🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← Valueism

Ch.14: ĐÃ CÓ NƠI GHI

~30 phút đọc · 5819 từ · · ⚠️ Báo cáo

Tiếng còi tắt. Mẩu đèn dầu trên bậu cửa đã cháy tới chỗ bấc cong, ngọn lửa nghiêng sang một bên rồi đứng thẳng lại.
"Có người hỏi tới chỗ đáng lẽ phải có tên con," Nam nói.
Dì Chín gật một cái. Bà không hỏi thêm, cứ ngồi yên ở góc trong, hai tay đặt lên cái áo đã gấp.
Nam kể. Cậu kể chậm, từng đoạn một, vì mỗi lần định rút ngắn thì lại thấy phải quay lại giải thích. Cậu kể về người đàn ông ở gác trên hiệu vải đầu phố Nhì, về việc ông ta đã tra ba nơi và không thấy tên cậu ở nơi nào: sổ quỹ góp chung, sổ hộ khu trạm hút, danh sách phu công nhật bốn năm gần nhất. Cậu nhắc lại nguyên văn câu ông ta nói trước lúc bỏ đi.
"Ông ấy ghi lại chưa," dì Chín hỏi.
Nam ngừng. Cậu đã đoán bà sẽ hỏi tại sao, hoặc hỏi người đó là ai, hoặc hỏi cậu có sao không.
"Ông ấy bảo chưa. Bảo còn một câu nữa chưa hỏi, hỏi xong mới viết."
"Chưa." Dì Chín thở ra một hơi rất nhẹ. "Được."
Bà đứng dậy. Nam nghe tiếng đầu gối bà kêu một cái, tiếng chân bà đi qua nền đất tới cái rương kê sát vách, tiếng nắp rương mở ra. Bà lục không lâu. Bà biết chính xác chỗ phải thò tay vào.
Thứ bà mang lại là một cuốn sổ ghi nợ hàng xén, bìa giấy bồi đã mềm, loại sổ mà nhà nào cũng có một cuốn và không nhà nào giữ. Bà lật tới quãng giữa, rút ra một tờ giấy gấp làm tư.
"Dì kẹp nó ở đây tám năm," bà nói. "Vì trong nhà này không có thứ gì chán hơn cuốn sổ đó. Ai lục cũng bỏ qua."
Nam mở tờ giấy ra dưới ngọn đèn. Giấy mỏng, đã ngả sang màu nước chè, một nếp gấp đã rách chừng đốt ngón tay. Trên đầu tờ giấy in dòng chữ Biên nhận đơn — phòng ba, nhà hạt Hạ Khê. Bên dưới là tên dì Chín, tên xóm, ngày mười một tháng hai, tám năm trước. Giữa tờ giấy, ở ô để trống dành cho việc trả lời, có một dòng viết tay bằng thứ mực đã bạc:
Không ghi được — đã có nơi ghi.
Dưới dòng chữ là hai chữ cái viết tắt và một cái triện đóng lệch, mất một góc.
"Dì xin ghi bổ sung nhân khẩu cho con," dì Chín nói. "Đầu năm ấy, sau khi con về được hai tháng. Dì đi ba lần."
"Ba lần?"
"Lần đầu người ta nhận đơn rồi trả lời như trong giấy. Lần thứ hai dì đem theo hai người trong xóm đi cùng cho chắc. Cũng câu ấy. Ông nhận đơn hồi đó lớn tuổi rồi, ông ấy nói với dì tử tế: tên một người thì ghi một chỗ, ghi hai chỗ là hỏng cả hai. Nếu tên nó đã nằm ở đâu đó thì hạt này không ghi lại được. Dì hỏi nằm ở đâu. Ông ấy bảo cuốn sổ ấy không phải sổ của hạt, ông ấy không có quyền đọc, nên ông ấy không biết."
"Còn lần thứ ba."
Dì Chín ngồi xuống lại. Bà kéo cái áo đang vá về phía mình rồi để yên đấy, không cầm kim lên.
"Lần thứ ba dì gặp một ông trẻ hơn. Ông ấy đọc lại hai cái đơn cũ, rồi bảo dì đi ra hành lang nói chuyện. Ông ấy bảo: bà thôi đi. Bà hỏi một lần thì có một dòng ghi là bà hỏi. Bà hỏi ba lần thì có ba dòng. Mấy cái dòng đó không nằm lại ở phòng ba, cuối quý nó đi lên khu, lên khu rồi thì nó đi tiếp. Bà đang không tìm ra thằng bé ở chỗ nào cả, nhưng bà đang chỉ cho người ta biết nó ở đâu."
Nam ngồi rất im.
"Nên dì thôi," bà nói. "Dì về, cất tờ giấy này vào đây, và dì thôi."
Bên ngoài, dưới dốc, có tiếng guốc gỗ của ai đó đi ca sớm gõ lộc cộc qua đầu ngõ rồi xa dần.
"Ai đưa con đến đây hả dì."
