Bàn tay bọc giáp của người phụ nữ cao lớn vẫn đè chặt lên phần giáp vai của Garth Anker, giữ một lực tì vững chắc đẩy anh quay trở lại hành lang dịch vụ phía tây.
Làn sương làm mát màu trắng đục xả ra lúc trước giờ đã loãng bớt, chỉ còn lại mùi amoniac hăng nồng xộc vào màng lọc khí của mũ bảo hộ. Hơi lạnh cực điểm đọng thành một lớp tinh thể muối trắng xóa bám ráp trên các đoạn ống dẫn và mặt sàn kim loại quanh cụm van xả nhánh phụ. Không gian hành lang mờ ảo dưới ánh đèn sự cố màu vàng cam nhấp nháy từng hồi ngắt quãng.
Người lính đổ bộ bị anh giật mất súng ban nãy đứng chắn ngay khúc rẽ. Họng súng trong tay gã chĩa thẳng vào ngực Garth, đôi mắt gườm gườm dõi theo từng cử động nhỏ nhất qua lớp kính mũ bọc giáp kín mít. Khẩu Magwrench của Garth lúc này đã bị gài chặt bên hông đai giáp của gã lính ấy, phát ra tiếng kim loại va chạm lách cách theo mỗi nhịp thở nặng nề.
Người phụ nữ cất giọng ra lệnh, ngắn gọn và dứt khoát:
“Cởi một tay ra. Một tay đủ để vặn van.”
Vòng khóa kim loại ở cổ tay phải của Garth được mở chốt bằng một tiếng tách khô khốc. Cổ tay trái của anh vẫn bị khóa liền với vòng đai hông phía sau lưng.
Garth bước tới trước bánh xe van màu vàng của nhánh làm mát phụ. Lớp tinh thể băng đã phủ kín các nan hoa kim loại lạnh ngắt. Anh kích hoạt hệ thống trợ lực cánh tay của bộ Hardshell. Khớp cơ học ở bả vai rít lên một tiếng đanh gọn, mô tơ trợ lực gầm gù truyền lực vặn cực lớn vào hai vòng đệm kim loại đang kẹt cứng vì sốc nhiệt.
Bánh xe van bắt đầu nhích từng nấc nặng trịch, ép chặt đĩa van vào đế kim loại. Tiếng xì xào của luồng chất làm mát yếu dần rồi dứt hẳn. Áp suất trong đường ống ổn định trở lại ở mức danh định.
Garth đưa mắt nhìn lên màn hình hiển thị ở góc kính mũ. Mức pin sụt từ 52% xuống còn 50%. Khí thở dự trữ vẫn giữ nguyên 5 giờ 40 phút vì khu kỹ thuật vẫn còn duy trì được áp suất khí quyển an toàn. Khí đẩy nitơ dùng cho các vòi cơ động còn 70%.
“Đã khóa kín,” Garth quay đầu lại nói, giọng qua bộ đàm phát ra đều đặn. “Đúng như lời tôi đã hứa.”
Người phụ nữ không đưa ra lời khen ngợi nào. Cô chỉ hất cằm về phía người lính gác. Gã lính bước tới, nắm lấy hai cổ tay anh kéo về phía trước ngực rồi khóa chốt lại bằng một vòng xích hãm cơ học. Lần này hai tay anh được trói ở đằng trước, cách nhau khoảng một gang tay, đủ để cử động các đầu ngón tay nhưng không thể vung mạnh hay với tới vũ khí. Lời hứa giữ mạng đổi lấy việc đóng van đã được thực hiện bằng hành động cụ thể.
Đúng lúc Garth vừa gồng mình vặn chặt then van, sau gáy anh bỗng nhói lên một cảm giác ấm rát lạ lùng. Ngay tại vị trí cổng giao tiếp thần kinh cấy ở chân hộp sọ, một cơn nóng ran lan tỏa xuống các đốt sống cổ. Ở góc dưới bên phải màn hình mũ, dải y tế nhấp nháy một dòng thông số nhỏ: thân nhiệt hiển thị 37,9 °C, nhỉnh hơn mức bình thường. Garth nhíu mày. Anh tự nhủ có lẽ do một hai chiếc xương sườn bên ngực trái bị nứt từ cú va chạm trên cầu tàu đang gây viêm mô mềm. Anh tự nhắc mình sẽ kiểm tra lại túi thuốc kháng sinh nếu tìm được một tủ cứu thương còn nguyên vẹn.
Toán lính áp giải Garth quay trở lại hướng sảnh kỹ thuật. Bước chân của họ đầm chắc trên mặt sàn kim loại dù trọng lực nhân tạo ở khu vực này chỉ còn khoảng một phần ba mức chuẩn. Tiếng đế giày từ tính bám nhả đều đặn trên sàn thép tạo nên một nhịp điệu khô khan giữa không gian đầy mùi kim loại cháy.
Theo một cử chỉ tay của người phụ nữ, người lính đi sau đưa tay chạm vào hộp thu phát sau gáy bộ Hardshell của anh, gạt lẫy chuyển tần số liên lạc nội bộ sang dải sóng của toán đổ bộ.
Giọng người phụ nữ vang lên trong tai nghe của anh, truyền trực tiếp qua kênh vô tuyến kín thay vì phát ra loa ngoài, rành mạch và lạnh băng:
“Từ giờ anh nghe lệnh trên kênh này. Anh hoảng thì người của tôi nghe thấy trước.”
Garth không đáp, chỉ giữ cho nhịp thở của mình thật đều đặn. Kênh truyền tín hiệu vang lên những tiếng trao đổi ngắn, tuân thủ thứ bậc nghiêm ngặt. Các vị trí chốt giữ báo cáo tình trạng theo chu kỳ đều đặn:
“Tổ hai báo cáo. Lối thông tầng hai đã khóa chốt từ. Không thấy dấu hiệu quân Công ty kéo tới thêm. Mà này, mấy gã hồi nãy lúc gục xuống thật sự—”
“Tiro. Giữ kênh sạch,” một giọng nam lớn tuổi, khô khốc và trầm đục ngắt lời ngay tức khắc. Đó là Varro, người phó của cô.
“Rõ, phó chỉ huy,” Tiro hạ giọng đáp, nhưng nhịp thở vẫn để lộ vẻ bồn chồn.
Garth nhận ra ngay giọng nói ấy. Đó chính là người lính trẻ đã thốt lên câu chuyện lính Công ty dùng thuốc khi chứng kiến tổ năm lính trúng đạn mà vẫn lao lên ở tầng dưới sảnh kỹ thuật, người đã bị quật ngã trước khi đồng đội can thiệp. Giờ anh ta đã đứng dậy gác sảnh, giọng nói nhanh nhảu và thừa lời so với kỷ luật chung của đơn vị.
Garth giữ sự cẩn trọng tuyệt đối trên dải sóng. Anh vẫn nhớ sự vắng lặng ghê người trên kênh nội bộ của tàu Constance lúc trước, nơi chỉ có tiếng thở dốc và những mệnh lệnh vô cảm của các sĩ quan Công ty Hesper. Ở đây, toán lính đổ bộ này vận hành như một cỗ máy quân sự thuần thục, nhưng bên trong vẫn có hơi thở của những người sống sót đang chịu áp lực lớn.
Cả nhóm bước vào sảnh kỹ thuật. Không gian sảnh cao bốn tầng giàn giáo kim loại vây quanh khoảng trống ở giữa, nơi những ống dẫn dung dịch làm mát chính to bằng thân người chạy thẳng đứng từ khoang lò năng lượng bên dưới lên. Hệ thống chiếu sáng chính đã sập, chỉ còn những ngọn đèn sự cố gắn dọc lan can hắt ra những vệt sáng vàng nhạt mờ tối.
Xác của năm người lính Công ty tử trận lúc trước đã được kéo gọn vào một góc khuất dưới gầm sàn tầng một. Garth cố ý nhìn chếch sang hướng khác, tránh nhìn vào những vòng nối cổ áo giáp nơi những nhát dao kết liễu của toán đổ bộ đã đâm xuyên qua.
Người phụ nữ dừng bước ở chân cầu thang giàn thép. Trong bộ giáp chiến đấu kín mít màu xám chì, cô cao hơn Garth trọn một cái đầu, sừng sững như một bức tượng thép cao hơn 2 mét. Bộ giáp của cô gọn gàng, các mảng giáp phân bố đều đặn quanh thân thể, khác hẳn bộ Hardshell cồng kềnh với ba lô bảo hộ lưng dày cộp của anh. Cô đứng nhìn anh, không hề có một cử chỉ thừa thãi nào.
“Giải thích,” cô cất giọng, đều và dứt khoát. “Con tàu này còn đứng được bao lâu?”
Garth ngẩng đầu nhìn tấm kính che mặt đen nhánh của cô:
“Từ sảnh này thì tôi không trả lời cô được. Cảm biến ở đây chỉ là đường dẫn phụ, không hiển thị tải thực tế của lưới năng lượng.”
“Anh muốn gì?”
“Số liệu thật nằm ở khoang kỹ thuật trung tâm,” Garth đáp, giọng bình thản và thực tế. “Ở đó có nguồn điện độc lập và cụm màn đo riêng của hệ thống Bulwark. Chỉ có ở đấy mới biết trường năng lượng đang tiêu hao thế nào.”
Ánh mắt sau lớp kính của người phụ nữ nheo lại. Người lính Sabin đứng cạnh lập tức siết chặt báng súng trường trong tay.
“Khoang cửa dày mà anh vừa cố chạy tới trước khi bị bắt?” cô hỏi, giọng đầy vẻ hoài nghi sắc bén. “Anh định lừa tôi mở cửa để anh tự khóa mình vào trong?”
Garth nhếch môi, một câu đùa khô khốc buột ra:
“Đúng là 10 phút trước tôi đã tính làm thế thật, cô biết thừa rồi. Nhưng giờ cửa đó đang đóng, và nếu tôi muốn tự nhốt mình thì cũng chẳng mang theo hai gã lính có súng của cô vào làm gì cho chật chỗ. Trừ phi cô thích đứng ở đây đoán mò xem khi nào cả con tàu bị chân trời sự kiện xé làm đôi.”
Người phụ nữ nhìn anh chăm chú trong ba giây. Tố chất của một sĩ quan chỉ huy giúp cô đưa ra quyết định chớp nhoáng mà không để sự do dự lấn át:
“Varro,” cô gọi trên kênh. “Giữ sảnh kỹ thuật cùng tổ hai. Đặt chốt quan sát ở hai đầu cầu thang.”
“Rõ,” giọng Varro đáp cộc lốc qua bộ đàm.
“Tiro, Sabin, theo tôi áp giải hắn,” cô ra lệnh. “Đi.”
Đoạn đường từ sảnh tới khoang kỹ thuật trung tâm chỉ chừng 60 bước dọc theo hành lang dịch vụ phía tây. Đi qua khúc quanh có máng cáp treo lơ lửng trên trần, nơi người phụ nữ đã nhảy xuống chặn đường anh lúc trước, Garth thoáng cảm thấy sống lưng lạnh buốt. Những vết cào xước trên lớp sơn tường vẫn còn mới nguyên, minh chứng cho một cú ra đòn chuẩn xác từ phía trên cao.
Cánh cửa khoang kỹ thuật trung tâm hiện ra trước mắt: một khối hợp kim dày một gang tay với khung viền sơn sọc vàng đen cảnh báo an toàn. Trên mặt cửa, đèn báo nguồn độc lập vