🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

2 | BÀI 2: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CON ĐƯỜNG TU LUYỆN ĐẠO PHÁP

~33 phút đọc · 6480 từ · · ⚠️ Báo cáo

BÀI 2: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CON ĐƯỜNG TU LUYỆN ĐẠO PHÁP

Thuở vũ trụ còn trong buổi bình minh u mịt, bão tố, dịch bệnh và ác thú gieo rắc kinh hoàng khắp cõi đất. Phàm nhân yếu ớt không hề hay biết cỗ máy năng lượng tiềm ẩn bên trong thân xác mình. Để sinh tồn, họ tin vào Con Đường Hương Hỏa Nguyện Lực.
Bản chất của Hương Hỏa là một giao dịch khí vận sơ khai: con người dùng lòng tin, sự tôn thờ và dâng nộp sinh khí truyền cho một Thần linh bảo hộ (Thần sông, Thần núi, hoặc anh linh anh hùng tử trận). Thần nhận nguyện lực để tích tụ sức mạnh, đổi lại sẽ ban phát sự bảo hộ cũng như sức mạnh. Tuy nhiên tầm ảnh hưởng của Thần chỉ giới hạn ở một vùng đất, anh linh anh hùng hay những người có xương máu muốn trở thành thần có thể dần tha hóa, và quan trọng nhất, phàm nhân vĩnh viễn là cỗ máy nạp khí của thần.
Từ cái nôi Trung Nguyên rộng lớn cho đến dải đất Bách Việt phương Nam hay Triều Tiên, vô số bộ tộc đã bị diệt vong khi Thần linh bỏ rơi hoặc nổi giận. Nhận ra việc sinh tồn không thể đặt vào tay kẻ khác, những trí tuệ kiệt xuất cổ đại đã quyết định quay lưng với con đường thần đạo để tự khai phá bản thân.
Rất lâu trước thời Viêm Đế và Hoàng Đế, một vị đại học giả kiệt xuất sau này được tôn là Hồng Quân, cùng ba người bạn đồng tri âm (người đời sau tôn là Thái Thanh, Ngọc Thanh, Thượng Thanh - Ba Thanh) đã hội tụ. Họ là một nhóm nghiên cứu khoa học khởi nguyên.
Từ việc quan sát vô số thi thể phàm nhân chết vì thiên tai và bị Thần linh rút cạn khí huyết, nhóm Hồng Quân đã đi đến một kết luận chấn động: Thân xác con người chính là một tiểu vũ trụ chứa đựng nguồn năng lượng vô tận.
Họ đúc kết ra bộ khung lý luận nguyên thủy kinh điển: Luyện Tinh hóa Khí → Luyện Khí hóa Thần → Luyện Thần phản Hư → Luyện Hư hợp Đạo.
Hồng Quân đóng vai trò kiến trúc sư trưởng, đưa ra tư tưởng. Nhưng bộ khung này thời bấy giờ chỉ là một giả thuyết lý thuyết thuần túy, một tấm bản đồ vẽ ra thiên đường nhưng hoàn toàn thiếu phương pháp thực thi. Để biến 4 câu lý luận ấy thành kỹ thuật hiện thực, nhân loại đã phải trải qua hàng ngàn năm sai - sửa tàn khốc.
Khi lý thuyết "Luyện Tinh hóa Khí" ra đời, giới học giả cổ đại rơi vào hoang mang vì không biết "Khí" chui vào cơ thể bằng đường nào. Hai phái nghiên cứu lớn nhất thời đó đưa ra 2 học thuyết khác nhau:
Phái Thác Du (Dẫn Khí Ngoại Cảnh): Cho rằng Khí tồn tại ngoài trời đất, chỉ cần dùng ý chí cưỡng ép hút Khí qua các lỗ chân lông. Họ bắt hàng trăm tù binh ngồi dưới các hang động nồng độ khí cao để vận khí. Kết quả: Khí chạy loạn trong thịt, làm vỡ toàn bộ mạch máu nhỏ, cơ thể biến thành những khối thịt bầm tím rồi bạo thể mà chết.
Phái Khai Huyệt (Châm Cứu Khai Mở): Cho rằng trong thân xác có các ống dẫn bị tắc, phải dùng ngoại lực đâm thủng da thịt để dọn đường. Họ dùng kim bạc nung đỏ đâm mù quáng vào ngực và lưng vật thí nghiệm, khiến hàng ngàn người chết vì nhiễm trùng, mất máu và thủng nội tạng.
Bước ngoặt không đến từ những phái tu luyện mà lại đến từ những kinh nghiêm dân gian truyền miệng bao đời của tộc Viêm Đế Thần Nông Thị tương truyền rằng năm đó thấy bộ khung của Hồng Quân quá mơ hồ, Viêm Đế Thần Nông Thị đã đặt viên gạch thực tiễn đầu tiên bằng nỗi đau tận cùng của dân tộc mình. Để tìm hiểu sự tương tác giữa khí tự nhiên với phàm thể, Thần Nông Thị đích thân dấn thân vào chốn ngàn cơi nếm trăm thứ cỏ cây. Không dừng lại ở y học, tộc Viêm Đế qua bao đời đã bí mật thực hiện một đại nghiệp tàn khốc: Giải phẫu sống để tìm kiếm đường đi của năng lượng.
Trong các hang đá sâu thẳm vùng núi phía Nam, vô số tù binh chiến tranh lẫn các tộc nhân tự nguyện dấn thân vì chân lý đã bị xẻ thịt, phanh ngực khi tim vẫn còn phập phồng co bóp. Người xưa cắm các ống trúc rỗng vào từng thớ thịt, mạch máu để quan sát xem khí trong thảo dược di chuyển thế nào khi con người còn hơi thở. Máu nhuộm đỏ vách đá, xác chất thành muôn gò đống. Từ đống xương máu rùng rợn qua hàng thế kỷ ấy, tộc Viêm Đế đúc kết nên những bản vẽ thô sơ đầu tiên về hệ thống kinh lạc.
Tuy nhiên nó mới chỉ giải quyết được câu hỏi hình dạng luồng khí di chuyển trong cơ thể chứ chưa kết nối được 2 thực thể là khí tu luyện và cơ thể người vào với nhau.
Sau trận chiến Trác Lộc, tộc Viêm Đế Thần Nông thị hòa huyết với tộc Hoàng Đế. Thần Nông thị qua nhiều đời nếm thảo dược đã phát hiện dược tính làm co giãn các đường dẫn ngầm. Hoàng Đế cùng hiền y Kỳ Bá, Bá Gao, Quỷ Du Khu đã thành lập nhóm nghiên cứu giải phẫu quy mô nhất lịch sử tại Tuyên Diên.
Nhóm Kỳ Bá dùng giải phẫu thi thể tươi kết hợp tiêm dung dịch khoáng chất vào mô liên kết của tù binh còn sống để theo dõi sự lan truyền năng lượng. Họ chứng minh cả hai phái trước đều sai dựa vào kinh nghiệm tộc Viêm cùng những thí nghiệm của riêng mình: Khí không đi tự do trong thịt rỗng, mà đi theo hệ thống kinh lạc. Công trình Hoàng Đế Nội Kinh (Phần Linh Khu) ra đời, chuẩn hóa sơ đồ Luyện Khí. Chia luyện khí thành các thứ tự các mạch cần khai mở
Sơ kỳ: Đả thông 12 Mạch Chính Kinh (hai bên cơ thể đối ứng).
Trung kỳ: Đả thông 2 mạch Nhâm - Đốc, bắt đầu vận hành Tiểu Chu Thiên (vòng tuần hoàn khí cơ bản).
Hậu kỳ: Đả thông 2 mạch Xung và Đới.
Viên mãn: Đả thông nốt 4 mạch Kỳ Kinh còn lại. Tu sĩ có thể chọn đả thông thêm Mạch Cân, Mạch Biệt, Mạch Lạc.
Đại viên mãn: Đả thông toàn bộ không sót một nhánh nhỏ (Thực tế không ai rảnh rỗi làm vì tốn thời gian mà hiệu quả không gia tăng đáng kể).
Bản chất cảnh giới này là quá trình cơ học hóa hệ thống dẫn khí, đào các con kênh rạch trên vùng đất khô hạn để chuẩn bị đón nước lũ.
Tuy nhiên nhiều người Nút Thắt Tắc Nghẽn (Kinh Lạc Tắc Bế) do độc tố phàm trần tích tụ. Ép khí xộc qua khi chưa giải phóng nút thắt sẽ làm vỡ nát kinh mạch. Nên các học giả về sau kết luận rằng tu luyện càng sớm càng tốt
Hoàng đế đương thời đặt tên cảnh giới và tổng thể con đường tu luyện này là luyện khí. "Luyện" là nhào nặn; "Khí" là năng lượng thô. Tên gọi phản ánh việc dùng ý chí mài giũa để đưa khí tự nhiên vào vận hành trong thân thể.
Khi đã có kinh mạch, thảm kịch mới xuất hiện: Lưu lượng Khí tăng lên khiến đường kinh mạch mong mỏng bị căng xé. Hàng vạn tu sĩ Luyện Khí Viên Mãn thời Ân Thương bị đứt mạch máu nội tạng mà chết. Giới học giả lại chia làm hàng chục trường phái trong đó có 2 trường phái lớn khả thi nhất:
Phái Dãn Mạch (Nhu Mộc Phái): Cho vật thí nghiệm uống các loại nhựa cây co giãn mạnh kết hợp nạp khí áp suất cao để kéo dãn đường kính kinh mạch. Kết quả: Kinh mạch biến dạng thành các túi khí phình to, biến cơ thể người thành những khối u dị dạng, mất hoàn toàn khả năng vận khí.
Phái Đinh Thần (Cố Bản Phái): Các vu sư nhà Thương dùng đinh đồng khắc bùa đâm thẳng vào xương sống vật thí nghiệm để "cố định kinh mạch". Hàng ngàn người bị liệt hoàn toàn nửa thân dưới hoặc tử vong ngay tại chỗ.
Thời Thương - Chu tranh hùng, Chu Văn Vương (Cơ Xương) bị giam 7 năm tại ngục Dữu Lý. Ông cùng các đại thần bí mật như Tán Nghi Sinh, Hoành Yêu phân tích cấu trúc ứng lực của tự nhiên và nhận ra: Kinh mạch giống như dòng sông, muốn chịu lực phải xây dựng các "van xả áp" và "trạm bơm" trên suốt tuyến đường. Các van đó chính là Huyệt Vị.
Sau khi nhà Chu thành lập, Khương Tử Nha hay Tề Thái Công lập viện nghiên cứu "Hạ Cung" tại đất Tề. Ông dùng dòng điện nhẹ từ đá sấm (lôi thạch) và ngân châm truyền dẫn để dò tìm các điểm phản ứng sinh học dọc kinh mạch, chính thức xác định vị trí và chức năng của hệ thống Huyệt Vị.
Khương tử nha viết tiếp thiên trúc cơ cho con đường tu luyện của con người
Sơ kỳ: Gia cố, làm dầy thành của các kinh mạch đã đả thông ở cấp Luyện Khí.
Trung kỳ: Mở rộng kích thước đường ống, kích hoạt chức năng van điều áp (huyệt) ở Mạch Chính và Nhâm - Đốc.
Hậu kỳ: Kích hoạt chức năng huyệt ở tất cả các mạch còn lại.
Viên mãn: Kích hoạt thêm một số huyệt thuộc nhóm Ngoài Mạch (Kỳ huyệt).
Đại viên mãn: Kích hoạt toàn bộ nhóm huyệt ngoài mạch (không bắt buộc).
Bản chất đây Là quá trình kỹ thuật kết cấu và gia cố. "Trúc Cơ" nghĩa là "Xây móng nhà" — chuyển đổi hệ thống đường dẫn thô thành hệ thống chịu áp lực cao.
Trong quá trình này có nhiều tu sĩ bị Xơ Hóa Huyệt Vị (Huyệt Vị Khóa Bế). Khí tụ lại ở cổng huyệt nhưng huyệt không chịu mở ra để biến đổi chức năng, gây tích áp dồn nén đau đớn như bị ngàn kim đâm.
Khương Tử Nha lấy từ trúc cơ từ thuật ngữ xây dựng cổ đại (đầm nền, đổ móng). Không có móng vững, cỗ máy năng lượng phía trên chắc chắn sụp đổ.
Khi kinh mạch và huyệt vị đã vững chắc, tu sĩ gặp phải giới hạn: Khí dạng hơi chiếm thể tích quá lớn, chiến đấu vài chiêu là cạn sạch Đan Điền, thiêu đốt tuổi thọ. Họ cần một loại khí có mật độ nén cao hơn và một hạt nhân lưu trữ khổng lồ.
Thời kỳ này diễn ra những Thảm cảnh như "Nuốt Ngoại Đan". Phái Luyện Kim đúc các viên đan bằng kim loại (vàng, thủy ngân, lưu huỳnh) rồi bắt người nuốt vào bụng làm "hạt nhân". Thảm kịch này kéo dài hàng trăm năm, đỉnh điểm là thời Tần Thủy Hoàng. Hàng vạn phương sĩ và đồng nam đồng nữ nuốt "Tử Kim Đan", "Thủy Ngân Đan" đã chết trong đớn đau vì ngộ độc kim loại nặng, thối rữa ruột gan, vách Đan Điền bị thủng bạo liệt.
Cùng lúc đó Phái Nội Khí đưa ra giả thuyết nén trực tiếp khí thô vào Đan Điền. Tuy nhiên khí thô hỗn loạn tự do giãn nở nhiệt, làm nổ tung toàn bộ vùng bụng dưới của hàng ngàn tu sĩ.
Tại Học viện Tắc Hạ, Trâu Diễn nhận ra sai lầm: Khí thô không thể tự nén nếu không có "Chất Kết Dính Tương Thích". Ông dùng Âm Dương Ngũ Hành phân tách thành Thập Đại Bản Nguyên Khí và liên kết với Bát Tự để tính toán mức độ tương thích khí của từng cá nhân.
Người biến lý thuyết của Trâu Diễn thành công thức thực tiễn hoàn chỉnh cho hệ thống Kim Đan Đặc Thù là nhóm học giả Đạo gia thời Đông Hán - Ngụy Tấn: Trương Đạo Lăng và Cát Hồng.
Cát Hồng viết Phao Phủ Tử, khẳng định Ngoại Đan chỉ là công cụ dẫn dắt. Nhóm nghiên cứu cho tu sĩ đo Bát Tự bản thân phù hợp với từng hành như nào. Họ chứng minh: Muốn ngưng tụ Kim Đan phải dùng công thức di chuyển khí qua các bộ phận huyệt trên cơ thể nhằm chuyển hóa Khí thô thành Khí Tu Luyện Đặc Thù. Khí đặc thù này khi nén đến cực đại trong 3 Đan Điền, kết hợp với thiên tài địa bảo tương thích sẽ tự động đúc thành Kim Đan Đặc Thù ( như Hải Trung Kim, Lư Trung Hỏa, Tích Lịch Hỏa...).
Trương Đạo Lăng là người viết tiếp kim đan thiên cho con đường tu luyện
Sơ kỳ: Gia cố lại huyệt và mạch, dẫn khí theo công thức Bát Tự đặc thù để tạo ra Khí Tu Luyện Đặc Thù.
Trung kỳ: Mở rộng dung tích 3 Đan Điền (Hạ, Trung, Thượng) tiến dần đến cực đại bằng Khí Đặc Thù.
Hậu kỳ: Gia cố vách Đan Điền, lấp đầy toàn bộ 3 Đan Điền bằng Khí Đặc Thù.
Viên mãn (Dành cho loại Kim Đan Đặc Thù): Sử dụng Thiên Tài Địa Bảo kết hợp nồng độ cực lớn Khí Đặc Thù để đúc nên hạt nhân Kim Đan Đặc Thù.
Đại viên mãn: Gia cố cốt lõi Kim Đan Đặc Thù đạt trạng thái siêu bền vững.
Bản chất đây là quá trình Phản Ứng Hóa Học & Nén Năng Lượng cấp hạt nhân. Biến năng lượng dạng khí lỏng lẻo thành dạng đặc thù có tính chất riêng biệt, lưu trữ trong Đan Điền.
Tuy nhiên lý thuyết không tính đến Sự Kháng Cự Của Đan Điền. Vách Đan Điền không chịu giãn nở, hoặc Khí Đặc Thù xung đột với Bát Tự sinh ra hiện tượng "Cực Hạn Ngũ Hành" làm ngưng trệ quá trình ngưng tụ.