Dì Chín nhìn xuống hai bàn tay mình một lúc.
"Một người đàn bà. Tháng chạp, chợ đang họp. Bà ta chừng bốn mươi, đội nón cời, mặc áo vải thô nhưng đi giày da, dì nhớ đôi giày vì cả cái chợ hôm đó không ai đi giày. Bà ta dắt con tới chỗ dì ngồi bán rau, hỏi đúng tên dì, hỏi dì có phải chị em với mẹ con không. Dì bảo phải. Bà ta bảo mẹ con nhờ gửi."
"Rồi sao nữa."
"Rồi bà ta để con ngồi xuống cạnh mẹt rau. Bà ta nói với dì đúng một câu nữa rồi đi."
"Câu gì."
Dì Chín ngẩng lên.
"Đừng cho nó đi khỏi hạt."
Ngọn đèn kêu một tiếng rất nhỏ khi bấc ăn tới chỗ ướt.
"Dì có hỏi vì sao không."
"Có. Bà ta đi rồi." Dì Chín nói. "Dì gọi với theo hai tiếng. Bà ta không quay lại. Chợ đông, dì thì đang giữ con một tay, giữ mẹt rau một tay."
Nam nghĩ tới năm kia, đoàn xe chở thùng niêm chì đi ngược lên phía bắc thuê người theo phụ, mỗi chuyến ba ngày, công gấp đôi công kho. Cậu đã xin. Dì Chín nói không, giọng bâng quơ, giọng bà vẫn dùng cho chuyện thời tiết. Cậu nhớ mình đã giận suốt một tuần và đã nghĩ dì tiếc mấy ngày cậu vắng nhà.
"Còn cái lần thằng cháu bà Lũy rủ con xuống bến ngoài hạt bốc củi," cậu nói.
"Ừ."
"Cả lần con xin đi coi hội đèn bên kia sông."
"Ừ."
"Tám năm dì giữ con trong hạt vì một câu của một người đi giày da mà dì không biết là ai."
"Ừ." Dì Chín nói. "Con thấy dì ngu thì con nói ngu đi."
Nam không nói gì. Cậu gấp tờ biên nhận lại theo đúng nếp cũ, rồi cậu mở ra lần nữa, rồi lại gấp.
"Dì ơi," cậu nói. "Tuần trước con với thằng Đức đã đi khỏi hạt rồi."
Dì Chín không động đậy.
"Hôm con xin nghỉ một ngày, nói với dì là đi làm thuê ở dưới xuôi. Bọn con không xuống xuôi. Bọn con đi lên phía tây, nửa ngày đường, qua khỏi trạm gác phía tây. Cả hai đứa đều không có thẻ, thẻ rời hạt ba trăm lẻ hai đồng, bọn con lấy đâu ra. Thằng Đức biết một đường mòn cắt qua bãi sậy, đi vòng phía sau trạm, ra tới đường cái thì đã ở bên kia rồi. Lúc đó bọn con không nghĩ đấy là chuyện gì to. Đứa nào trong xóm cũng đi lối ấy."
Bà im lặng đủ lâu để Nam nghe được tiếng thở của con Nhài trên chiếu.
"Có ai ghi tên con ở bên kia không," bà hỏi.
"Không. Bọn con vào một cái nhà, nói chuyện với một ông già, ăn cơm rồi về. Không ai hỏi tên con. Không có tờ giấy nào cả."
"Vậy thì chưa sao," dì Chín nói.
Nam nhìn bà. Trong tám năm sống trong căn nhà này, cậu chưa từng nghĩ dì mình là người biết cách nói câu đó.
Cậu cầm tờ biên nhận lên ngang tầm mắt và cậu thử. Cậu đã thử nhiều lần trong hai ngày qua và lần nào cũng ra kết quả giống nhau, nhưng cậu vẫn thử, kiểu người đi qua chỗ đau cứ ấn vào để xem hôm nay nó có khác không. Cậu để ý xuống chỗ dưới xương ức, chỗ chiều hôm kia Cầm gọi tên giúp cậu.
Không có gì. Tờ giấy nằm trong tay cậu và nó nhẹ đúng bằng một tờ giấy.
Cậu đặt nó xuống, cầm cuốn sổ nợ hàng xén lên, lật đại một trang. Ngay dòng thứ tư từ trên xuống, một chỗ ghi ba hào tiền dầu từ đời nào, cái điểm tì quen thuộc nhấc lên trong ngực cậu, bé xíu, rõ ràng, cái cảm giác cậu vẫn có mỗi lần đứng gần một con số bị viết sai.
Cậu gấp cuốn sổ lại.
"Con là cái gì hả dì."
"Dì không biết," dì Chín nói. "Dì biết đến chỗ cái chợ hôm tháng chạp. Từ chỗ đó trở về trước dì không biết, và cái đó không phải dì giấu con."
"Mẹ con còn sống không."
"Dì không biết."
Bà nói ba tiếng ấy bình thản tới mức Nam hiểu ra bà đã tập nói nó nhiều năm rồi, trong đầu, phòng khi có ngày cậu hỏi.
"Bản kê," cậu nói. "Sáu ngày nữa."
"Ừ."
"Dì phải ghi đủ người trong hộ. Đủ tên, có số hiệu."
Dì Chín cầm cây kim lên, xoay nó trong tay, rồi cắm trở lại vào vạt áo.
"Dì sẽ khai trong hộ có hai người," bà nói. "Dì với con Nhài."
"Không được."
"Con nghe dì—"
"Dì khai như thế thì tám năm nay con ở đây bằng cái gì." Nam nghe giọng mình to hơn cậu định. Cậu hạ xuống. "Người ta xuống đối chiếu toàn khu. Người ta vào từng nhà đếm người. Nhà mình có ba cái bát, cái gian bạt sau nhà tám năm nay có người nằm, con thì đi làm ở kho Ba ai trong xóm cũng biết. Dì khai hai người thì cái sai đó nằm trên giấy có chữ ký của dì."
"Còn khai ba người thì họ đòi số hiệu."
"Con biết."
"Rồi con đưa họ cái gì."
Nam không có câu trả lời. Cậu ngồi trong cái im lặng đó cho tới khi tiếng còi thứ hai rúc lên dưới dốc, ngắn hơn tiếng thứ nhất, gọi ca sáng.

Con Nhài trở mình lúc trời đã sáng hẳn. Nó ngồi dậy, dụi mắt, nhìn thấy Nam đang ngồi khoanh chân cạnh đống sỏi thì đứng phắt lên.
"Anh về từ bao giờ?"
"Đêm qua."
"Anh hứa hôm qua." Nó nói ngay, không vòng vo, mắt vẫn còn húp vì ngủ. "Anh hứa mai anh xếp cùng em. Hôm qua là mai rồi."
"Ừ," Nam nói. "Anh sai."
Nó ngồi thụp xuống bên kia đống sỏi, và như thế là xong, nó không giận nữa. Nó đẩy sang cho cậu một nắm sỏi trắng và bảo cậu làm bốn cái chân, chân trước dài, chân sau ngắn, vì con chó nhà bà Tần chân sau ngắn hơn chân trước. Nam xếp bốn cái chân. Con Nhài chê hai lần và tự sửa lại cả hai lần.
Cậu vẫn để ý xuống chỗ dưới xương ức trong suốt lúc đó.
Điểm tì không nặng thêm. Nó cũng không nhấc lên. Nó nằm nguyên chỗ nó nằm từ đêm qua, bé bằng đúng cái nó đã bé, không quan tâm tới việc con chó bây giờ đã có bốn cái chân và con Nhài đang cười.
Chiều hôm kia, ở gác trên hiệu vải, Nam đã đứng cách Cầm ba bước và thấy một Khế tất toán: bụi quanh chỗ ông ta ngồi đổi cách rơi, vạt áo buông thêm một chút, cái đè trong ngực nhấc đi sạch sẽ. Cậu đã nghĩ hôm nay mình sẽ thấy đúng cái đó, nhỏ hơn, ở trong chính mình.
Cậu đứng dậy, phủi đất ở đầu gối và đi làm. Trên đường xuống dốc cậu nghĩ tới Bào, tới câu nó nói ở kho tối qua, và cậu nghĩ mình đã hiểu sai một chuyện: cậu vẫn tưởng cái nó đang mang là chuyện của mấy hôm nữa.

Phòng ba nhà hạt mở cửa sau còi ca sáng một lúc. Nam với ông Hoạch tới nơi thì trên cái ghế băng dọc tường đã có mười một người ngồi, phần lớn cầm giấy tờ cuộn tròn trong tay như cầm một thứ dễ gãy.
Ông Hoạch mặc bộ quần áo tươm tất, bộ ông đã treo sẵn hôm đi gặp Cầm. Ông ngồi thẳng, hai bàn tay đặt lên đầu gối, cái túi vải buộc miệng đặt giữa hai chân.
"Bác đếm lại chưa," Nam hỏi.
"Bốn lần."
"Cháu đếm hộ bác lần nữa không?"
"Không." Ông Hoạch nói. "Đếm lần thứ năm thì tao lại bắt đầu nghĩ tới cái cân."
Người ngồi bàn trong cùng là một ông gầy, tóc muối tiêu cắt sát, cổ tay áo bên phải dầm mực tới chỗ khuỷu vì tì lên giấy suốt ngày. Trên vách sau lưng ông ta treo một tấm bảng gỗ ghi lịch nộp các loại đơn, chữ đã mờ, có người lấy phấn viết đè lên một dòng mới.
Tới lượt, ông Hoạch đặt cái túi lên bàn.
"Đăng ký muộn giấy phép thu mua. Kho Ba, chân dốc."
Ông gầy kéo cuốn sổ về phía mình mà không ngẩng lên. "Phí bốn mươi, truy thu ba năm một trăm tám mươi, phạt bốn mươi lăm. Hai trăm sáu mươi lăm. Nộp một lần."
"Đây."
Ông ta đổ tiền ra mặt bàn, gạt thành từng hàng mười, đếm bằng mu bàn tay, đếm hết rồi gom lại và đếm lần thứ hai theo chiều ngược lại. Ông ta không nói câu nào trong lúc đếm, và cả mười một người trên ghế băng cũng không ai nói.
"Hai trăm sáu mươi lăm," ông ta nói. "Tên người đứng."
"Hoạch."
"Có ai đứng chung không."
"Không."
Ông ta viết. Ngòi bút cào lên giấy đều đặn. Rồi ông ta lấy một dải giấy hẹp, đóng triện, ghi vào đó một dãy số và đẩy sang.
"Từ hôm nay kho Ba có số hiệu này. Ghi lại chỗ nào ông nhớ được. Sổ nhập từ nay phải giữ đủ ba năm, đối chiếu bất cứ lúc nào cũng phải có."
Nam nhìn dãy số trên dải giấy. Bảy chữ số, mực còn ướt, một cái triện tròn đè lên chữ số cuối.
Ông Hoạch cầm dải giấy bằng hai tay, thổi nhẹ cho khô, rồi cất vào túi áo trong.
"Cho tôi hỏi thêm một việc."
"Ông hỏi."
"Ghi bổ sung một người vào sổ hộ thì thủ tục thế nào."
Ông gầy vẫn viết nốt dòng đang viết dở rồi mới ngẩng lên. Ông ta nhìn ông Hoạch một thoáng, rồi nhìn sang Nam, rồi nhìn lại xuống sổ.
"Đơn xin ghi bổ sung nhân khẩu. Mười hai đồng, nộp cùng lúc với đơn. Hai người làm chứng, phải có tên trong sổ hộ của hạt, phải đủ hai mươi tuổi, phải biết người xin từ năm năm trở lên. Chủ hộ ký ở mặt sau, chủ hộ không được tính là một trong hai người làm chứng."
"Còn gì nữa không."
"Còn tờ khai." Ông ta nói. "Người xin ghi bổ sung phải khai rằng mình chưa từng được ghi vào sổ hộ nào khác, ở hạt nào khác. Khai rồi ký."
Nam nghe cái ghế băng sau lưng mình kêu một tiếng khi có người đổi thế ngồi.
"Ký cái tờ khai đó," ông gầy nói, "là ký. Cậu hiểu ở đây chữ ký nghĩa là gì rồi chứ."
"Cháu hiểu."
"Đơn nộp ở đây, tôi chuyển lên khu, khu đối chiếu rồi trả lời. Nhanh thì hai mươi ngày, chậm thì một tháng rưỡi. Nếu trên khu trả lời rằng người ấy đã có tên ở một sổ khác, thì cái tờ khai đã ký kia thành tờ khai gian, và lúc đó chuyện không còn nằm ở phòng này nữa."
Ông ta gấp cuốn sổ đăng ký, kéo cuốn khác ra.
"Tên chủ hộ là gì."
"Dì tôi," Nam nói. "Bà Chín, xóm trên."
Bàn tay ông gầy dừng lại trên bìa cuốn sổ.
Ông ta ngồi im chừng hai nhịp thở, không nhìn lên. Rồi ông ta buông tay ra khỏi cuốn sổ và ngả người ra sau lưng ghế, việc mà từ sáng tới giờ ông ta chưa làm.
"Bà ấy hỏi rồi," ông ta nói. "Ba lần."
Nam đứng đó, tay còn để trên mép bàn.
"Ông là ông trẻ ở hành lang."
"Hồi ấy tôi ngồi cái bàn này được mười bốn năm." Ông ta nói. "Bây giờ là hai mươi hai. Tôi nhớ đơn chứ tôi không nhớ mặt người. Nhưng cái đơn đó tôi nhớ, vì nó là cái đơn duy nhất trong hai mươi hai năm tôi nhận vào rồi tự đi tìm người nộp để bảo họ đừng nộp nữa."
"Vì sao ông bảo thế."
"Vì tôi có mắt và tôi biết đọc." Ông ta nói. "Mỗi cái đơn là một dòng. Dòng thì đi lên. Có những chỗ, cách tốt nhất để giữ một người là đừng viết gì về người ấy cả."
Ông ta kéo cuốn sổ về, mở ra, và tiếng ngòi bút lại bắt đầu.
"Tôi vẫn nghĩ đấy là câu đúng nhất tôi từng nói trong cái phòng này," ông ta nói, mắt trên giấy. "Người sau."
Ra tới sân, ông Hoạch dừng lại dưới gốc bàng, lấy dải giấy trong túi áo trong ra xem lại một lần nữa rồi cất đi.
"Ông ấy tên Tạ," ông nói. "Chính là ông nhận cái đơn thằng Đức nộp."

