Ông Hoạch đóng cửa kho lúc quá trưa một chút, sớm hơn ba tiếng so với mọi ngày, và việc đó tốn của ông nhiều hơn cái ổ khóa vừa kêu một tiếng khô khốc.
Có bốn người đang đứng chờ ngoài thềm. Một bà mang cái nồi đồng, hai người đàn ông chở chung một xe cút kít chất đầy đồ nghề thợ mộc, và một thằng bé chừng mười tuổi cầm cái áo bông của ai đó gấp vuông vắn trong tay, chắc là mẹ nó sai đi. Ông Hoạch nói với cả bốn người cùng một câu, không giải thích: chiều nay kho nghỉ, mai mở sớm bù.
Bà cầm nồi đồng chửi một câu rồi bỏ đi. Hai người thợ mộc quay xe, bánh xe nghiến xuống rãnh nước cạnh thềm. Thằng bé đứng lại lâu nhất, nhìn cái áo bông trong tay như đang tính xem về nhà thì ăn nói thế nào, rồi cũng đi.
"Bốn khách." Bào nói, vẫn ngồi ở bậc cửa, một chân duỗi ngang chắn lối như thói quen. "Chưa kể mấy người thấy cửa đóng rồi đi luôn không vào."
"Tao biết đếm." Ông Hoạch bỏ chùm chìa khóa vào túi trong. "Mày đứng dậy đi. Ngồi đó cả buổi làm gì."
"Cháu đi cùng."
"Không." Nam nói, trước cả ông Hoạch.
Bào đứng lên thật, nhưng để cãi chứ không phải để đi. "Bà tao. Giấy tờ của bà tao. Tao ngồi nhà chờ hai đứa mày về báo cho tao biết bà tao có sao không?"
"Ông ta tuyên nhắm vào nhà mày." Nam nói. "Mày đến, ông ta có cớ nói mày đến gây sự. Hôm qua chính mày bảo thế."
"Hôm qua tao chưa phải ngồi không cả buổi chiều."
Ông Hoạch để hai đứa cãi thêm vài câu rồi cắt ngang, giọng không to nhưng đủ dập.
"Thằng Nam nói đúng. Mày ở nhà." Ông nhìn Bào một lúc, rồi hạ giọng xuống một bậc. "Nhưng mày cũng không phải ngồi không. Mày còn một việc chưa làm."
Bào ngẩn ra mất một nhịp mới hiểu.
"Thằng Lù."
"Ừ. Cái lương nửa tháng mày trót hứa đòi hộ." Ông Hoạch phủi tay áo. "Bến than phía đông, giờ này còn ca chiều. Mày xuống hỏi cho ra thằng đó tên đầy đủ là gì, làm cho cai nào, tháng nào bị quỵt, có ai cùng ca chứng kiến không. Chỉ hỏi thôi, không cãi nhau với ai, không hứa thêm câu nào nữa. Nghe rõ chưa?"
"Rõ ạ."
"Nói lại tao nghe."
Bào nói lại, đủ bốn ý, hơi vấp ở ý thứ ba.
Nó đi trước, xuống dốc, tay xoay cái vòng cỏ trên cổ tay được một quãng thì thôi, rồi bước nhanh dần lên như người vừa tìm được chỗ để đặt chân. Nam nhìn theo cho tới khi bóng nó khuất sau dãy nhà lợp tôn.
"Bác cho nó việc để nó khỏi nghĩ."
"Tao cho nó việc vì việc đó có thật." Ông Hoạch bước xuống thềm. "Mà nó khỏi nghĩ được thì càng tốt. Đi."
Nhà chung xóm trên buổi chiều vắng hơn Nam tưởng. Hai cái bàn kê ngoài hiên vẫn còn đó, nhưng chỉ còn một người ngồi. Người kia đi đâu không rõ, ghế đẩy vào gọn gàng, mặt bàn lau sạch.
Người còn lại là người đi trước, người đã ghi nhận chữ ký ông Tứ hôm qua. Ông ta đang chép lại một xấp giấy sang một cuốn sổ khác, chép chậm, thỉnh thoảng dừng để so hai dòng cho khớp. Cái phù hiệu bằng đồng trên ngực áo ông ta đeo lệch sang trái, và cứ mỗi lần nói xong một câu thuộc phần thủ tục, ông ta lại đưa tay chỉnh nó lại ngay ngắn, rồi câu sau nó lại lệch.
"Tôi đợi các anh từ sáng." Ông ta nói, không ngẩng lên.
"Ông đợi tụi tôi?" Ông Hoạch hỏi.
"Đợi ai đó trong ba người hôm qua. Hôm qua tôi có bảo phải báo cho người ta biết, chính thức, có bằng chứng." Ông ta gác bút. "Mà tôi nói câu đó rồi tôi nghĩ mãi. Nói xong thì dễ. Làm thì phải có giấy."
Ông ta rút từ dưới xấp hồ sơ ra một tờ đã viết sẵn, chặn góc bằng cái nghiên mực cho khỏi bay.
Nam đọc. Tờ giấy ghi tên hộ, ghi ngày, ghi ba người làm chứng và ngày ký của từng người, ghi kết luận đối chiếu là hộ đủ điều kiện, và ở dưới cùng có một dấu triện đỏ nhỏ bằng đầu ngón tay cái.
"Bản sao có triện." Người đi trước nói. "Bản gốc nằm trong hồ sơ khu, không ai được mang đi. Cái này các anh mang đi được."
"Tôi cảm ơn ông." Ông Hoạch nói.
"Đừng cảm ơn vội." Ông ta chỉnh lại cái phù hiệu. "Còn chuyện thứ hai thì tôi phải nói thẳng luôn cho đỡ mất thì giờ của các anh. Tôi không đi làm chứng được."
Nam đã đoán trước một nửa, nhưng nghe vẫn hụt.
"Vì sao ạ?"
"Vì tôi ăn lương của bên nắm văn tự bảo lãnh." Ông ta nói, gọn, không quanh co. "Tôi ký hợp đồng làm đối chiếu cho khu này, hết đợt đối chiếu là hết việc. Cậu bảo tôi đi làm chứng cho việc báo tin chống lại một người của chính bên trả lương cho tôi, thì cậu bảo tôi tự cắt việc của mình. Tôi có vợ, có ba đứa con, đứa lớn năm nay xin vào học nghề chép sổ ở dưới hạt, mỗi tháng đóng bảy đồng."
"Nhưng hôm qua chính ông bảo—"
"Hôm qua tôi bảo các anh đi báo. Tôi không bảo tôi sẽ đi cùng." Ông ta nhìn Nam, và lần đầu tiên trong ba lần gặp, ánh mắt ông ta có gì đó gần như là mệt. "Cậu còn trẻ nên cậu nghĩ người ta hoặc đứng bên này hoặc đứng bên kia. Tôi đứng ở chỗ tôi ngồi. Tôi đối chiếu đúng, tôi ghi đúng, tôi không sửa một chữ nào có lợi cho ai. Cái đó tôi làm được và tôi đã làm. Còn hơn thế thì không."
Ông Hoạch đứng nghe từ nãy, tay đút túi, không tỏ vẻ gì.
"Vậy ông chỉ giùm tôi một chuyện khác." Ông nói. "Cái giấy phép thu mua."
Người đi trước nhìn ông một lúc.
"Kho Ba dốc dưới?"
"Ừ."
"Ba mươi mốt năm không đăng ký." Ông ta nói, không ra chê cũng không ra khen. "Nhiều người biết chuyện đó lắm rồi, ông Hoạch ạ. Chỉ là chưa ai cần dùng đến thôi."
"Giờ có người cần dùng. Nên tôi hỏi ông cho ra số." Ông Hoạch kéo cái ghế đẩu, ngồi xuống đối diện. "Đăng ký muộn thì mất bao nhiêu."
Người đi trước lật một cuốn sổ mỏng ở góc bàn, dò một lúc, rồi lấy giấy nháp tính. Ông ta tính bằng bút, không tính nhẩm, và tính hai lần.
"Phí đăng ký bốn mươi. Truy thu ba năm gần nhất theo doanh số ông tự khai, nếu ông khai thật thì tôi ước chừng một trăm tám. Phạt chậm đăng ký tính theo năm nhưng có mức trần, bốn mươi lăm." Ông ta gạch một đường dưới cột số. "Hai trăm sáu mươi lăm. Nộp một lần, không cho trả góp, vì trả góp là lại thành một khoản treo mới."
Nam nhìn con số. Cậu không rành mấy chuyện này, nhưng cậu biết một cái thẻ rời hạt giá ba trăm lẻ hai đồng, và cậu biết ở Hạ Khê người ta hay lấy cái giá đó ra để đo mọi thứ, kiểu như đo xem một đời người ở lại đây thì rẻ hơn hay đắt hơn một lần đi khỏi.
"Nộp ở đâu?" Ông Hoạch hỏi.
"Nhà hạt, phòng ba, sáng mai từ giờ mở cửa." Người đi trước ngẩng lên. "Ông định nộp thật à?"
"Ông hỏi làm gì."
"Hỏi để biết mà viết vào sổ cho đúng." Ông ta chỉnh lại cái phù hiệu. "Với lại tôi tò mò. Ba mươi mốt năm không ai đụng tới ông. Giờ ông tự đi nộp hai trăm sáu lăm đồng để mua cái giấy mà ông không cần."
"Tôi không mua cái giấy." Ông Hoạch đứng dậy, đẩy ghế vào chỗ cũ. "Tôi mua cái chuyện người ta không lấy nó ra dọa tôi được nữa."
Người đi trước không nói gì thêm. Nhưng khi hai người quay đi, ông ta gọi với theo.
"Ông ta ở nhà khách của Vĩnh Lợi, gác trên hiệu vải đầu phố Nhì. Buổi chiều thường có mặt." Ông ta đã cầm bút lên, đã cúi xuống trang sổ dở. "Tôi không nói câu vừa rồi. Các anh tự hỏi được ra."
Người giữ nhà chung tên là ông Thiệp, và Nam đã đi qua ông không biết bao nhiêu lần mà chưa từng thật sự nhìn.
Ông ngồi ở gian trong, chỗ tối hơn, đang lấy giẻ lau bồ hóng bám ở chân đèn. Ở thắt lưng ông có một chùm chìa khóa buộc dây gai, đủ mọi cỡ, và khi ông đi thì cả chùm kêu lách cách suốt dọc hành lang, còn khi ông đứng lại nghe ai nói thì ông đưa tay giữ chặt chùm chìa cho nó im, như thể tiếng động đó cũng là một thứ có thể làm hỏng việc người khác.
Ông Hoạch nói chuyện với ông trước, hai người biết nhau từ lâu, và cách họ nói chuyện không giống cách người ta bàn việc lớn. Họ nói về cái mái.
"Ba năm rồi." Ông Thiệp chỉ lên chỗ trần gian ngoài, nơi có một vệt loang màu trà đặc, viền ngoài đã khô cứng lại thành gờ. "Tao viết đơn ba lần. Lần đầu nhà hạt bảo chờ duyệt. Lần hai bảo đã chuyển sang quỹ khu vì nhà chung tính vào tài sản chung. Lần ba quỹ bảo đã chuyển cho bên nắm văn tự rồi, hỏi bên đó."
"Hỏi chưa?"
"Hỏi rồi. Người ta bảo cái mái không nằm trong danh mục nghĩa vụ được chuyển giao." Ông Thiệp gấp cái giẻ lại làm tư. "Tao chép nguyên câu đó vào sổ. Câu hay, tao sợ quên."
Nam bật cười trước khi kịp giữ, rồi thấy ngượng. Ông Thiệp không để ý, hoặc để ý mà không quan tâm.
Khi Nam trình bày việc mình cần, ông nghe hết, không ngắt, tay giữ chùm chìa khóa cho im. Nghe xong ông hỏi đúng một câu.
"Tao đi để làm gì?"
"Để có người ghi lại việc tụi cháu đã báo tin cho ông ta." Nam nói. "Ghi ngày, ghi giờ, ghi ai có mặt, ghi ông ta nói gì."
"Thế thôi à?"
"Thế thôi ạ."
Ông Thiệp gật, đứng dậy, đi vào buồng trong. Lúc ra, ông đã đổi áo và cầm theo một cuốn sổ bìa vải bạc màu, dày, mép giấy đã sờn tròn ở góc dưới bên phải vì lật nhiều.
"Cuốn này tao ghi ba mươi tư năm rồi." Ông nói. "Ai vào nhà chung, ngày nào, việc gì, mấy giờ. Không ai bảo tao ghi. Tao ghi vì hồi mới nhận việc có một vụ tranh chấp ruộng, hai bên đều bảo hôm đó có họp ở đây, mà không ai chứng minh được. Từ đó tao ghi."
"Bác ghi cả những chuyện không quan trọng?"
"Tao có biết cái nào quan trọng đâu mà chọn." Ông Thiệp buộc lại dây lưng. "Cái quan trọng nó chỉ quan trọng về sau. Lúc nó đang xảy ra thì nó giống hệt mọi thứ khác."
Ông đi ra cửa trước, dừng lại, quay sang Nam.
"Nói trước cho khỏi giận nhau về sau. Tao ghi cái tao thấy. Cháu nói gì hớ, tao cũng ghi. Cháu làm gì dại, tao cũng ghi. Tao không sửa cho ai đẹp mặt, kể cả cháu."
"Cháu hiểu ạ."
"Chưa chắc đâu." Ông Thiệp đi trước xuống bậc thềm, chùm chìa khóa lại kêu lên. "Nhưng lát nữa thì hiểu."
Đường từ xóm trên xuống phố Nhì đi mất non một tiếng, dốc suốt, và đúng lúc ba người đi được nửa đường thì còi đổi ca hú lên phía trạm hút, kéo dài, tắt, rồi hú thêm một hồi ngắn.
Người bắt đầu đi ngược lên. Ca chiều tan, ca tối vào, và giữa hai dòng người đó là chừng nửa giờ cả con dốc đông nghịt. Bà Lũy đã dọn quán mì ra sát mép đường từ lúc nào, hạ giá xuống một xu một bát như mọi hôm có còi, và mấy cái ghế con trước quán không còn chỗ trống. Mùi nước dùng lẫn với mùi bụi than ướt, thứ mùi Nam đã ngửi từ năm chín tuổi và không còn phân biệt được nữa.
Ông Thiệp đi chậm, ông Hoạch đi chậm theo, nên Nam cũng phải đi chậm, và cậu thấy cái chậm đó khó chịu hơn cậu tưởng.
"Mày sốt ruột." Ông Hoạch nói.
"Dạ."
"Sốt ruột thì đến sớm hơn được năm phút, mà thở không ra hơi. Người ta nhìn cái là biết mày đang gấp." Ông tránh một người gánh hai sọt đá dăm. "Người biết mày gấp thì người ta có thêm một thứ để dùng. Đi chậm lại."
Nam đi chậm lại.
Được một quãng, ông Hoạch nói tiếp, giọng bình thường như đang nói chuyện thời tiết.
"Mày biết ông Sạ không?"
"Người bị siết giữa dốc ấy ạ? Cháu chỉ nghe kể."
"Ừ. Hồi đó mày chưa về đây." Ông Hoạch nhìn thẳng phía trước. "Ông ấy nhận một việc, hứa xong trong mười ngày. Đến ngày thứ tám thì rõ là không xong được. Ông ấy có đến kho tao, hỏi vay. Không nhiều, ba chục đồng."
"Bác không cho vay?"
"Tao cho vay. Tao cho vay hai chục, giữ lại một chục vì tao tính tháng đó tao phải trả tiền thuê đất." Ông Hoạch nói cái đó ra bằng đúng cái giọng ông đọc giá một món đồ cầm. "Hai chục không đủ. Ông ấy đi được nửa dốc thì gãy. Tay xám lại, cứng như rễ cây. Người ta phải khiêng ông ấy về."
Ông Thiệp, đi phía trước, không quay lại nhưng chậm chân xuống một chút.
"Tao không biết một chục nữa thì có cứu được ông ấy không." Ông Hoạch nói. "Có thể không. Có thể ông ấy vẫn gãy. Tao nghĩ chuyện đó nhiều năm rồi và tao vẫn không biết. Cái tao biết là hôm đó tao đã ngồi tính, và tao đã tính đúng phần của tao."
Nam không biết đáp thế nào, nên không đáp.
Cậu đi thêm chục bước rồi mới nhớ ra, và nhớ ra thì thấy nóng mặt: tối qua cậu bảo con Nhài hôm nay anh xếp sỏi cùng em. Nó đã ngồi bệt xuống đất sáng nay để chọn sẵn mấy viên đẹp nhất, cậu có thấy, cậu còn khen một viên có vân xanh. Giờ này về sớm nhất cũng phải quá tối.
"Tao kể để mày đừng tưởng tao đi cùng mày vì tao gan." Ông Hoạch nói. "Tao đi vì tao đã có một lần ngồi tính rồi. Tao không muốn tính thêm lần nữa."
Họ đi qua đầu phố Nhì lúc trời còn sáng rõ. Bên tay trái có một cái quán trọ hai tầng, cửa mở, một người đàn ông ngồi trong bóng râm ở hiên đang bóc vỏ một quả gì đó, và trên tường có treo tấm bảng gỗ ghi giá phòng theo đêm. Nam liếc qua, không dừng, không có lý do gì để dừng.
Hiệu vải nằm cách đó ba căn. Cầu thang gỗ dẫn lên gác nằm bên hông, ngoài trời, và bậc trên cùng đã được ai đó chèn thêm một miếng ván mới, còn sáng màu, chưa kịp bám bụi.
Cầm đang viết khi ba người bước vào.
Gian gác nhỏ, một cửa sổ, một cái bàn kê sát cửa sổ để lấy sáng, một cái giường đơn dọn gọn đến mức trông như chưa ai nằm. Cái túi da cũ đặt dưới chân bàn. Trên mặt bàn có ba xấp giấy xếp thành ba chồng cao thấp khác nhau và một cái đĩa đựng mực khô đã chùi sạch.
Ông ta viết nốt dòng đang viết rồi mới ngẩng lên. Không đứng dậy, không mời ngồi ngay, chỉ nhìn ba người một lượt, dừng lâu nhất ở ông Thiệp và cuốn sổ bìa vải trong tay ông cụ.
"Ba người." Ông ta nói. "Có người ghi."
"Có." Nam đáp.
"Cậu học nhanh." Cầm đặt bút xuống ngang thân nghiên mực, không gác lên, và cái động tác đó gọn đến mức Nam nhận ra ông ta làm nó vài chục lần một ngày. "Cụ ngồi. Cụ có tuổi, đứng lâu không tốt."
Ông ta chỉ cái ghế duy nhất trong phòng ngoài cái ghế ông đang ngồi. Ông Thiệp ngồi xuống, đặt cuốn sổ lên đùi, mở ra, và bắt đầu ghi ngay từ lúc đó, không đợi ai bảo. Nam và ông Hoạch đứng.