Trương Thiên sư đặt Tên gọi là Kim đan chủ ý rằng "Kim" là biểu thị sự quý giá, kiên cố, không biến chất; "Đan" là hạt nhân viên tròn chứa đựng tinh hoa.
Khi phàm thể đã hoàn thành việc cải tạo kinh mạch, huyệt vị và tích tụ Khí Tu Luyện Đặc Thù ở Kim Đan, giới tu sĩ chạm phải bức tường kiên cố: Khí dẫu nén ở dạng Kim Đan hay Đan Điền vẫn chỉ là vật chất hữu hạn.
Nghệ thuật tu tiên từ đây chính thức bước sang giai đoạn Bán Linh — giai đoạn không còn dựa vào cái có sẵn của phàm thể nữa, mà đột phá tạo ra một cấu trúc năng lượng hoàn toàn mới, rồi từ cấu trúc mới đó tiến tới cảm nhận quy tắc thế giới và nén khí vượt cấp.
Khi Kim Đan đạt trạng thái cực đại, tu sĩ nhận ra vùng Hạ Đan Điền đã không còn đủ không gian chứa nồng độ năng lượng ngày càng tăng. Giới học giả thời kỳ Nam Bắc Triều đưa ra 2 giả thuyết được đồng thuận cao
Phái thượng dẫn cho rằng phải kích nổ hoặc nén bạo lực toàn bộ Khí Đặc Thù từ Hạ Đan Điền xộc thẳng lên Thượng Đan Điền (Nê Hoàn Cung) để khai mở vùng não bộ.
Bên khác khăng khăng giữ khí ở Hạ Đan Điền, chỉ cố mở rộng bụng.
Thảm kịch nổ ra khi Phái Thượng Dẫn thực hiện các thử nghiệm cưỡng ép: Năng lượng áp suất cao từ Hạ Đan Điền khi xộc qua cột sống lên não đã làm đứt vỡ toàn bộ tủy sống của hàng ngàn tu sĩ. Não bộ không chịu nổi áp suất bị vỡ mạch máu, khiến hàng loạt cao thủ hóa thành kẻ điên dại, mất trí nhớ, hoặc đầu nổ tung tại chỗ.
Qua hàng ngàn năm đúc kết (kéo dài đến giai đoạn Ngũ Đại - Tùy Đường, các đại sư Nội Đan Học cùng các phương sĩ Mật Tông đã tìm ra kỹ thuật "Nén Áp Suất Cao & Dẫn Khí An Toàn".
Họ dùng hệ thống van huyệt vị Trúc Cơ đã gia cố làm điểm tựa chịu áp, khóa chặt các lối xả áp phụ, tạo thành một ống nén thủy lực tự nhiên đưa Khí Đặc Thù phóng thẳng lên Thượng Đan Điền mà không phá hủy cấu trúc não.
Tác giả viết thiên nguyên anh thời đó không rõ ràng, chỉ biết rằng nó được viết đại ý như sau
Sơ kỳ: Sử dụng toàn bộ Khí Tu Luyện Đặc Thù tích tụ ở Hạ Đan Điền từ bước Kim Đan, thực hiện quá trình Nén Áp Suất Cực Cao, sau đó cưỡng ép bộc phát, phóng xộc thẳng theo đường xung mạch lên Thượng Đan Điền (Nê Hoàn Cung) để đúc thành Nguyên Anh.
Trung kỳ là Dành cho người còn sống sau giai đoạn sơ kỳ: Tạo ra một hình thái Ý thức nằm ngoài vật chất. Cấu trúc này giúp tu sĩ có khả năng hấp thụ linh khí tự nhiên với tốc độ phi thường, nhưng điểm yếu chết người là tán khí cực kỳ nhanh. Do đó, Nguyên Anh vẫn bắt buộc phải bám rễ vào cơ thể phàm trần, dùng phàm thể làm bình chứa để lấp đầy năng lượng toàn bộ cơ thể.
Hậu kỳ: Phóng đại cơ thể năng lượng, bắt đầu quá trình gia cố, kiên cố hóa cấu trúc Nguyên Anh để chống lại sự tán khí tự nhiên.
Viên mãn: Nguyên Anh gia cố hoàn chỉnh, lấp đầy từng tế bào phàm thể, đạt trạng thái Bán Linh ổn định.
Đại viên mãn: Nguyên Anh có thể ngắn hạn vận hành độc lập mà không bị rò rỉ năng lượng ra ngoài môi trường.
Bản chất cảnh giới này là quá trình Nén Năng Lượng Áp Suất Cao & Tạo Cấu Trúc Ý Thức Phi Vật Chất.
Mặc dù được cho là chính thống nhưng con đường này lại không thực sự có nhiều người đi tiếp được do Sự sụp đổ Nê Hoàn Cung. Nếu áp suất nén ở Hạ Đan Điền không đủ, khí phóng lên sẽ dở dang gây liệt tủy; nếu áp suất quá cao mà Thượng Đan Điền chưa gia cố đủ, vòm não sẽ vỡ nát.
Học giả thời này đặt tên Nguyên anh với hàm ý "Nguyên" là gốc rễ, áp suất ban sơ; "Anh" là cấu trúc năng lượng mới sinh ra tại Thượng Đan Điền.
Khi Nguyên Anh ở Hậu kỳ đã được gia cố và lấp đầy cơ thể, tu sĩ chạm đến một trạng thái kỳ lạ: Cơ thể họ liên tục căng phồng năng lượng, nhưng họ không biết phải làm gì tiếp theo, đúng hơn là họ cảm thấy họ cần làm gì đó.
Hàng vạn tu sĩ Nguyên Anh Viên Mãn cố dùng lý trí phàm trần, đọc vạn cuốn kinh thư, ép bản thân phải "hiểu" về vũ trụ như 1 cách để nghiền nát sự bứt rứt trong người. Sự cưỡng ép nhận thức khiến Thượng Đan Điền bị quá tải thông tin, tâm hỏa bộc phát đốt cháy Nguyên Anh khiến tu sĩ phát điên. Trong khi đó Hàng trăm tu sĩ cố hút thêm khí ngoại cảnh khi phàm thể đã đạt giới hạn. Phàm thể không được gia cố nén nâng cấp kịp thời đã bị vỡ tung thành từng mảnh.
Trải qua hàng ngàn năm mò mẫm kéo dài sang thời kỳ Tùy - Đường cổ đại, các đại sư Đạo gia phối hợp với học giả Thiền Tông và các ẩn sĩ vùng núi cao đã phát hiện ra quy luật chấn động: Khái niệm "Tự Nhiên Vô Thức".
Họ chứng minh rằng: Việc nhận ra bản ngã và quy tắc thế giới không thể đến từ sự cưỡng ép suy nghĩ của tư duy phàm trần, mà phải diễn ra hoàn toàn trong trạng thái vô thức. Khi Nguyên Anh đã "no", tiềm thức sẽ tự động kết nối với quy tắc môi trường xung quanh.
Thiên hóa thần cũng không rõ tác giả, đại ý như sau
Tiền kỳ: Tu sĩ phải đạt đến trạng thái Cảm nhận Nguyên Anh đã "no" hoàn toàn. Lúc này, một cảm giác muốn tìm hiểu quy tắc thế giới (thấu hiểu bản chất "Mình là ai") sẽ tự động nảy sinh. Cốt lõi là mọi thứ phải diễn ra hoàn toàn trong vô thức, không dùng ý thức phàm trần cưỡng ép, để tiềm thức tự hòa nhập.
Hậu kỳ: Tu sĩ bắt đầu cảm nhận rõ ràng lượng Khí và Kiến thức quy tắc vượt quá mức chịu đựng của phàm thể hiện tại. Ngay lập tức, tu sĩ phải tiến hành gia cố toàn bộ phàm thể và nén Khí thành nồng độ cao hơn nữa (chuyển đổi mật độ năng lượng lên cấp độ dày đặc).
Viên mãn: Phàm thể thích nghi hoàn toàn với nồng độ khí mới dày đặc, Nguyên Anh và Thân Xác đạt độ dẻo dai tuyệt đối trước áp lực quy tắc.
Đại viên mãn: Nồng độ khí trong cơ thể đạt giới hạn tuyệt đối của Tầng Bán Linh, sẵn sàng rũ bỏ xác phàm để bước sang Tầng Linh.
Về bản chất cảnh giới này là Nhận Thức Bản Ngã Trong Vô Thức kết hợp với sự Nén Khí Nồng Độ Cao Cấp Độ Tế Bào.
Tuy nhiên nhiều người vì nôn nóng mà xảy ra "Tạp Niệm Can Thiệp" ở Tiền kỳ (ý thức cố can thiệp sẽ làm đứt đoạn cảm ngộ vô thức) và "Phàm Thể Rạn Nứt" ở Hậu kỳ (gia cố phàm thể không kịp với tốc độ nén khí nồng độ cao).
Cái tên Hóa thần chỉ "Hóa" là chuyển biến mật độ; "Thần" là sự thấu hiểu bản ngã sâu thẫm trong vô thức.
Sau khi Hóa Thần thành công, tu sĩ đối mặt với một bi kịch vật lý: Khí nồng độ cực cao ở Hóa Thần liên tục gặm nhấm, làm mục thối mô thịt và xương cốt phàm trần. Xác thịt không còn là "ngôi nhà" mà trở thành "chiếc lồng độc hại" giam hãm năng lượng.
Vào giai đoạn lịch sử tương ứng với thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc kéo dài đến đầu nhà Tống (khoảng hàng chục vạn năm tu tiên), một thảm cảnh gọi là "Thối Thể Ma Tai" diễn ra. Hàng vạn cao thủ Hóa Thần bị chính lượng khí siêu đặc trong người đốt cháy nội tạng, thịt da thối rữa nhưng không thể chết, gào tháo trong đau đớn hàng trăm năm.
Nhóm nghiên cứu do Trương Bá Đoạn (tác giả cuốn Ngộ Đạo Thiên kinh điển) cùng Thạch Thai Tố và Tuyết Đậu Trọng Hiển đại sư đã thực hiện nhiều cuộc thí nghiệm. Trương Bá Đoạn nhận ra: Không thể dùng dược liệu để chữa trị phàm thể được, cách duy nhất để sống tiếp là tự tay phá hủy nó và đảm bảo khả năng tự chữa lành có thể duy trì sự sống.
Trương Bá Đoạn viết trong Ngộ Đạo Thiên: Dùng Khí Tu Luyện Đặc Thù nén ở Hóa Thần làm "dao mổ", đi qua từng thớ thịt, chủ động ăn mòn và hủy diệt toàn bộ tế bào phàm thể (da, thịt, gân, xương). Ngay khi một phần phàm thể bị phá hủy, tu sĩ phải lập tức điều động Khí Đặc Thù lấp đầy vào khoảng trống đó để duy trì sự sống và định hình lại khung thể.
Sơ kỳ: Chủ động dùng Khí Đặc Thù phá hủy và thay thế hệ thống da, cơ bắp, mô mềm phàm trần.
Trung kỳ: Phá hủy và thay thế toàn bộ hệ thống xương, tủy và nội tạng phàm thể bằng Khí Đặc Thù.
Hậu kỳ: Phá hủy và thay thế hệ thống thần kinh cùng não bộ phàm thể, duy trì sự sống hoàn toàn bằng Khí Đặc Thù.
Viên mãn: Phàm thể gốc bị phá hủy, toàn bộ thân xác lúc này gần như là một vỏ bọc cấu thành từ Khí Đặc Thù.
Đại viên mãn: Khí Đặc Thù thay thế đạt trạng thái cân bằng sinh học, không còn bị rò rỉ hay sụp đổ cấu trúc.
Bản chất cảnh giới Sự Tái Cấu Trúc Sinh Học Nhờ Phá Hủy Bán Tự Nhiên. Dùng Khí Đặc Thù thay thế phàm thể để thoát khỏi giới hạn tuổi thọ phàm trần thông thường.
Tuy nhiên, nếu tốc độ phá hủy phàm thể nhanh hơn tốc độ Khí Đặc Thù lấp đầy và thay thế, tu sĩ sẽ t-ự sát hoàn toàn, thân xác tan thành vũng máu.
"Phản" là trở về, rũ bỏ; "Hư" là hư vô. Ý chỉ việc rũ bỏ thân xác phàm trần trở về dạng hư vô năng lượng.
Khi phàm thể đã bị thay thế hoàn toàn bởi Khí Đặc Thù ở Phản Hư, tu sĩ rơi vào trạng thái "Cơ thể bóng ma": Thân xác làm bằng khí dễ bị tán loạn khi gặp các trận bão năng lượng hoặc đòn đánh quy tắc. Khí Đặc Thù và Nguyên Thần vẫn là hai thực thể tách biệt, phao tin bất định.
Giai đoạn thời Bắc Tống - Nam Tống, các vị đại học giả như Lâm Lăng Sơ (người sáng lập Thần Tiêu Phái), Vương Văn Khanh cùng hòa thượng Huệ Chiếu ở vùng đất Bách Việt cổ đã dấn thân thử nghiệm.
Thảm cảnh thời này gọi là "Tán Linh Hóa Sương": Hàng ngàn tu sĩ Phản Hư khi cố gắng vận công mạnh đã bị Khí Đặc Thù trên người bung bét, Nguyên Thần văng ra ngoài, cơ thể sụp đổ thành một làn sương mù năng lượng rồi biến mất vĩnh viễn.
Bước ngoặt thực tiễn được Lâm Lăng Sơ viết cuốn Thần Tiêu Lôi Pháp Bí Bản, chỉ ra rằng: Khí Đặc Thù thay thế ở Phản Hư chỉ là "đất sét", muốn nó trở thành một "bức tượng đá kiên cố" phải dùng Nguyên Thần làm khuôn đúc và dùng nhiệt độ cao của thiên kiếp để thiêu kết.
Nhóm Vương Văn Khanh đã sáng tạo ra phương pháp "Linh Thể Đúc Kết": Đưa Nguyên Thần nung chảy, hòa tan hoàn toàn vào lớp vỏ Khí Đặc Thù, ép hai thứ nén chặt vào nhau ở cấp độ vi mô để đúc thành một cấu trúc mới gọi là Linh Thể.
Ông ấn định phương pháp tu luyện trong hợp thể thiên
Sơ kỳ: Hòa tan Nguyên Thần vào lớp vỏ Khí Đặc Thù ở vùng đầu và ngực.
Trung kỳ: Ép Nguyên Thần đan xen vào Khí Đặc Thù ở toàn bộ tứ chi và hệ thống kinh mạch linh năng.
Hậu kỳ: Tiến hành thiêu kết và cô đọng, đúc toàn bộ cơ thể thành một khối Linh Thể đồng nhất (không còn phân biệt đâu là thịt khí, đâu là ý thức Nguyên Thần).
Viên mãn: Linh thể đúc hoàn tất, đạt độ cứng dẻo vượt xa mọi loại kim loại phàm trần, năng lượng lưu thông không gặp bất kỳ trở lực nào.
Đại viên mãn: Linh thể có khả năng tự thu nhỏ hoặc phóng đại nhẹ nhờ sự co giãn của cấu trúc linh năng.
Đây là kỹ Thuật Đúc Kết Sinh Thể Năng Lượng Đẳng Cấp Cao. Hợp nhất hoàn toàn Nguyên Thần và Khí Đặc Thù làm một khối vĩnh cửu.
"Hợp" là hòa quyện; "Thể" là thân xác. Hợp Thể nghĩa là hòa quyện ý thức và năng lượng thành một thể duy nhất.
Đúc xong Linh Thể, tu sĩ đã là một sinh thể năng lượng cực kỳ vững chắc. Tuy nhiên, trong quá trình thiêu kết tàn khốc ở Hợp Thể, bề mặt và cấu trúc bên trong Linh Thể để lại vô số "vết rạn nứt linh năng" ngầm. Những vết rạn này nếu không được vá sẽ khiến Linh Thể bị nổ tung khi tiếp xúc với áp lực vũ trụ.
Đồng thời, khi Linh Thể đã hoàn thiện, Linh Thức đạt đến trạng thái tự do tuyệt đối. Tu sĩ nảy sinh một ham muốn học hỏi mãnh liệt cấp độ cao hơn: Khám phá Quy Tắc Thế Giới để trả lời câu hỏi "Bản thân mình với Linh Thể này có thể làm được những gì?".
Giai đoạn lịch sử này là thời kỳ Nam Tông Đạo Gia phát triển đỉnh cao với Bạch Ngọc Thiềm, tác giả Hải Quyền Tập, cùng Trần Nan Tiên và đại sư Thiệu Ung, tác giả Hoàng Cực Kinh Thế:
Bạch Ngọc Thiềm cùng Thiệu Ung đã hệ thống hóa thành công cảnh giới Đại Thừa qua cuốn Hải Quyền Luận. Bạch Ngọc Thiềm chứng minh: Bắt buộc phải trải qua quá trình "Vá Thể" bằng Linh Lực Tinh Thuần trước.
Sau khi Linh Thể hoàn mỹ không vết rạn, ham muốn ngộ quy tắc ("Mình làm được gì") sẽ tự động kích hoạt Vực Đặc Thù (Lĩnh Vực). Nó là một không gian quy tắc riêng biệt dành riêng cho những người đã đúc được Kim Đan Đặc Thù từ bậc Kim Đan (theo Nạp Âm Ngũ Hành năm xưa).
Bạch Ngọc Thiềm cùng nhóm học giả tổng hợp lại hệ thống lý luận thành cảnh giới đại thừa
Sơ kỳ: Tiến hành kiểm tra và vá lại toàn bộ các vết rạn nứt trên Linh Thể bằng Linh Lực tinh chất.
Trung kỳ: Vá hoàn tất Linh Thể. Nguyên Thần (lúc này đã hòa trong Linh Thể) bộc phát ham muốn học hỏi quy tắc thế giới mãnh liệt, bắt đầu chủ động tìm hiểu: Toàn bộ năng lượng bản thân có thể tác động và biến đổi được những gì trong thực tại?
Hậu kỳ: Dựa trên nền tảng Kim Đan Đặc Thù (đúc từ thời Cát Hồng - Trương Đạo Lăng), tu sĩ chính thức Khởi động và Kích hoạt Vực Đặc Thù (Lĩnh vực riêng mang thuộc tính Nạp Âm Ngũ Hành như Hải Trung Kim Vực, Lư Trung Hỏa Vực...).
Viên mãn: Vực Đặc Thù mở rộng hoàn chỉnh, tu sĩ trở thành chủ nhân tuyệt đối trong không gian Vực của mình.
Đại viên mãn: Linh Thể và Vực Đặc Thù đạt trạng thái viên dung vô cùng, sẵn sàng rũ bỏ hoàn toàn sự liên kết với thế giới phàm trần để bước sang Tầng Tiên (Cảnh giới Độ Kiếp / Chân Tiên).
Bản chất cảnh giới này hoàn Thiện Cấu Trúc Linh Thể & Kích Hoạt Không Gian Quy Tắc Cá Nhân.
"Đại" là khổng lồ; "Thừa" là gánh vác, nối tiếp. Đại Thừa nghĩa là cỗ xe lớn đã hoàn thiện, đủ sức gánh vác quy tắc vũ trụ.
Đến cuối thời Nguyên đầu thời Minh, khi kỹ thuật đúc Linh Thể (Hợp Thể) và vá vết rạn mở Vực (Đại Thừa) đã hoàn thiện nhờ sự kết hợp giữa Nam Dược Bách Việt và Mật Tông, các tu sĩ chạm phải một chốt chặn kinh hoàng: Sự Đào Thải Của Ý Chí Thế Giới.
Sức mạnh và tốc độ rút năng lượng của tu sĩ Đại Thừa vượt quá khả năng dung dưỡng của Trái Đất. Thế giới phản ứng lại bằng cách dồn nén điện từ và áp suất không gian tạo thành Thiên Kiếp. Hàng vạn cao thủ bị đánh tan thành tro bụi vì Linh Thể của họ tuy mạnh nhưng vẫn còn bám dính 0,01% vi hạt phàm trần (vết tích sinh học phàm xơ).
Lưu Bá Ôn Người đứng đầu dự án "Trảm Long Mạch". Ông nhận ra Thiên Kiếp không phải để tiêu diệt, mà là một "chiếc mài sắc" do thế giới tạo ra.
Hám Sơn Đức Quảng Dùng lý thuyết Phật Tánh Bất Hoại chứng minh rằng phải dùng chính sức nóng của Lôi Kiếp để đốt sạch vi hạt phàm trần còn sót lại.
Thần y Lý Thời Trân Tác giả Bản Thảo Cương Mục Dùng tri thức giải phẫu mô học để chỉ ra vị trí chính xác của một số "dấu vết phàm trần" giấu sâu trong tủy cốt Linh Thể.
Yên Đô Bát Hầu Cung cấp sơ đồ dẫn truyền năng lượng sét qua địa mạch núi Côn Lôn và Bạch Đầu.
Cuối cùng 1 học giả vô danh đã tổng hợp lại chỗ lý luận đó và viết lên độ kiếp thiên
Sơ kỳ: Cảm nhận áp lực đè nén tuyệt đối từ Ý Chí Thế Giới khi tốc độ hấp thụ năng lượng đạt ngưỡng báo động.
Trung kỳ: Đón nhận Thiên Kiếp, chủ động dùng uy lực tàn phá của Lôi Kiếp để phá hủy sạch sẽ phần phàm vi mô còn sót lại trên Linh Thể (người ngập trong sự đau đớn như t-ự sát).
Hậu kỳ: Ngay khi phần phàm bị Lôi Kiếp thiêu rụi, lập tức điều động Khí Tu Luyện Đặc Thù nồng độ tối cao lấp đầy và thay thế hoàn toàn vào các khoảng trống.
Tuy nhiên quá trình này là sự lặp đi lặp lại không biết bao giờ mới hết hẳn nhiều tu sĩ đã không thể vượt qua, dù có hệ thống lý luận nhưng nó lại không thể tính toán được, tính ngẫu nhiên quá cao, nhiều tu sĩ thà chấp nhận bị tụt xuống cảnh giới phản hư-hợp thể còn hơn tiếp tục độ kiếp
Viên mãn: Tẩy rửa hoàn tất. 100% sự tồn tại của tu sĩ được duy trì bằng Khí Đặc Thù, không còn một phân tử thịt da hay tế bào phàm trần nào.
Đại viên mãn: Ý Chí Thế Giới không thể nhận diện tu sĩ là phàm nhân để đào thải nữa, buộc phải chấp nhận sự tồn tại của một "Thực Thể Quy Tắc Mới".
Bản chất cảnh giới này là sự Tái Cấu Trúc Toàn Phần Nhờ Uy Lực Vũ Trụ.
Bước qua Độ Kiếp, tu sĩ chính thức trở thành Tiên nhân (dành cho những người còn sống và đã loại bỏ 100% phần phàm trần).
Vào khoảng niên hiệu Hồng Đức đến Gia Tĩnh thời Minh, nhóm Tiên nhân tự xưng của nhân loại bao gồm Trương Tam Phong (Sáng lập Thái Cực Đạo), Thiền sư Tuệ Đăng và các phương sĩ núi Kim Cang đã định hình nên cảnh giới cuối cùng tính cho đến nay này.
Trương Tam Phong: Dùng lý thuyết Thái Cực Âm Dương chứng minh: Để không bị Quy Tắc Thế Giới đè nát, Tiên nhân không thể tiếp tục dùng cơ thể làm một "bình chứa lỏng lẻo", mà phải biến nội tại thành một Hệ Thống Tự Cân Bằng.
Lý Thời Trân & Lưu Bá Ôn: Hoàn thiện sơ đồ "Kinh Huyệt Tiểu Thế Giới". Họ dùng tri thức giải phẫu kết hợp trận pháp để biến từng huyệt vị (đã khai mở từ thời Khương Tử Nha) thành một "Tiểu Thế Giới" độc lập, có khả năng tự sản sinh và chuyển hóa năng lượng mà không cần rút linh khí của Trái Đất.
Thiền sư Tuệ Đăng: Đưa tư tưởng Thiền Đương Đại vào việc xây dựng Bộ Đạo Pháp Cá Nhân, giúp Tiên nhân cô đọng toàn bộ hiểu biết thành một bộ quy luật sáng tạo vĩnh hằng và dùng Vực Đặc Thù để bảo vệ nó.
Những vị tiên nhân này khi mới đạt được cảnh giới, họ đã tự nhận thấy chắc chắn đường vẫn còn nên
Hoàn tất đúc Tiên Thể, chịu đựng và thích nghi với lực áp chế khổng lồ từ Quy Tắc Thế Giới.
Cải tạo toàn bộ hệ thống kinh mạch và huyệt vị, biến mỗi đốm năng lượng huyệt vị thành một Tiểu Thế Giới hỗ trợ tự chuyển hóa năng lượng nội tại.
Xây dựng và định hình Bộ Đạo Pháp Duy Nhất của riêng mình; dùng Vực Đặc Thù bao bọc để bảo vệ Bộ Đạo Pháp khỏi sự xâm lấn của các Chân Tiên khác hoặc Thiên Đạo.
Tuy nhiên có 1 thực trạng chung đó là tiên nhân biến mất. Tiên nhân bất kì nào cũng chỉ xuất hiện ở trần thế vài năm rồi biến mất. Người bên dưới thì cho rằng họ đã phi thăng, ngươi sắp đến thì lo sợ sự thanh toán của ý chí thế giới.
Nhưng thực tế, ở nơi mà tất cả những người chưa ra xa ngoài vũ trụ không biết, toàn bộ tiên nhân đã bị đá ra khỏi mọi thế giới có sự sống. Đúng hơn là ý chí của từng hành tinh là tồn tại gần giống như tiên nhân, nó chỉ chấp nhận nuôi tu sĩ mà chấp nhận quy tắc về thọ nguyên, tu sĩ lên đến đỉnh cao của đại thừa là đã khiến ý chí thế giới để ý mà đưa ra thiên kiếp. Nếu tu sĩ thực sự độ qua thì khi này ý chí hành tinh không thể chấp nhận họ được nữa, mọi tu sĩ đạt cảnh giới tiên nhân đều được ở lại thế giới 1 khoảng thời gian tùy người trước khi bị đá ra ngoài không gian. Thời khắc bị đá ra ngoài không gian tức là vòng tiên nhân ngũ suy đầu tiên sắp bắt đầu. Đây là giai đoạn tiên nhân ở trong trạng thái thất thoát khí đến cực đại, phải hấp thụ 1 lượng lớn khí mà có lẽ đây là lý do ý chí hành tinh không cho phép họ ở trong hành tinh đó nữa. Khi này tiên nhân bắt buộc phải tìm kiếm những hành tinh không có ý chí để thôn phệ, chiến đấu với các vị tiên nhân khác nhằm hấp thụ khí của họ. Lên đến cảnh giới tiên nhân, về lý thuyết con người đã đạt đến trạng thái bất tử nhưng lượng năng lượng tiêu tốn để duy trì cơ thể cũng là cực lớn.
Tóm lại cảnh giới tiên là 1 cái hố lớn nhưng người ngoài thì muốn vào người bên trong thì muốn ra. Sự biến mất của tiên nhân không phải do họ cao cao tại thượng, mà là do họ lo thân mình còn chưa xong.

💬 Bình luận (0)