Nam về tới nhà thì đèn còn sáng.
Dì Chín ngồi ở bậu cửa, không vá gì cả, hai tay để không trên đùi. Con Nhài đã ngủ. Trên nền nhà, đống sỏi hình con chó bốn chân vẫn nằm nguyên chỗ nó nằm từ sáng.
"Con ăn chưa?"
"Rồi ạ."
"Con nói dối."
Nam ngồi xuống bậu cửa bên cạnh dì. Cậu kể về nhà chung, về ông Thiệp chép sổ ba đêm được mười một năm, về cái lệnh nộp sổ trước mồng mười chín, về hai dòng chữ tám năm trước ghi bà Chín xóm trên đến xin giấy xác nhận cư trú cho một đứa con trai không có số hiệu.
"Cụ ấy còn ghi thêm một dòng nữa," cậu nói. "Đứa bé đứng đợi ở ngoài hiên. Không hỏi gì."
Dì Chín không nói gì một lúc lâu.
"Con đứng ở hiên thật," bà nói. "Dì bảo con ngồi xuống thềm cho đỡ mỏi, con không ngồi. Con đứng suốt."
"Con không nhớ."
"Ừ." Bà nói. "Dì thì nhớ."
Cậu nói nốt phần còn lại: cuốn sổ ấy còn trang trắng, và ba mươi bốn năm nay ông Thiệp ghi cho bất cứ ai bước vào nói ra một việc có thật, có ngày, không cần số hiệu, không cần xin phép ai. Cậu nói xong thì đợi.
"Không," dì Chín nói.
"Dì—"
"Không." Bà quay hẳn sang nhìn cậu, và giọng bà không to lên chút nào. "Con nghe dì. Tám năm trước có một ông ngồi ở phòng ba bảo dì rằng mỗi lần dì hỏi là một dòng ghi lại việc dì hỏi, và cái dòng đó nó đi lên. Dì nghe lời ông ấy. Dì thôi hỏi. Tám năm nay không ai xuống tìm con. Bây giờ con bảo dì đi viết ra tất cả, viết vào một cuốn sổ mà ba hôm nữa người ta khiêng lên khu."
"Dì giữ con bằng cách không viết gì."
"Ừ."
"Cách đó hết chạy rồi ạ."
"Con biết chắc à?"
Nam ngồi im. Cậu nhận ra mình không biết chắc, và cậu nhận ra tiếp rằng chuyện mình không biết chắc thì cũng không làm câu trả lời khác đi.
"Mồng hai mươi dì phải ký vào bản kê," cậu nói. "Bản kê hỏi trong hộ có mấy người. Dì khai hai người thì dì nói dối trên giấy có chữ ký của dì. Dì khai ba người thì họ hỏi số hiệu, và họ hỏi lên trên, và trên trả lời xuống. Dì viết hay dì không viết thì cái sổ ở Kim Đài vẫn bị mở ra trong tuần này."
"Vậy thì viết để làm gì."
"Để lúc nó mở ra thì có một chỗ khác cũng đang mở."
Dì Chín nhìn ra ngoài sân tối.
"Còn một cách nữa," bà nói. "Con đi. Không phải đi khỏi hạt, dì không bảo con đi khỏi hạt. Con lên chỗ nhà ông cậu họ ở Đầm Đá năm ngày. Mồng hai mươi con không có mặt ở đây. Dì khai hộ hai người, người ta vào nhà đếm thì nhà có hai người thật."
"Rồi mồng hai mươi mốt con về."
"Rồi mồng hai mươi mốt con về."
"Rồi sang năm lại có một đợt đối chiếu nữa. Rồi con hai mươi tuổi, rồi con hai lăm tuổi, rồi con lấy vợ, rồi con có con." Nam nói. "Con trai của con nó cũng không có số hiệu, dì ạ. Nó lấy đâu ra."
Dì Chín đưa một tay lên vuốt mặt, một cái, rồi bỏ xuống.
Nam định nói tiếp. Cậu đã có sẵn ba câu nữa, và cậu nghe thấy chính mình sắp nói chúng ra, và cậu dừng lại.
Chiều hôm kia, ở kho Ba, ông Hoạch đã hỏi bà Sảo một câu và để bà tự trả lời. Ba hôm trước, ở góc kho, Bào đã đứng nói với cậu rằng nó là thằng duy nhất trong chuyện này chưa được ai hỏi ý kiến về bất cứ cái gì.
"Dì ơi," cậu nói. "Người ký vào bản kê là dì. Người bị hỏi trước mặt người ta là dì. Con không ký cái gì cả, con không bị hỏi cái gì cả, con chỉ đứng bên cạnh."
"Con nói cái đó để làm gì."
"Để con hỏi dì cho đúng." Cậu nói. "Con không xin dì đồng ý với con. Con hỏi dì muốn thế nào."
Dì Chín ngồi rất lâu.
"Dì muốn tám năm trước dì đừng nghe lời cái ông ở hành lang," bà nói.
"Dì ơi—"
"Để dì nói hết." Bà nói. "Ông ấy nói đúng. Dì vẫn nghĩ ông ấy nói đúng. Dì hỏi ba lần thì có ba dòng đi lên, và dì thôi thì không có dòng thứ tư. Nhưng tám năm nay dì cứ nghĩ đi nghĩ lại một chuyện. Ba cái dòng ấy đi lên tới đâu thì dừng? Nếu nó lên tới cái chỗ giữ tên con, thì cái chỗ ấy biết con ở Hạ Khê từ tám năm trước rồi, và tám năm nay người ta không xuống. Người ta không xuống không phải vì người ta không biết. Vì người ta chưa cần."
Nam ngồi im.
"Dì không biết chữ nhiều," dì Chín nói. "Dì chỉ biết ký cái tên dì, dì học ký để nộp ba cái đơn ấy, học xong rồi tám năm nay không dùng lần nào. Nhưng dì đếm được. Người ta chưa cần trong tám năm. Tuần này người ta cần."
Bà đứng dậy, đi vào trong, và Nam nghe tiếng nắp rương mở ra lần thứ hai trong hai ngày.
Bà quay lại với tờ biên nhận gấp làm tư.
"Mai mấy giờ."
"Sáng ạ."
"Sáng thì dì đi chợ trước." Bà đưa tờ giấy cho cậu, rồi rụt lại, rồi tự cầm lấy. "Không. Cái này dì cầm. Dì đi nộp nó ba lần rồi, lần thứ tư dì cũng tự cầm."
Nhà chung buổi sáng có bốn người ngồi đợi trước khi ông Thiệp mở cửa.
Ông mở, dựng cánh cửa, móc dây, rồi ngồi xuống chỗ ông vẫn ngồi. Chồng giấy chép dở đã dày thêm được chừng hai đốt ngón tay so với tối qua. Mắt ông đỏ.
"Cụ chép suốt đêm ạ?"
"Tôi chợp được một lúc." Ông Thiệp mở cuốn sổ bìa vải ra, dò xuống dòng cuối cùng, chấm bút. "Ai trước."
Dì Chín đứng dậy.
Bà nói chậm và bà nói gọn hơn Nam tưởng. Bà khai ngày, khai chợ, khai người đàn bà đội nón cời đi giày da, khai câu bà ta để lại. Bà khai ba lần nộp đơn ở phòng ba, khai câu trả lời. Bà đặt tờ biên nhận lên bàn cho ông Thiệp chép lại số hiệu tờ giấy và ngày đóng triện.
Ông Thiệp viết. Ông không hỏi thêm câu nào, và cứ được chừng ba dòng ông lại đọc ngược lại một lượt cho bà nghe.
"Câu này bà nói là bà ta bảo đừng cho nó đi khỏi hạt. Đúng chữ ấy?"
"Đúng chữ ấy."
"Bà có nghe nhầm không."
"Tám năm nay ngày nào tôi cũng nghe lại câu ấy," dì Chín nói. "Tôi không nghe nhầm."
Ông Thiệp viết nốt, rồi xoay cuốn sổ lại, đặt ngón tay ở cuối đoạn.
"Bà ký vào đây. Không biết ký thì điểm chỉ."
Dì Chín cầm bút. Bà cầm nó hơi cao và hơi chặt, cái cách người cầm bút mỗi tám năm một lần. Bà viết tên bà, ba chữ, chữ cuối lệch xuống dưới dòng kẻ.
Rồi bà đặt bút xuống và ngồi nhìn ba chữ ấy một lúc.
"Còn ai nữa không," ông Thiệp nói.
Ông Hoạch đứng dậy từ cái ghế cuối phòng. Ông đã ngồi đó từ trước lúc Nam tới và Nam không biết ông tới lúc nào.
Ông đặt lên bàn tờ danh sách phu công nhật đợt mùa khô, cái tờ có một cái tên bị gạch mực đỏ ở dòng thứ mười chín và bốn chữ ngoài lề.
"Tôi khai ba việc," ông nói. "Việc thứ nhất: hai năm trước tôi ghi tên thằng Nam vào danh sách này để nó lĩnh giá công nhật. Việc thứ hai: danh sách trả về, tên nó bị gạch, ngoài lề ghi đã có nơi ghi, đây, cụ chép lại nguyên chữ. Việc thứ ba: từ hôm ấy tới nay tôi vẫn trả nó theo giá công nhật, mỗi tháng, hai năm, và trong sổ nhập của tôi tôi ghi là tiền công."
Ông Thiệp ngừng bút.
"Ông biết ba hôm nữa cuốn này lên khu chứ."
"Tôi biết."
"Việc thứ ba của ông là việc bất lợi cho ông."
"Vâng."
"Tôi hỏi lại một lần nữa, ông Hoạch, rồi tôi viết. Tôi viết rồi thì tôi không xóa được."
Ông Hoạch đặt một bàn tay lên tờ danh sách.
"Cái dòng ấy nằm trong sổ tôi rồi," ông nói. "Nó nằm đấy hai năm. Ba hôm nữa tôi nộp bản sao sổ lên đây, và người ta sẽ tìm thấy nó, và lúc người ta tìm thấy nó thì nó là cái tôi giấu. Cụ viết bây giờ thì nó là cái tôi khai."
Ông Thiệp viết.
Nam đứng ở giữa phòng nhìn ngòi bút chạy, và cậu đếm được một điều mà cậu chưa từng đếm: trong cái phòng này, sáng nay, có hai người vừa đặt lên bàn thứ có thể làm hại họ, và không ai trong hai người ấy làm thế vì cậu xin. Cậu chưa xin ai câu nào.
Bào tới lúc gần trưa, cùng với Đức, và nó đi thẳng tới bàn.
"Cụ ơi. Cháu muốn khai một việc."
"Việc gì."
"Hôm mồng mười một cháu đến nhà ông Tứ ở xóm trên, cháu xin ông ấy đứng làm chứng cho hồ sơ nhà cháu, và cháu hứa với ông ấy một câu." Bào rút mẩu giấy trong cạp quần ra, mở, đặt lên bàn. "Câu ấy đây. Đúng mười ba chữ. Cháu nhờ cụ ghi vào sổ."
Ông Thiệp cầm mẩu giấy lên đọc.
"Cậu ghi cái này vào đây để làm gì?"
"Để nó có ngày tháng." Bào nói. "Để nếu cháu không làm được thì ít ra trong sổ có ghi là cháu đã hứa thật, cháu không chạy làng."
Đức đặt tay lên mép bàn.
"Bào."
"Mày lại sắp bảo tao là tao ngu."
"Không." Đức nói. "Tao sắp bảo mày là mày làm cái đó thì nặng hơn."
"Nặng hơn cái gì? Tao hứa rồi. Hứa rồi thì nó buộc rồi. Mày nói câu đó với tao ba lần trong ba ngày."
"Ừ. Nó buộc rồi." Đức nói. "Ghi vào sổ không làm nó buộc chặt hơn. Ghi vào sổ làm nó thành thứ đem đi được."
Bào nhìn nó.
"Nghĩa là sao."
"Nghĩa là bây giờ ông Tứ có quyền đòi mày. Chỉ mình ông Tứ. Ông ấy đòi được thì đòi, ông ấy tha thì thôi, ông ấy chết thì chuyện xong." Đức nói. "Ghi vào sổ, có ngày, có tên hai người, có người thứ ba chứng kiến, thì cái quyền đòi ấy thành một dòng chữ. Mà dòng chữ thì đọc được, chép được, chuyển được. Ba hôm nữa cuốn này lên khu. Trên khu ngồi cùng hành lang với những người mua quyền đòi nợ, mày nhớ chuyện quỹ góp chung chứ. Đến lúc ấy người đòi mày không còn là ông Tứ nữa."
Bào rút mẩu giấy về, chậm.
"Ông Tứ không bán tao."
"Ông Tứ không bán mày. Ông Tứ tám mươi tuổi." Đức nói. "Con cháu ông Tứ thì tao không biết. Mà cái quan trọng hơn là: mày không phải người quyết cái đó nữa, kể từ lúc cụ Thiệp chấm bút xuống."
Ông Thiệp đặt bút xuống ngang thân nghiên mực.
"Cậu ta nói đúng," ông nói. "Tôi ngồi đây ba mươi bốn năm và tôi thấy chuyện đó xảy ra bốn lần. Bốn lần đều là người tử tế đến nhờ tôi ghi cho chắc."
Bào đứng đó, mẩu giấy trong tay.
"Thế thì cái sổ này để làm gì?" Nó nói, và giọng nó lần đầu tiên trong buổi sáng vỡ ra một chút. "Bà Chín khai được. Bác Hoạch khai được. Đến lượt tao thì khai cái gì cũng thành hại tao."
"Vì hai người kia khai chuyện đã xảy ra rồi," Đức nói. "Mày khai chuyện chưa xảy ra."
Bào gấp mẩu giấy lại, nhét vào cạp quần, và ngồi xuống cái ghế băng.
Nam ngồi xuống bên cạnh nó.
"Thằng Lù mười lăm tuổi," Đức nói, sau một lúc.
"Ừ thì mười lăm."
"Nó khuân than ở bến, ca chiều, ăn lương tháng của cai Rạng."
"Ừ."
"Nó có tên trong danh sách phu công nhật của hạt không?"
Bào ngẩng lên.
Đức kéo cái ghế lại gần hơn.
"Sáng nay bác Hoạch vừa khai trước mặt cả phòng rằng bác ấy trả công cho một người không có tên trong cái danh sách ấy," nó nói. "Bác ấy khai vì bác ấy sắp bị tìm thấy. Cai Rạng thì chưa ai đi tìm. Bến than phía đông là chỗ có đăng ký, có sổ phát lương, có triện. Nếu trong sổ phát lương của lão ta có tên mấy đứa mà danh sách của hạt không có, thì lão ta đang ngồi trên đúng cái ghế bác Hoạch vừa đứng lên khỏi."
"Rồi sao?"
"Rồi tao chưa biết." Đức nói. "Tao mới nghĩ ra lúc cụ Thiệp viết. Tao chỉ biết là từ hôm nay tao có một câu để đi hỏi, mà ba hôm trước tao không có câu nào."
Bào ngồi im một lúc.
"Đi hỏi thì phải xuống bến."
"Ừ."
"Tao xuống được." Nó nói. "Tao xuống một lần rồi, tao biết đường, tao biết mặt ba thằng cùng ca."
Người đi trước đến vào giữa trưa, mang theo hai tờ giấy và một hộp triện.
Ông ta dán tờ thứ nhất lên vách: danh sách thứ tự gọi hộ ngày hai mươi. Bốn mươi mấy dòng, đánh số. Người ta xúm lại ngay, và ông ta lùi ra, đưa tay chỉnh cái phù hiệu đồng đeo lệch sang trái trên ngực.
"Gọi từ sáng sớm. Ai vắng thì ghi là vắng, gọi sang hộ sau, hết lượt không gọi lại." Ông ta nói. "Mang bản kê tới, mang cả giấy tờ gốc nếu có."
Ai đó hỏi hộ nhà mình số mấy. Ông ta trả lời. Cái phù hiệu lại lệch xuống.
Ông Hoạch đứng lên khỏi ghế.
"Còn tờ kia?"
"Tờ kia là mẫu bản kê. Tôi dán một bản ở đây cho người ta xem, vì sáng nay có bốn nhà lên nhà hạt hỏi và cả bốn nhà đều hỏi sai chỗ."
Ông ta dán tờ thứ hai lên cạnh tờ thứ nhất. Rồi ông ta làm một việc mà Nam nghĩ mãi về sau: ông ta lấy ngón tay gõ vào mép dưới tờ giấy, hai cái, rồi nói ra chỗ ấy như người đọc thời tiết.
"Mẫu này in hai mặt. Mặt sau có sáu dòng điều kiện. Người ta dán lên vách thì chỉ thấy mặt trước."
"Dòng nào?"
"Dòng thứ tư." Ông ta không cần nhìn giấy. "Vật cầm đã chuộc trong mười ngày trước ngày đối chiếu vẫn tính vào tài sản của hộ, theo giá ghi trong sổ nơi thu mua."
Nhà chung im.
Ông Thiệp là người đầu tiên hiểu ra, vì ông đang cầm bút và ông dừng bút.
"Mười ngày trước mồng hai mươi," ông Hoạch nói.
"Mồng mười." Người đi trước rút cây bút chì dẹt ở tai xuống, viết hai con số lên mép tờ giấy, trừ, rồi viết lại và trừ lần nữa. "Mồng mười. Vâng, mồng mười."
"Hôm qua sổ tôi ghi năm mươi hai lượt chuộc."
"Tôi biết. Cả phố Nhì biết." Ông ta cất bút chì vào tai. "Năm mươi hai cái đều tính. Theo giá ghi trong sổ của ông, chứ không theo giá họ trả để chuộc."
"Thế thì họ chạy xuống kho tôi để làm gì?"
"Tôi không biết họ chạy để làm gì. Tôi làm phần của tôi." Người đi trước đóng nắp hộp triện. "Ông muốn nghe cái này thì tôi nói thêm một câu, rồi tôi đi. Hôm qua bên tôi ngồi cộng tới tối. Trước hôm qua, đồ cầm nằm trong kho ông là đồ của ông, muốn tính vào tài sản hộ nào thì phải cãi nhau từng món. Hôm nay thì mỗi món có một dòng chuộc, có ngày, có tên người chuộc, có chữ ký. Cả khu vừa tự tay đứng ra nhận đồ về mình."
Ông ta đưa tay chỉnh phù hiệu.
"Tôi không nói câu vừa rồi," ông ta nói, rồi đi ra.
Bà Tần đứng ở cửa. Bà đã đứng đó từ lúc nào, ôm tập giấy bọc vải trước ngực, tập giấy bà chuộc về hôm qua bằng ba đồng.
Bà không nói gì với ông Hoạch. Bà nhìn tờ mẫu dán trên vách, tờ giấy chỉ có một mặt quay ra ngoài, rồi bà quay người đi xuống dốc.
Chiều, Hoa Gia dẫn Nam đi qua bên kia rãnh.
Nhà bà Duyên thấp, mái lợp lại bằng ba loại vật liệu khác nhau. Trong nhà, ở gian giữa, có một khoảng trống hình chữ nhật trên nền đất, chỗ đất chai cứng và sạm hơn xung quanh, rộng chừng bằng cái giường. Nam nhìn cái khoảng ấy hai lần trước khi hiểu ra đó là chỗ từng đặt cái khung cửi.
Bà Duyên rót nước. Bà chừng năm mươi, tóc bạc quá nửa, và bà nghe Hoa Gia hỏi xong thì gật ngay, không quanh co.
"Có. Tôi bảo bốn nhà đấy đừng xuống."
"Vì sao bà biết cái dòng thứ tư?"
"Vì hai năm trước người ta đọc nó cho tôi nghe." Bà Duyên nói. "Tôi cũng chạy đi chuộc như họ hôm qua. Tôi chuộc về cái nồi với hai cái chăn, tôi mừng hết mấy hôm. Đến hôm đối chiếu người ta hỏi tôi cái nồi ấy chuộc ngày nào. Tôi bảo ngày ấy. Người ta bảo vâng, thế thì nó vẫn tính."
"Bà chỉ bảo bốn nhà."
"Bốn nhà ấy sang hỏi tôi." Bà Duyên nói. "Còn ba mươi nhà kia thì không ai hỏi tôi cái gì cả."
Hoa Gia không nói gì. Nam nhìn sang và thấy cô đang nhìn cái khoảng trống trên nền đất.