Nam đưa tờ giấy ra.
Cầm cầm bằng cả hai tay, và trong lúc ông ta cầm, Nam nhìn thấy thứ mà cậu đã nhìn hai lần trước mà chưa để ý: hai bàn tay ấy sạch, móng cắt sát, và không có một vết chai nào. Không phải tay người bốc vác, không phải tay người viết nhiều — người viết nhiều thì có cục chai ở đốt giữa ngón đeo nhẫn, ông Thiệp có, Đức có. Tay Cầm không có gì cả. Một đôi tay chưa từng phải làm cái gì đủ lâu để để lại dấu.
Ông ta đọc tờ giấy. Đọc hết, rồi đọc lại từ đầu, chậm hơn lần một. Không ai nói gì trong khoảng đó. Ngoài cửa sổ có tiếng người bốc hàng dưới sân hiệu vải, tiếng gọi nhau, tiếng thùng gỗ đặt xuống nền gạch.
"Ba người làm chứng, ký đủ, có triện đối chiếu." Cầm đặt tờ giấy xuống bàn, vuốt phẳng một góc bị gấp. "Hộ này đủ giấy tờ."
"Vậy lời ông tuyên hôm kia—"
"Khoan." Cầm giơ tay, không cao, chỉ ngang mặt bàn. Rồi ông ta quay sang ông Thiệp. "Cụ ghi giúp tôi mấy chữ."
Ông Thiệp ngẩng lên. "Ông đọc."
"Ngày hôm nay, giờ chiều, tại gác trên hiệu vải đầu phố Nhì. Có mặt: người viết sổ, ông chủ kho Ba, và cậu bé làm ở kho Ba." Cầm nói chậm, đủ để bút theo kịp, ngắt câu ở đúng những chỗ người ghi cần ngắt. "Người ta trao cho tôi bản sao có triện của biên bản đối chiếu hộ nhà bà cụ xóm trên, ghi rõ hộ này đủ ba người làm chứng và đủ điều kiện. Tôi đã nhận. Tôi đã đọc."
Bút ông Thiệp chạy đều.
"Ghi tiếp: điều kiện trong lời tuyên của tôi ngày mồng mười là hộ này không đủ giấy tờ chứng minh. Điều kiện đó đã không xảy ra và sẽ không xảy ra nữa. Tôi xác nhận việc đó trước ba người có mặt."
Ông Thiệp viết nốt, rồi ngẩng lên. "Hết chưa?"
"Hết. Cụ đọc lại cho tôi nghe."
Ông Thiệp đọc lại. Cầm nghe, gật một cái.
"Cụ cho tôi ký."
Nam đứng nhìn ông ta cầm bút, ký vào cuối đoạn ghi trong cuốn sổ của một ông già giữ nhà chung, và cậu không hiểu nổi chuyện đang diễn ra. Cậu đã đi cả một buổi chiều để chuẩn bị cho một cuộc cãi vã. Cậu đã nghĩ sẵn ba cách trả lời cho ba kiểu chối. Không có cái nào dùng được.
"Ông làm cái này để làm gì?" Cậu buột hỏi.
Cầm đặt bút xuống, lại đúng cái động tác ngang thân nghiên mực.
"Vì tôi không để cái gì treo." Ông ta nói. "Tôi tuyên một mệnh đề có điều kiện. Điều kiện không xảy ra. Chuyện đó cần được ghi lại ở một chỗ có người thứ ba, nếu không thì nó lơ lửng, mà cái gì lơ lửng thì đến lúc nào đó sẽ có người đem ra dùng. Tôi không thích bị đem ra dùng."
Và ngay lúc đó, Nam cảm được.
Không phải trong người ông ta. Trong phòng. Từ hôm kia tới giờ, mỗi lần Nam nghĩ tới cái sân nhà Bào là trong ngực cậu lại có một điểm nặng ở dưới xương ức, một chỗ tì, giống như đứng dưới cái xà nhà thấp mà không nhìn lên cũng biết nó ở trên đầu. Cậu đã tưởng đó là sợ.
Cái tì đó vừa nhấc lên.
Bụi trong luồng sáng từ cửa sổ đổi kiểu rơi — trước đó nó rơi xiên và chậm quanh chỗ Cầm ngồi, giờ nó rơi thẳng như ở mọi chỗ khác trong phòng. Vạt áo xám của ông ta buông xuống thêm một chút, đúng một chút, kiểu vải vừa được thả ra. Chỉ có thế, và hết trong một nhịp thở.
Nam nhìn sang ông Hoạch. Ông Hoạch không thấy gì. Ông Thiệp cúi xuống sổ, không thấy gì.
"Cậu lại cảm được." Cầm nói.
Không phải câu hỏi, nên Nam không trả lời.