Về tới kho Ba đã gần trưa. Ông Hoạch mở khóa, đẩy cánh cửa gỗ, đứng lại một lúc ở giữa nền kho như người vào một cái kho lạ.
"Bác," Nam nói. "Cháu phải kể bác nghe một chuyện. Chiều hôm kia ở chỗ ông Cầm, có một đoạn cháu chưa kể."
"Tao biết là có." Ông Hoạch đi vòng ra sau quầy. "Kể đi."
Nam kể. Ba nơi đã tra, ba nơi không có tên. Câu Cầm nói lúc bỏ đi. Cả cái đoạn cậu chối vụng khi ông ta hỏi vì sao mặt cậu tái đi. Cậu kể xong thì lấy trong túi ra tờ biên nhận của dì Chín, mở ra, đặt lên mặt quầy dưới ngọn đèn đá.
Ông Hoạch đọc dòng chữ tay ở ô trả lời. Ông đọc lâu hơn mức cần thiết để đọc chừng ấy chữ.
Rồi ông kéo ngăn kéo dưới cùng bên trái ra, cái ngăn Nam chưa thấy ông mở lần nào, và lôi ra một xấp giấy buộc dây gai. Ông cởi dây, lật, rút ra một tờ, đặt xuống cạnh tờ của dì Chín.
Một bản danh sách. Đầu tờ ghi Danh sách phu công nhật — đợt mùa khô, có triện của nhà hạt. Bốn mươi mấy cái tên xếp thành cột. Ở dòng thứ mười chín, một cái tên bị gạch một nét ngang bằng mực đỏ, và ngoài lề, bằng nét chữ khác:
Đã có nơi ghi.
Nam đứng nhìn hai tờ giấy nằm cạnh nhau. Hai nét chữ khác nhau. Hai cái triện khác nhau. Sáu năm cách nhau. Cùng bốn chữ.
"Hai năm trước," ông Hoạch nói. "Mày làm ở đây được nửa năm. Công nhật nhà hạt trả cao hơn công kho, mà tao thì đang cần người đứng cân buổi chiều. Tao ghi tên mày vào danh sách đợt mùa khô để mày lĩnh theo giá công nhật. Tuần sau danh sách trả về như thế này."
"Bác hỏi lại họ không?"
"Không." Ông Hoạch nói. "Tao nghĩ mày trốn nợ nhà, hoặc nhà mày trốn nợ. Ở đây chuyện ấy nhiều. Tao nghĩ hỏi thêm một câu là làm hại mày, nên tao không hỏi."
Ông đặt ngón cái lên bìa cuốn sổ nhập, miết một đường dài.
"Còn một chuyện nữa mà tao chưa nói với mày, và bây giờ thì tao phải nói, vì sáng nay tao vừa đem cái kho này bỏ vào sổ nhà nước." Ông nói chậm. "Hai năm nay tao vẫn trả mày theo giá công nhật. Mỗi tháng. Đúng giá ghi trên cái danh sách này, cái danh sách có tên mày bị gạch."
Nam ngẩng lên.
"Trong sổ tao ghi là tiền công. Có ngày, có số." Ông Hoạch nói. "Sáu ngày nữa người ta xuống, người ta cầm sổ nhập của tao đối chiếu với danh sách phu công nhật của hạt. Trong sổ tao có hai năm tiền công trả cho một người. Trong danh sách của hạt không có người ấy."

Bào tới kho lúc quá trưa, tay còn dính bụi than, sớm hơn giờ nó phải có mặt tới hai khắc.
Nam kể cho nó nghe trước khi nó kịp ngồi xuống. Kể hết, từ đầu, kể cả đoạn ông Tạ và đoạn hai tờ giấy trên quầy.
Bào nghe xong thì hỏi: "Sao mày kể tao?"
"Tối qua mày bảo mày là thằng duy nhất trong chuyện này chưa được ai hỏi ý kiến về cái gì," Nam nói. "Nên tao kể trước khi mày phải hỏi."
Bào ngồi xuống bậc thềm, duỗi một chân ra chắn ngang lối như mọi khi. Nó không nói gì về chuyện tên tuổi, không hỏi mẹ Nam là ai, không hỏi người đàn bà đi giày da. Nó xoay cái vòng cỏ trên cổ tay hai vòng rồi dừng.
"Hai người làm chứng," nó nói. "Trên hai mươi tuổi, có tên trong sổ hộ, biết mày từ năm năm trở lên."
"Ừ."
"Bà Tần biết mày tám năm. Ông Lãm hàng cối biết mày từ hồi mày còn phải kiễng chân mới với tới mặt cân. Bà Lũy. Bà Chỉnh. Cái ông thọt bán dầu, tao không nhớ tên." Nó đếm bằng ngón tay, nhanh, cái nhanh của người quen đếm bao than. "Năm người. Cần hai."
Nó dừng lại ở ngón thứ năm.
"Cả năm nhà đều trong quỹ," nó nói.
"Ừ."
"Sáu ngày nữa cả năm nhà đều phải nộp bản kê." Bào bỏ tay xuống. "Không ai trong năm người đó dám ký tên mình vào một tờ giấy lạ trong tuần này. Kể cả bà Tần. Bà Tần thương mày thật, mà bà ấy cũng có bốn cái miệng ăn."
"Ừ."
"Ừ cái gì mà ừ," Bào nói. "Tao đang ngồi đây tính giúp mày mà mày cứ ừ."
Đức tới lúc gần chiều, tay ôm một cuộn giấy, hai ngón dầm mực tới đốt thứ hai. Nó nghe hết chuyện, đứng dựa khung cửa, không ngồi.
"Trước hết là chuyện của mày," Nam nói với Bào. "Mày nghĩ ra gì chưa."
Bào nhìn xuống chân mình.
"Tao có bốn đồng hai," nó nói. "Tao để dành từ mùa mưa để mua thuốc cho bà tao. Tao đưa thằng Lù hai đồng bốn. Chỗ còn lại vẫn đủ mua thuốc, tao tính rồi. Rồi tao lên nhà ông Tứ, tao bảo xong việc."
Không ai nói gì một lúc.
"Mày hứa với ông Tứ nguyên văn là gì," Đức hỏi.
"Mày hỏi tao câu này tối qua rồi."
"Tao hỏi lại. Nguyên văn."
"Tao sẽ đòi lại được nửa tháng lương cho thằng Lù."
"Đòi lại," Đức nói. "Từ cai Rạng."
Bào ngẩng lên.
"Mày móc túi mày ra đưa nó hai đồng bốn thì nó có hai đồng bốn," Đức nói. "Cái đó tốt. Nhưng cái mày hứa là đòi lại. Tiền của mày không phải cái bị quỵt. Chỗ bị quỵt vẫn nằm trong túi cai Rạng, và trong sổ phát lương thì nó chưa từng bị quỵt bao giờ."
"Mày chắc không."
"Tao không chắc. Tao chỉ biết là chữ trong lời hứa nặng bằng chữ trong giấy, và ở chỗ này thì người ta không đọc bụng dạ của ai cả." Đức nói. "Mày muốn tao chắc thì tao phải hỏi người giỏi hơn tao."
Bào ngồi im một lúc lâu. Rồi nó chìa tay ra.
"Viết cho tao."
"Viết gì?"
"Viết đúng cái câu tao đã nói ra hôm ở nhà ông Tứ. Từng chữ một." Nó nói. "Tao muốn nhìn thấy nó. Tao cứ nhớ đi nhớ lại trong đầu mà mỗi lần nhớ nó lại hơi khác một tí, mà tao thì không biết cái khác đó là tao nhớ sai hay là tao đang tự chữa cho tao."
Đức xé một mẩu giấy, viết mười ba chữ, đưa cho nó. Bào cầm mẩu giấy, đọc, rồi gấp lại nhét vào trong cạp quần, chỗ nó vẫn nhét mấy đồng tiền lẻ.

"Còn chuyện ba cuốn sổ," Đức nói. "Tao nghĩ cả đêm qua và cả sáng nay."
Nó trải cuộn giấy ra trên mặt bàn cân.
"Không có cách nào làm cho ba bản khớp nhau. Ba bản đã tồn tại rồi, một bản nằm bên Vĩnh Lợi, một bản trong tay cô Hoa Gia. Đấy là chuyện đã xong. Cái còn mở là chỗ khác."
Nó lấy ngón tay gõ lên tờ giấy.
"Sáng nay kho Ba có số hiệu. Từ sáng nay, sổ nhập của bác là sổ của một nơi thu mua có đăng ký. Mà nơi thu mua có đăng ký thì có một thủ tục mà trước sáng nay bác không dùng được: đính chính."
Ông Hoạch không nói gì. Ông đứng sau quầy, một tay đặt trên bìa cuốn sổ nhập.
"Bác nộp đơn đính chính ba dòng ấy ở phòng ba. Ghi rõ ngày, ghi rõ dòng nào, ghi rõ số cũ số mới, ghi rõ lý do. Nộp trước hôm đối chiếu." Đức nói. "Đến hôm ấy, người ta đặt bản của bác cạnh bản bên Vĩnh Lợi, thấy lệch, thì cái lệch đó đã có sẵn một tờ giấy đứng trước nó, có ngày tháng, nộp trước khi người ta xuống. Ba dòng sai thành ba dòng đã sửa. Khác nhau ở chỗ đó."
"Lý do," ông Hoạch nói.
"Vâng." Đức nói. "Đấy là chỗ hỏng."
"Tao viết lý do thật thì tao khai tao cố ý ghi thấp xuống."
"Vâng."
"Mà tao viết lý do khác thì tao viết cái gì."
Đức im. Nam nhìn thấy hai ngón tay dầm mực của nó động nhẹ trên mép giấy, cái động tác của người đang chép trong đầu, và cậu biết nó đã có sẵn câu trả lời từ lâu và đang đợi có người hỏi để không phải tự mình nói ra trước.
"Cái cân," Nam nói.
Ông Hoạch quay đầu lại.
"Cân bàn nhà mình lệch bốn phần trăm," Nam nói. "Bác biết, bác trừ hao trong đầu ba mươi mốt năm. Nếu bác khai cân lệch thì cả sổ tự nhiên có một lý do để mấy dòng ghi thấp hơn thật."
"Bốn phần trăm," ông Hoạch nói. "Ba dòng của bà Sảo tao ghi thấp hơn thật một phần ba. Bốn phần trăm với một phần ba. Người ngồi đối chiếu ở Kim Đài không biết đọc à?"
"Bác khai cân lệch nhiều hơn."
"Thì tao khai gian một cái nữa để chữa cái gian trước." Ông Hoạch nói. "Mà khai cân lệch thì không phải chỉ ba dòng ấy. Ba mươi mốt năm tao cân cho cả cái ngõ này. Bà Tần bán cho tao mười một năm nay. Ông Lãm bán mười lăm năm. Tao khai cái cân của tao ăn gian thì đến hôm sau cả ngõ đứng ngoài cửa, và họ đứng đúng."
Kho im. Ngoài sân, con chó nhà ai chạy qua, dừng lại đánh hơi ở gốc cột rồi chạy tiếp.
"Còn cái giá kia," ông Hoạch nói. "Tao đính chính đúng ba dòng đó về giá thật thì sao?"
Đức nhìn xuống tờ giấy.
"Đôi khuyên bốn đồng. Áo bông hai đồng rưỡi. Nhẫn cưới sáu đồng." Nó nói. "Tổng mười hai đồng rưỡi trong ba tháng. Ngưỡng xếp diện có tài sản chuyển nhượng được là mười đồng."
"Vượt hai đồng rưỡi," Nam nói.
"Vượt hai đồng rưỡi." Đức nói. "Bác đính chính về giá thật thì hôm hai mươi, bà Sảo nằm trên ngưỡng. Người ta gọi bà ấy lên đối chiếu trước, và gọi trước thì trước cả hai mươi ba hộ kia."
Có tiếng dép lê ngoài thềm.
Người đàn bà đứng ở cửa nhỏ người, tóc búi thấp, tay xách một cái làn không. Bà ta đứng nép sang một bên nhường lối cho Bào rút chân vào, rồi bước tới quầy, và bà ta đặt lên mặt quầy bốn hào bằng đồng xếp thành một cọc.
"Ông Hoạch," bà ta nói. "Cho tôi khất thêm mười ngày."
Nam đứng cách bà ta hai bước. Bàn tay bà ta đặt trên mặt quầy có một vệt trắng ở ngón đeo nhẫn, đúng chỗ cậu đã dán cái thẻ.
"Bà Sảo," ông Hoạch nói.
"Tháng này thằng cháu nó phải thay thuốc. Loại cũ nó nằm không xuống được nữa." Bà ta nói nhanh, câu này bà ta đã tập sẵn trên đường đi. "Mười ngày nữa nhà tôi bán được lứa vịt là tôi chuộc. Tôi để lại đây bốn hào tiền lời trước."
Ông Hoạch cầm bốn hào lên, nhìn nó trong lòng bàn tay.
"Bà cầm về," ông nói. "Tôi ghi khất mười ngày, không lấy lời."
"Không được. Ông cứ lấy."
"Bà Sảo."
"Ông không lấy thì thành ra tôi nợ ông cái khác," bà ta nói. "Tôi nợ tiền thì tôi biết tôi nợ bao nhiêu."
Ông Hoạch cầm bốn hào, ghi vào sổ, xé một mẩu giấy nhỏ viết ngày rồi đưa cho bà ta. Bà ta cầm mẩu giấy bằng cả hai tay, gấp, cất vào trong yếm.
Ở cửa, bà ta quay lại.
"Ông Hoạch. Bà Tần bảo tuần sau người ở Kim Đài xuống đếm cả khu."
"Vâng."
"Người ta có đếm cả mấy thứ nhỏ nhỏ như cái nhẫn của tôi không?"
Ông Hoạch đứng sau quầy, một tay còn đặt trên cuốn sổ.
"Có," ông nói.
Bà ta gật một cái. Bà ta đã đoán trước rồi. Rồi bà ta xách cái làn không đi ra. Tiếng dép lê nhỏ dần xuống dốc.
Không ai trong kho nói gì một lúc lâu. Đức cuộn tờ giấy của nó lại, rất chậm.
"Bác có sáu ngày," nó nói.
"Tao biết tao có mấy ngày," ông Hoạch nói.

Quán bà Lũy vắng vào giờ chưa tan ca. Hoa Gia ngồi ở cái bàn trong góc, chỗ sát vách, trên bàn có bốn xấp giấy xếp theo bốn cạnh bàn và một bát mì đã nguội chưa đụng tới.
