🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← Trăm Huyệt Một Xác

Q1·Ch.3: Bảy Cái Bóng Trở Về

📖 Quyển 1: TRĂM HUYỆT MỘT XÁC

~12 phút đọc · 2263 từ · · ⚠️ Báo cáo

Chương 3: Bảy Cái Bóng Trở Về

Đoàn quân hồi kinh kéo dài gần một dặm đường, không rầm rộ như lúc xuất chinh. Cờ xí đã cuộn lại cất trong bao vải, chỉ còn tiếng chân đi lê thê trên nền đất khô nứt nẻ của con đường quan đạo, và tiếng xe chở thương binh cọt kẹt sau mỗi ổ gà. Không ai hát. Người ta chỉ còn đủ sức để bước, để nhìn về phía trước, nơi dãy núi đá vôi bao quanh Hoa Lư còn cách ba ngày đường nữa mới hiện ra trong bóng tối đặc quánh của đêm thung lũng.

Một con ngựa trạm phi hỏa tốc xé sương mù lao vút qua đoàn quân theo chiều ngược lại, tiếng móng sắt nện xuống đá hộc gấp gáp rồi mất hút vào bóng đêm mà không một lời giải thích. Chưa ai trong đoàn người lê bước trên quan đạo này biết rằng, vào chính khoảnh khắc ấy tại điện yến tiệc Hoa Lư, Đinh Tiên Hoàng đã gục xuống trên ngai vàng đẫm máu.

Trạm gác biên nằm lọt giữa hai vách đá, chỉ đủ chỗ cho một cỗ xe đi lọt. Nguyên Phong khập khiễng bước tới, chân trái vẫn còn quấn băng vải tẩm dấm từ vết thương ở Nam Cương, mắt nhìn quanh tìm chỗ đổi phiên gác.

Một bóng người ngồi thu lu trên tảng đá cạnh trạm, áo tơi lá cọ phủ gần kín mặt, tay đang mài lại lưỡi dao găm bằng một hòn đá cuội. Nguyên Phong chưa kịp lên tiếng, bóng người đã nói trước, không thèm ngẩng đầu lên.

"Xê ra. Đứng chắn cả lối."

Nguyên Phong sững lại, không quen bị ra lệnh bởi một kẻ không mặc quân phục. "Tôi là lính của..."

"Biết rồi. Lính triều đình." Bóng người vẫn mài dao, giọng cộc lốc không chút nể nang. "Non choẹt, đi đứng còn khập khiễng mà đã vác thương ra trận. Ai cho ngươi cầm giáo vậy?"

Nguyên Phong đỏ mặt, định cãi lại thì người kia đã đứng dậy, gạt vành nón lá cọ lên. Một khuôn mặt gầy, rám nắng, ánh mắt sắc như mũi tên vừa bắn ra khỏi dây cung — An Nhiên.

"Đường lên trạm gác trên kia." Cô hất cằm về phía một khe đá hẹp, không buồn giải thích thêm, xách nỏ liên châu bước đi trước, để lại Nguyên Phong đứng ngẩn giữa đường, vừa tức vừa không hiểu vì sao mình lại tức.

Cậu lê chân theo sau, giữ khoảng cách vừa đủ để không bị coi là bám đuôi. "Cô... người ở đây à?"

"Sinh ra ở đây. Lớn lên ở đây." An Nhiên không quay đầu lại. "Còn ngươi, sinh ra để làm gì mà giờ khập khiễng thế kia?"

Nguyên Phong không trả lời được ngay. Câu hỏi tưởng đùa cợt lại chạm đúng vào một chỗ cậu chưa từng dám tự hỏi mình.

Một lúc sau, cậu mới tìm lại được giọng. "Cô là dân tự do ở đây, sao lại đi theo đoàn quân này về tận Hoa Lư?"

An Nhiên khịt mũi, không quay lại. "Trên có lệnh điều thám mã bản xứ áp tải đoàn thương binh. Không vì hai vò muối hạt trả cho bản ta, ta thà ở nhà bẫy rái cá còn hơn."

Cô rảo bước nhanh hơn, coi như câu chuyện đã xong.

Bóng chạng vạng đổ gục xuống con đường quan đạo, nhuộm lớp bụi đất đỏ quạch thành một dải khói mỏng bám riết lấy đoàn người. Bụi len vào từng kẽ móng chân rách nát của đám thương binh đi chân đất, kết lại thành từng mảng khô cứng lẫn với máu cũ đã sẫm màu. Có kẻ đi khập khiễng vài bước lại dừng, cúi xuống gõ gõ gót giày vào vệ đường cho bong bớt lớp đất bết, rồi lại lầm lũi bước tiếp, không một tiếng than.

Bánh xe gỗ của đoàn xe thương binh nghiến lên lớp đá dăm rải mặt đường, phát ra tiếng cọt kẹt đều đặn đến phát ốm, kéo dài không dứt suốt cả dặm đường như một thứ nhịp trống hành xác. Trục xe khô dầu kêu ken két mỗi khi lăn qua ổ gà, hất người bệnh nằm bên trong xô nghiêng, bật ra những bị nuốt lại ngay sau đó. Mồ hôi trộn bụi bám thành lớp cáu trên gáy, trên lưng áo bạc màu của những người kéo xe, khô lại rồi lại ướt, không ai còn buồn lau.

Rầm!

Bánh xe gỗ của một cỗ xe chở thương binh trượt mạnh rồi sụt hẳn xuống một rãnh đất sâu cắn ngang quan đạo. Tiếng trục xe nứt toác vang lên khô khốc. Cả đoàn người khựng lại. Mưa xói lở làm lộ ra hai bên vách rãnh những mảng đất nện đen quánh, gồ gề những vệt gốm thô vỡ đâm chớm ra ngoài và mẩu xương mủn bở.

Nguyên Phong lết tới, quỳ một chân xuống bùn khô, dùng tay không cào mảng đất cứng quanh bánh xe. Đầu ngón tay cậu cọ rách da vào một gờ kim loại lạnh ngắt. Cậu giật mạnh nó ra khỏi vách đất — một mũi tên đồng ba cạnh rỉ xanh đóng vón, gãy mất một ngạnh, đanh và sắt lại, không giống thứ đất thông thường xung quanh.

Nguyên Phong không buồn bận tâm nó từ đâu ra, ném bộp mũi tên gỉ trở lại rãnh bùn, nhổ toẹt ngụm nước bọt đặc quánh, rồi ghé bả vai đang rỉ máu vào đuôi xe.

"Một, hai... lên!"

Cỗ xe nhích lên, cán nát vụn những mảnh gốm cổ, nặng nề lăn tiếp về phía trước.

Cách đó vài trăm bước, giữa đoàn xe thương binh, Lôi Chấn đang giúp một người lính khác buộc lại dây thừng cho cỗ xe chở đá lửa và lương khô. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo, nhưng tay ông vẫn thoăn thoắt, thắt nút gọn gàng như thể đang buộc dây cung chứ không phải dây thừng chở hàng.

"Còn nhớ tao không?"

Giọng nói cất lên phía sau khiến Lôi Chấn khựng tay. Ông quay lại, thấy một gã đàn ông cởi trần, da đen bóng như gỗ mun ngâm nước, đang đứng chắn ngang lối đi, hai tay khoanh trước ngực.

Lôi Chấn nheo mắt một lúc, rồi giãn ra. "Ba Hắc."

"Còn nhớ là tốt." Ba Hắc cười, để lộ hàm răng trắng lóa giữa khuôn mặt rám nắng. "Mày nợ tao một mạng, quên rồi à? Cái đận vượt sông Đáy năm nào, không có tao thò tay kéo, mày đã làm mồi cho cá trê từ lâu."

"Không quên." Lôi Chấn đáp cụt lủn, nhưng khóe miệng khẽ nhếch lên — thứ biểu cảm hiếm hoi mà không mấy ai từng thấy ở ông.

Ba Hắc ngồi thụp xuống bên vệ đường, nhặt một cọng cỏ khô nhai nhai, mắt nhìn xa xăm như đang lôi lại thước phim cũ. "Đêm đó nước lũ đỏ ngầu, sủi bọt trắng như máu loãng." Hắn nhổ cọng cỏ đi, im lặng một nhịp. "Mày mặc cái giáp nẹp mây chết tiệt đó. Ngấm nước xong nặng như đeo đá cối, kéo mày thẳng xuống đáy."

Lôi Chấn không nói gì, chỉ siết nhẹ dây thừng trong tay.

"Tao lặn xuống." Ba Hắc giơ bàn tay đen sạm, chi chít sẹo cũ, nắm lại thành nắm đấm. "Với được tóc mày. Kéo. Không kéo được thì lôi." Hắn nhún vai, coi như thế là hết chuyện. "Lên tới bè nứa mày còn sặc nước tới nửa canh giờ. Tao tưởng mày ngỏm rồi chứ."

"Mày theo đoàn này làm gì?" Lôi Chấn hỏi, giọng vẫn cộc như thường, nhưng ánh mắt dừng lại trên bàn tay sẹo ấy hơi lâu hơn bình thường. "Nghe nói dân sông nước bọn mày ghét lính tráng lắm mà."

"Khế ước." Ba Hắc nhún vai, giọng thản nhiên như đang nói về thời tiết. "Làng tao đổi lấy miễn thuế ba năm. Có vài chuyến đưa hàng qua sông ngầm cho triều đình, xong việc là biến."

Lôi Chấn gật đầu, không hỏi thêm. Trong đoàn quân này, không ai hỏi kỹ lý do người khác có mặt — hỏi nhiều chỉ tổ phải trả lời nhiều.

Phía cuối đoàn, một cỗ xe nhỏ hơn hẳn những cỗ xe chở lương, kéo bởi một con la độc, có mui vải che kín. Bên trong, một viên quan mặc áo the xám ngồi khom lưng bên chiếc án thấp, tay cầm bút lông, chấm mực rồi viết xuống một cuốn sổ tre gập đôi.