"Bà không nghĩ đi bảo cả xóm à?" Nam hỏi.
"Có chứ." Bà Duyên nói. "Tôi nghĩ tới chuyện đi bảo cả xóm suốt hai năm nay, cậu ạ. Rồi tôi nghĩ tiếp. Tôi ra giữa xóm tôi nói cái dòng thứ tư, thì bốn chục người biết là tôi biết. Người ta hỏi sao bà biết. Tôi bảo vì năm kia người ta lấy cái khung cửi của tôi. Thế là bốn chục người nhớ ra nhà tôi mất cái khung cửi. Cậu có biết năm ngoái tôi đi xin việc dệt thuê ở ba nhà, ba nhà đều bảo thôi không?"
Nam không đáp được.
"Cậu đừng nghĩ tôi giấu," bà Duyên nói. "Ai bước vào cái cửa này hỏi tôi thì tôi nói hết. Tôi nói cả buổi cũng được. Chỉ có ít người bước vào thôi."
Hoa Gia đặt bát nước xuống.
"Bà kể cho tôi hôm đối chiếu hai năm trước," cô nói. "Người ngồi giữa bàn hỏi bà cái gì. Đúng thứ tự."
Bà Duyên nghĩ một lúc, rồi bà giơ ba ngón tay.
"Ba câu. Nhà nào cũng ba câu ấy, ai cũng thế, hỏi đúng thứ tự, hỏi xong ba câu là ghi rồi gọi hộ sau." Bà gập ngón thứ nhất. "Câu một: hộ này có mấy khẩu. Câu hai: trong ba tháng vừa rồi hộ này có đem cầm cố hay chuyển nhượng vật gì không, kể ra."
"Câu ba?"
Bà Duyên gập nốt ngón thứ ba.
"Trong hộ có ai không có tên trong sổ hộ không. Có thì khai ra."
Trong ngực Nam, dưới xương ức, không có gì cả. Cậu đã thôi chờ nó từ mấy hôm nay, nhưng cậu vẫn để ý, và vẫn không có gì.
"Người ta hỏi thẳng thế à?" Cậu hỏi.
"Hỏi thẳng thế. Không giấy tờ gì hết, hỏi mồm." Bà Duyên nói. "Cái đấy mới là chỗ chết người. Hai câu đầu là chép lại cái đã có trên giấy, ai nói sai thì lát nữa giấy nó cãi. Câu thứ ba thì trên giấy không có gì để cãi cả. Chỉ có người ngồi đấy trả lời."
Ra tới ngoài đường, Hoa Gia đi được một quãng thì dừng lại.
"Dì cậu sẽ bị hỏi câu thứ ba bằng mồm, trước mặt cả hàng người đợi tới lượt," cô nói. "Không phải ký vào một cái ô. Trả lời."
"Tôi biết."
"Cậu chưa biết hết. Cậu nghĩ tiếp một bước nữa đi." Cô nói. "Nếu dì cậu trả lời có, thì người ta hỏi tên. Nói tên xong thì họ viết cái tên ấy vào một dòng ngay tại chỗ, rồi họ hỏi số hiệu. Không có số hiệu thì họ vẫn giữ cái dòng đã viết. Cái dòng ấy đi lên."
Cô nhìn cậu.
"Từ giờ tới mồng hai mươi, cái tên của cậu chỉ được ai đó nói ra một lần. Nói hai lần ở hai chỗ khác nhau thì nó là hai dòng, mà hai dòng thì người ta phải đối chiếu với nhau."
Nam quay lại nhà chung lúc trời sắp tối.
Ông Thiệp vẫn ngồi đấy. Chồng giấy chép dở đã cao thêm, và tay phải ông đặt trên bàn, mở ra, không nắm lại.
"Cậu nghĩ xong chưa."
"Rồi ạ."
"Ngồi xuống. Nói chậm thôi, tôi mỏi tay."
Nam ngồi xuống cái ghế đối diện. Cậu đã nhẩm trong đầu suốt đường đi, và bây giờ ngồi trước cuốn sổ mở, cậu bỏ hết chỗ nhẩm ấy đi.
"Ngày mười sáu," cậu nói. "Nam, ở nhà bà Chín xóm trên, đến nói."
Ông Thiệp viết.
"Tôi không có số hiệu. Tôi làm ở kho Ba chân dốc hai năm rưỡi. Tôi ở nhà bà Chín tám năm."
Ngòi bút chạy.
"Ba nơi đã tra tên tôi và không nơi nào có: sổ quỹ góp chung, sổ hộ khu trạm hút, danh sách phu công nhật bốn năm gần nhất. Người tra là người làm cho bên nắm văn tự bảo lãnh, tra ngày mười ba tháng này, nói lại cho tôi nghe tại gác trên hiệu vải đầu phố Nhì."
"Cậu có tên ông ta không?"
"Người ta gọi ông ấy là Cầm. Ông ấy chưa bao giờ tự xưng tên với tôi."
Ông Thiệp viết đúng chữ đó.
"Hai lần khác, hai nơi khác, hai người khác nhau đã viết cùng bốn chữ về tôi: đã có nơi ghi. Một lần cách đây tám năm trên biên nhận đơn của bà Chín ở phòng ba. Một lần cách đây hai năm ngoài lề danh sách phu công nhật của ông Hoạch. Cả hai tờ giấy tôi đang giữ, cụ đã chép lại số và ngày sáng nay."
"Rồi."
Nam ngồi im một nhịp.
"Tôi không biết nơi ấy ở đâu. Tôi không biết ai giữ nó." Cậu nói. "Ngày hai mươi, nếu có người mở một cuốn sổ ra để trả lời một câu hỏi về tôi, tôi xin được có mặt trong phòng lúc câu trả lời tới."
Ông Thiệp viết nốt, rồi ngẩng lên.
"Câu cuối là cậu xin, hay cậu hứa?"
"Cháu xin."
"Cậu chắc chứ." Ông đặt bút xuống ngang thân nghiên. "Tôi hỏi cho rõ, vì hai cái ấy tôi viết khác nhau và người đọc cũng đọc khác nhau. Cậu bảo tôi xin được có mặt thì đó là một câu xin, không ai nợ ai cái gì. Cậu bảo tôi sẽ có mặt thì đó là chuyện khác hẳn."
"Cháu biết nó khác chỗ nào."
"Cậu biết thật à."
"Cháu đứng ở phòng này sáng nay và nghe thằng bạn cháu giải thích cho một thằng bạn khác của cháu," Nam nói. "Cháu xin. Cụ viết là cháu xin."
"Cậu có hứa gì trong cả đoạn vừa rồi không?"
"Không."
Ông Thiệp viết thêm một dòng, đọc lại cả đoạn một lượt cho Nam nghe, rồi xoay cuốn sổ sang.
Nam ký. Cậu ký chậm hơn cậu tưởng, vì cậu chưa ký tên mình xuống giấy lần nào trước đó ngoài mấy cái thẻ hàng ở kho.
"Xong." Ông Thiệp thấm mực. "Cậu về ăn cơm đi. Tôi còn hai mươi ba năm."
Nam đứng dậy. Cậu đi được ba bước ra phía cửa thì quay lại, vì có một chuyện cậu định hỏi từ sáng và cứ quên.
"Cụ ơi. Cụ ghi cả người đến đọc sổ nữa phải không ạ?"
"Ghi chứ." Ông Thiệp không ngẩng lên. "Ai vào nhà chung tôi cũng ghi. Ai mở cuốn này ra tôi càng ghi."
"Hôm nay có ai đọc không ạ?"
Ông Thiệp lật ngược lại một trang, dò ngón tay xuống, và đọc lên bằng cái giọng đều đều ông vẫn dùng để đọc lại cho người ta nghe.
"Mồng mười sáu, quá ngọ. Ông Cầm đến. Xin đọc sổ. Đọc từ trang bốn trăm tới trang bốn trăm mười ba. Ngồi hai canh giờ. Không nói gì. Đi lúc xế."
Nam đứng ở giữa phòng.
"Trang bốn trăm mười ba là trang nào ạ."
Ông Thiệp gấp cuốn sổ lại, và ông trả lời mà không cần mở ra xem.
"Là trang sáng nay," ông nói. "Chỗ bà Chín ký tên."