Trang đánh số," ông nói. "Số chạy liền từ trang thứ nhất tới trang hôm nay. Tôi xé một trang thì cuốn sổ này nhảy từ bốn trăm mười hai sang bốn trăm mười bốn, và người đầu tiên cầm nó lên đều nhìn thấy. Cái duy nhất làm nó đáng giá là ba mươi bốn năm không thiếu chỗ nào. Tôi xé một trang cho cậu thì tôi không cứu cậu, tôi chỉ giết cuốn sổ."
"Cháu biết," Nam nói. "Cháu vẫn hỏi."
"Tôi biết là cậu biết. Tôi vẫn trả lời." Ông Thiệp đẩy cuốn sổ ra giữa bàn, giữa hai người. "Bây giờ cậu nghe tôi nói cái tôi làm được."
Ông gõ một ngón tay lên bìa vải.
"Tôi không xóa được cái gì trong này. Nhưng cuốn này chưa hết. Còn trang trắng."
Nam ngẩng lên.
"Ba mươi bốn năm nay, ai đến nhà chung nói với tôi một việc có thật, có ngày, thì tôi ghi." Ông Thiệp nói. "Người ta không phải xin phép ai. Người ta không phải có số hiệu. Chỉ cần đứng đây, nói ra trước mặt tôi, và chịu trách nhiệm về cái mình nói. Ông Cầm hôm kia cũng làm đúng như thế, và cậu nhìn thấy rồi đấy: ông ấy đọc cho tôi ghi, rồi ông ấy ký."
"Cụ ghi cho cháu cái gì cũng được ạ?"
"Cái gì có thật và có ngày."
Nam nhìn cuốn sổ nằm giữa bàn. Cậu nghĩ tới tờ biên nhận tám năm trước trong túi áo, tới bốn chữ ngoài lề tờ danh sách công nhật, tới cái ô trong tờ mẫu ở một chỗ nào đó rất xa mà người ta được dạy khi nào thì điền vào.
"Hôm hai mươi có người từ Kim Đài xuống ngồi ở đây," cậu nói.
"Ngồi ngay cái bàn này. Người ta bảo tôi kê thêm hai cái ghế."
"Người ấy sẽ đọc cuốn sổ này."
"Người ấy sẽ đọc bản chép nếu tôi chép kịp, đọc cuốn gốc nếu tôi không chép kịp." Ông Thiệp nói. "Cậu đừng trông vào việc tôi chép không kịp. Chép không kịp thì cuốn gốc lên, mà cuốn gốc thì đủ hơn."
Nam đứng dậy. Cậu đứng một lúc bên cạnh bàn, nhìn chồng giấy rời, nhìn cái nắm tay ông Thiệp lại mở ra, nắm rồi mở.
"Cháu về nghĩ," cậu nói. "Mai cháu xuống."
"Cậu nghĩ nhanh vào." Ông Thiệp đã cầm bút lên, ngón tay trái đã dò xuống dòng gốc tiếp theo. "Bốn ngày nữa cuốn này rời khỏi tay tôi. Cái gì cậu muốn có trong đó thì phải nằm trong đó trước lúc ấy."