"Cô ấy ngồi từ trưa," bà Lũy nói khi Nam bước vào. "Cứ một canh giờ lại gọi một bát. Không ăn bát nào. Tôi bảo cô ơi cô ăn đi kẻo phí, cô ấy bảo tôi không mua mì, tôi mua cái ghế."
Nam đặt hai tờ giấy lên khoảng trống giữa bốn xấp.
Hoa Gia đọc tờ biên nhận trước, rồi tờ danh sách. Cô đọc nhanh, và cô không hỏi gì về người đàn bà đi giày da, không hỏi về mẹ cậu, không hỏi tám năm qua cậu nghĩ gì. Cô đặt hai tờ cạnh nhau, xoay cho cùng chiều, và cô chỉ vào hai dòng chữ tay.
"Cậu thấy gì?"
"Cùng bốn chữ."
"Cùng bốn chữ, hai người viết, cách nhau sáu năm." Hoa Gia nói. "Hai người ở hai chỗ khác nhau không tự nhiên nghĩ ra cùng một câu. Câu này là câu có sẵn. Nghĩa là ở đâu đó có một cái ô trong một tờ mẫu, và người ta được dạy khi nào thì viết bốn chữ ấy vào ô đó."
"Vậy thì sao."
"Vậy thì có người đã tra." Cô ngẩng lên. "Cả hai lần. Cậu nghe cho kỹ chỗ này, vì nó là chỗ quan trọng nhất trong hai tờ giấy: hạt này không có tên cậu. Ông Tạ không đọc được sổ nào có tên cậu. Ông ấy gửi câu hỏi lên, và có một chỗ trả lời xuống. Hai lần, cách nhau sáu năm, cùng một câu trả lời."
Nam nhìn hai tờ giấy.
"Nghĩa là có một cuốn sổ nào đó," cậu nói.
"Nghĩa là có một cuốn sổ nào đó, và có người giữ nó, và người ấy giữ nó cẩn thận đến mức sáu năm sau vẫn trả lời được ngay." Hoa Gia gấp tờ danh sách theo nếp cũ và đẩy cả hai về phía cậu. "Tám năm nay cậu sống ở một chỗ mà không ai tra được cậu. Sáu ngày nữa, người ngồi giữa nhà chung là người từ chỗ tra được."
Bà Lũy đi qua, cầm bát mì nguội đi, đặt xuống bát khác nóng, không nói gì.
"Cô định nói với ông ta là tôi không có tên chứ."
"Nếu tôi thấy nói ra là có lợi," Hoa Gia nói.
"Được."
Cô nhìn cậu.
"Cậu vừa nói được. Cậu hiểu cậu vừa nói cái gì không?"
"Tôi hiểu." Nam kéo cái ghế ra và ngồi xuống đối diện cô, đặt hai tờ giấy vào giữa hai người. "Sáng nay tôi ngồi ở nhà hạt và tôi nghe người ta nói cho tôi hai đường. Đường thứ nhất là dì tôi khai trong hộ có hai người, và tôi biến khỏi tờ giấy đó, và tôi sống thêm mấy chục năm nữa ở cái hạt này mà không có chỗ nào ghi là tôi có ở đây. Đường thứ hai là tôi ký một tờ khai rằng tôi chưa từng có tên ở đâu, mà tôi thì gần như chắc là tôi có."
"Còn đường thứ ba."
"Là để cho họ tra." Nam nói. "Người ta xuống đây để đếm. Cứ để họ đếm. Đếm tới chỗ tôi thì họ sẽ phải hỏi lên trên, và trên trả lời xuống, và lần này thì tôi đứng ngay đấy lúc câu trả lời tới nơi."
Hoa Gia không gật, không lắc. Cô rút một mẩu giấy từ trong tay áo, ghi ba chữ, gấp lại, cất đi.
"Cậu biết cái giá của đường thứ ba chứ."
"Tôi biết một nửa."
"Cậu biết một phần tư." Cô kéo bát mì nóng về phía mình, cầm đũa, rồi đặt xuống. "Người ta không hỏi lên trên về một thằng con trai mười bảy tuổi vì tò mò. Người ta hỏi vì trong tờ mẫu có một cái ô bắt buộc. Ô ấy điền xong thì tờ mẫu đi lên khu, khu gửi lên Kim Đài, và ở Kim Đài có người mở đúng cuốn sổ ấy ra để trả lời. Cuốn sổ đó tám năm nay nằm yên vì không ai động vào nó."
"Rồi sao."
"Rồi có người phải mở nó ra." Hoa Gia nói. "Mở sổ ra thì thấy cái tên. Thấy cái tên thì thấy luôn dòng bên cạnh, chỗ ghi ai là người có quyền trên cái tên ấy. Và người ấy tám năm nay chưa được nhắc là mình còn giữ một thứ ở Hạ Khê."
Ngoài kia, dưới dốc, còi tan ca chiều rúc lên. Trong quán bắt đầu có tiếng ghế kéo.

💬 Bình luận (0)