"Cậu thấy nó ở đâu?"
Nam định không đáp. Nhưng cậu nghĩ tới việc mình đang đứng trong phòng người ta, đã lấy được thứ mình cần, và cái giá của một câu trả lời có lẽ nhỏ hơn cái giá của việc để ông ta đoán.
"Dưới xương ức."
Cầm gật, như người vừa được xác nhận một điều đã biết.
"Đúng chỗ." Ông ta nói. "Người ta thấy ở đó."
Ông Hoạch bước lên nửa bước, đặt tay lên mép bàn.
"Còn cái kho của tôi."
"Giấy phép thu mua." Cầm không cần nghĩ.
"Sáng mai tôi nộp đơn ở phòng ba nhà hạt. Phí đăng ký, truy thu ba năm, phạt chậm. Hai trăm sáu mươi lăm đồng, nộp một lần." Ông Hoạch nói ra ba con số bằng đúng cái giọng ông đọc giá một cái nồi đồng. "Nói để ông biết mà khỏi mất công."
Cầm nhìn ông một lúc. Rồi ông ta kéo tờ giấy nháp ở góc bàn về, ghi mấy chữ.
"Ông nộp thật à."
"Ông là người thứ hai hỏi tôi câu đó trong một buổi chiều."
"Vì nó lạ." Cầm gác bút. "Ông giữ được ba mươi mốt năm bằng cách không đăng ký. Không đăng ký thì không có sổ, không có sổ thì không ai bán được cái kho của ông cho người thứ ba, vì có gì đâu mà bán. Ông vừa tự đem mình ghi vào một chỗ mà từ nay ai cũng tra được."
Nam quay sang nhìn ông Hoạch, và thấy ông không hề ngạc nhiên. Ông đã biết. Ông đã biết từ trước lúc hỏi giá.
"Tôi biết." Ông Hoạch nói. "Nhưng cái cách cũ thì ai muốn dọa tôi lúc nào cũng dọa được, mà tôi chẳng có gì để cãi. Cách mới thì tôi có một tờ giấy. Tờ giấy có thể bị người ta dùng, được. Nhưng nó cũng là thứ tôi giơ ra được."
"Đắt."
"Rẻ hơn cái ông định đổi lấy nó."
Lần đầu tiên từ lúc bước vào, Cầm im lâu hơn một nhịp cần thiết. Rồi ông ta viết thêm một dòng nữa vào tờ nháp, và Nam thấy rõ ông ta không viết để nhớ. Ông ta viết để về sau có cái mà nộp cho ai đó.
"Xong việc của các anh rồi." Cầm nói. "Giờ đến việc của tôi."
Ông ta rút từ chồng giấy giữa ra một tờ gấp tư, mở ra, đặt lên bàn quay về phía Nam.
Nam đọc. Đọc đến nửa thì cậu phải đọc lại từ đầu.
Đó là một thông báo. Đối chiếu toàn khu trạm hút, toàn bộ hộ có tên trong quỹ góp chung, không riêng hai mươi ba hộ bị đọc tên. Người chủ trì không phải Vĩnh Lợi, không phải nhà hạt. Là một thanh tra đối chiếu của Sổ Cái, cử từ Kim Đài xuống. Ngày ghi ở dưới cùng: bảy ngày nữa.
"Cái này..." Nam ngẩng lên. "Cái này có từ bao giờ?"
"Tôi nhận sáng nay. Nó đi mất mười một ngày trên đường." Cầm chỉ vào một dòng nhỏ in nghiêng ở góc trên. "Cậu đọc dòng này."
Nam đọc. Đó là dòng ghi căn cứ. Căn cứ đơn khiếu nại số hiệu gì đó, nộp tại nhà hạt Hạ Khê, về việc thông báo công khai dán chậm ba ngày so với ngày đọc tên riêng một hộ.
Đơn của Đức.
"Bạn cậu viết đơn giỏi." Cầm nói. "Viết đúng chỗ, đúng điều khoản, nộp đúng cửa. Đơn đó nằm ở nhà hạt bốn ngày rồi được chuyển lên, vì ở nhà hạt không ai dám ngồi lên một cái đơn có dẫn đúng điều khoản. Nó lên tới Kim Đài, và Kim Đài làm cái việc Kim Đài vẫn làm."
"Là gì ạ?"
"Cử người xuống đếm."
Cầm gấp tờ thông báo lại, nhưng để nguyên trên bàn, không cất.
"Cậu tưởng cậu kêu lên trên để người trên bênh mình." Ông ta nói, giọng vẫn đều như lúc đọc cho ông Thiệp ghi. "Người trên không bênh ai cả. Người trên xuống đếm. Đếm thì phải có cái để đếm. Mỗi hộ nộp bản kê giao dịch ba tháng, đầy đủ, khớp với sổ của các nơi thu mua trong khu. Chỗ nào thiếu thì ghi là thiếu. Ghi là thiếu thì đọc là giấu."
Nam nghe hết câu đó, và trong ngực cậu cái điểm dưới xương ức đã nhấc lên lúc nãy quay lại, mạnh hơn lần trước.
Bốn dòng.
Cậu đã chép danh sách ba tháng của kho Ba, và cậu đã bỏ đi bốn dòng, trong đó hai dòng là của nhà Bào. Cậu đã bỏ vì cậu không muốn đưa chuyện người quen cho một người lạ. Lúc đó cậu nghĩ mình đang che cho bạn.
Bảy ngày nữa, một người từ Kim Đài sẽ xuống, và người đó sẽ mở sổ kho Ba ra, và cái sổ kho Ba thì đủ.
Cái bản kê thiếu bốn dòng đang nằm trong tay Hoa Gia.
"Cậu vừa nghĩ ra cái gì đó." Cầm nói.
"Không."
"Cậu nói dối vụng lắm." Ông ta không có vẻ gì đắc thắng khi nói câu đó, chỉ giống như đang chỉ ra một chỗ hỏng trên một tờ giấy nợ. "Thôi. Không phải việc của tôi."
Ông ta đứng dậy, và Nam nhận ra ông ta đứng dậy để tiễn khách.
"Còn một câu." Nam nói. "Hôm kia ông tuyên ở sân nhà bạn cháu. Ông không cần tuyên. Ông chỉ cần đợi hết hạn rồi làm gì thì làm. Vì sao ông tuyên?"
Cầm cầm cái túi da lên, khoác qua vai.
"Cậu tự trả lời thử đi."
Nam đứng đó, và câu trả lời đến chậm, từng mảnh một, và mỗi mảnh đến thì cậu lại thấy khó thở thêm một chút.
Bà cụ nhà Bào không cần một lời tuyên mới sợ. Bà đã sợ sẵn rồi. Ba người làm chứng hay không ba người làm chứng, hộ đó nằm gọn trong tay Vĩnh Lợi từ đầu, và một lời tuyên có sức nặng thật là thứ quá lớn để đem ra dùng cho một việc nhỏ như thế.
Trừ khi việc nhỏ đó không phải cái đích.
"Ông tuyên trước mặt cháu." Nam nói.
"Trước mặt cậu." Cầm gật. "Tôi cần biết cậu có cảm được không. Tôi hỏi bằng cách rẻ nhất tôi có. Cậu trả lời ngay tại chỗ, trước bốn người, không kịp nghĩ. Cậu bảo tôi vừa ký một cái gì đó và nó không đắt với tôi."
"Ông trả lời gì cho người ta?"
"Tôi chưa trả lời." Cầm bước ra phía cầu thang, dừng lại ở khung cửa. "Tôi mới hỏi cậu một câu và cậu đã đáp. Còn một câu nữa tôi chưa hỏi, hỏi rồi thì tôi mới viết."
Ông ta nhìn Nam, lâu hơn tất cả những lần nhìn trước.
"Cậu không có tên trong quỹ góp chung."
"Nhà cháu không đóng quỹ. Cháu ở nhờ."
"Tôi biết. Tôi có tra." Cầm nói. "Cậu không có tên trong quỹ, không có tên trong sổ hộ khu trạm hút, không có tên trong danh sách phu công nhật của bốn năm gần nhất. Một đứa mười bảy tuổi sống ở Hạ Khê tám năm mà không có tên ở chỗ nào cả, thì hoặc là nó không tồn tại, hoặc là nó có tên ở một chỗ khác."
Nam mở miệng, rồi đóng lại.
Cậu chờ cái lệch. Mọi lần cậu đứng trước một câu có chỗ không khớp thì trong ngực cậu có cái gì đó động đậy, dù nhỏ, dù mơ hồ, cho cậu biết đâu là chỗ nói dối. Lần này không có gì. Không phải im lặng kiểu câu nói thật. Là im lặng kiểu chưa từng có cái gì ở đó để mà kêu.
"Chỗ nào?" Cậu hỏi.
"Đó là câu tôi chưa hỏi." Cầm nói, và xuống cầu thang.
Tiếng chân ông ta đi qua bậc trên cùng, chỗ miếng ván mới, kêu một tiếng khác hẳn những bậc còn lại, rồi đều lại như cũ cho tới hết.
Ông Thiệp gấp cuốn sổ lại khi cả ba đã ra tới đầu phố Nhì.
"Tao ghi hết rồi." Ông nói. "Cả đoạn cuối."
"Bác ghi cả đoạn cuối ạ?"
"Tao đã bảo trước rồi mà." Ông Thiệp buộc lại dây gai ở thắt lưng. "Cháu muốn tao xé thì nói bây giờ. Xé thì tao xé, nhưng xé rồi thì cả cuốn này từ nay không đáng gì nữa, mà cháu cũng mất luôn cái đoạn ông ta xác nhận điều kiện không xảy ra, vì hai đoạn nằm cùng một trang."
Nam nghĩ mất một quãng dài hơn cậu muốn.
"Bác giữ nguyên đi ạ."
"Ừ." Ông Thiệp gật, không khen. "Mai tao chép một bản cho nhà bà cụ giữ. Bảo nó lên lấy."
Ông rẽ lên dốc về xóm trên, chùm chìa khóa kêu lách cách xa dần.
Ông Hoạch và Nam đi về hướng kho. Trời đã xuống màu, còi ca tối đã hú xong từ lâu, con dốc lại vắng.
"Hai trăm sáu lăm đồng." Nam nói, sau một quãng im. "Bác lấy đâu ra ạ?"
"Tao có ba trăm mười."
"Bác để dành làm gì ạ?"
"Cái cân." Ông Hoạch nói. "Cái cân bàn ở kho lệch. Lệch có bốn phần trăm thôi, tao trừ hao trong đầu mỗi lần cân, ba mươi mốt năm rồi tao trừ quen tay không cần nghĩ. Nhưng tao trừ hao thì thành ra tao cân đúng cho tao mà không cân đúng cho khách. Tao định năm nay mua cái mới."
"Vậy cái cân..."
"Cái cân đợi thêm năm nữa." Ông Hoạch nói, và không nói gì thêm về chuyện đó.
Đến chỗ rẽ vào dốc kho, ông đứng lại.
"Còn cái mày nghĩ ra lúc nãy trong phòng ông ta." Ông nói. "Mày trắng bệch mặt ra mà mày bảo không có gì."
"Cháu..."
"Tao không hỏi là cái gì." Ông Hoạch nhìn cậu. "Tao hỏi là nó có kịp sửa trong bảy ngày không."
Nam nghĩ tới bản kê thiếu bốn dòng, tới việc cậu không biết Hoa Gia đang ở đâu, đã đưa nó cho ai, đã chép lại thành bao nhiêu bản.
"Cháu không biết ạ."
"Vậy thì mai bắt đầu bằng cái đó." Ông Hoạch đi tiếp. "Không phải cái kho, không phải thằng Lù. Cái đó trước."
Kho Ba hiện ra ở cuối dốc, và đèn trong kho đang sáng.
Ông Hoạch dừng phắt lại. Nam cũng dừng. Cửa kho ông đã khóa lúc quá trưa, chùm chìa khóa vẫn nằm trong túi trong áo ông.
Bào ngồi ở bậc thềm, một chân duỗi ngang chắn lối như mọi khi, và nhìn thấy hai người thì nó đứng bật dậy nhưng không chạy ra, chỉ hất đầu về phía trong kho, mặt khó tả.
Đức đứng dựa khung cửa, tay còn cầm một tờ giấy gấp đôi, ngón trỏ và ngón giữa dầm mực đen tới đốt thứ hai, thứ mực chưa kịp rửa của một ngày ngồi đọc giấy thuê.
Bên trong, dưới ngọn đèn đá ông Hoạch vẫn bật một ngọn, đủ soi mặt bàn chứ không soi mặt người, Hoa Gia ngồi trên cái ghế đẩu của Nam, hai tay đặt trên đùi, không cầm gì cả.
Lần đầu tiên Nam thấy bụi trên người cô. Cái nước da trắng vẫn lạc lõng ở Hạ Khê như mọi lần, nhưng chiều nay nó có một vệt xám mờ chạy dọc gò má bên phải, thứ bụi đường bám vào rồi bị mồ hôi kéo xuống, và cô không biết nó ở đó. Cô cũng đang ngồi tựa lưng vào tường, điều cô chưa từng làm. Trong ánh đèn hắt lên từ mặt bàn, Nam nhận ra một chuyện cậu đã tưởng sai suốt từ lần gặp đầu: cô không lớn tuổi như cậu vẫn nghĩ. Cô chỉ mệt hơn cái tuổi của mình.
"Cô vào bằng đường nào?" Ông Hoạch hỏi.
"Cửa sau. Chốt gỗ, đẩy lên là ra." Hoa Gia đứng dậy. "Ông nên thay cái chốt."
Rồi cô quay sang Nam, và không mất một câu nào để hỏi thăm.
"Bảy ngày nữa có người của Sổ Cái xuống đối chiếu toàn khu. Tôi biết từ ba hôm trước, tôi đi Kim Đài để chắc chắn nên mới về muộn." Cô nói. "Cái bản kê cậu đưa tôi thiếu bốn dòng. Từ hôm đó tới giờ nó chỉ là chuyện giữa tôi với cậu. Bảy ngày nữa thì không phải nữa."
Cô nhìn thẳng vào cậu.
"Tôi cần biết bốn dòng đó là gì, trong đêm nay."