Ông ta không nhìn ra ngoài. Nhưng qua khe hở của tấm mui vải, ông vẫn có thể thấy rõ từng người đi ngang — Nguyên Phong khập khiễng theo sau An Nhiên, Lôi Chấn đang cười nói với một gã cởi trần da đen bóng.

Bút lông lướt nhanh trên giấy, không dừng lại lâu ở bất cứ cái tên nào. Viết xong một dòng, ông gấp trang sổ lại, cất vào trong tay áo, rồi vén một góc rèm nhìn ra xa hơn, về phía đoàn người đang tiếp tục lê bước.

Không ai trong đoàn quân để ý đến cỗ xe nhỏ ấy. Nó chỉ là một trong hàng chục cỗ xe chở đồ tiếp tế, chẳng có gì đáng nhìn.

Đêm xuống, đoàn quân dừng chân bên một khúc sông cạn, dựng trại tạm bằng những tấm bạt vải căng vội. Lửa trại nhỏ, chỉ đủ nấu cháo, không dám đốt lớn vì sợ lộ vị trí giữa vùng đất còn lởn vởn tàn quân Chiêm chưa dẹp hết.

Nguyên Phong ngồi một mình bên đống lửa nhỏ của tổ mình, tay lơ đãng xoay xoay đoạn dây gai buộc lại cán thương câu liêm đã sờn. Cậu ngước lên khi thấy An Nhiên đi ngang, tay xách một con cá vừa bắt được dưới khúc sông cạn.

"Cô ăn chung không?" Cậu hỏi, giọng ngập ngừng, chìa ra nửa bát cháo còn lại của mình.

An Nhiên dừng chân, nhìn cậu một lúc lâu như đang cân nhắc điều gì đó không liên quan gì đến bát cháo. "Ngươi cho không công à? Ở đầm lầy, không ai cho không cái gì."

"Ở đây không phải đầm lầy."

"Ở đâu cũng vậy cả thôi." An Nhiên đáp, nhưng cuối cùng vẫn ngồi xuống, ném con cá vào đống than hồng bên cạnh nồi cháo, không nhìn thẳng vào cậu nữa.

Hai người ngồi im lặng một lúc, chỉ có tiếng lửa tí tách và tiếng cá nướng bắt đầu xèo xèo mỡ chảy xuống than. Từ xa, tiếng Lôi Chấn và Ba Hắc vẫn còn văng vẳng, xen lẫn tiếng cười khàn đặc của cả hai bên đống lửa khác.

Không ai trong số họ biết rằng, trong cỗ xe nhỏ cuối đoàn, một trang sổ tre vừa được gấp lại — bên dưới nét mực còn chưa kịp khô là tên Lôi Chấn, Nguyên Phong, Ba Hắc, và một dòng ghi vội về cô gái đeo nỏ liên châu vừa chạm mặt ở trạm gác biên. Bốn cái tên xếp liền nhau, như bốn quân cờ vừa lọt vào tầm ngắm của một bàn tay còn ở rất xa, tít tắp tận kinh kỳ.

Gió đêm thổi qua khúc sông cạn, mang theo hơi lạnh của núi đá vôi phía xa — nơi ba ngày nữa đoàn quân này sẽ đặt chân tới, để nhận ra Hoa Lư họ rời đi không còn là Hoa Lư họ sắp trở về. Đêm nay trời tối và lạnh hơn thường lệ. Gió từ dải núi đá vôi phía xa thổi về mang theo mùi diêm sinh đắng ngắt của trận mưa sương, nhưng không một ai bên đống lửa nhỏ biết tại sao...

[Chú giải từ vựng Chương 3]

Quan đạo: Con đường lớn do triều đình đắp và quản lý, dùng cho việc hành quân, vận chuyển lương thảo hoặc ngựa trạm truyền tin giữa các địa phương.
Nỏ liên châu: Loại nỏ cải tiến có hộp chứa tên, cho phép bắn liên tiếp nhiều mũi tên (bản của An Nhiên là loại 5 mũi) nhờ hệ thống lẫy gạt tháo lắp nhanh.
Con la độc: Cách gọi một con la duy nhất được dùng để kéo xe dã chiến nhỏ, thường biểu thị sự đơn độc, giản tiện của chuyến đi.
Áo the xám: Trang phục làm bằng vải the mỏng màu xám, thường dành cho giới quan lại cấp thấp hoặc thư lại lo việc ghi chép sổ sách hành chính.
Khế ước: Văn bản/lời cam kết có tính ràng buộc giữa hai bên — ở đây là thỏa thuận đổi công sức lấy quyền lợi (miễn thuế, muối hạt) giữa triều đình và các cộng đồng dân gian.
Bản xứ: Người thuộc về một vùng đất cụ thể từ nhiều đời, am hiểu địa hình/phong tục địa phương — ở thế kỷ 10, khái niệm này thường gắn với các cộng đồng sống ngoài lề hệ thống hành chính trung ương (như người Mường cổ vùng Tràng An).
Giáp ngực nẹp mây đan: Loại áo giáp của Lôi Chấn, làm từ mây tre đan nẹp cứng, bền chắc khi khô nhưng ngấm nước thì trở nên rất nặng, dễ kéo người mặc chìm xuống nước.

💬 Bình luận (0)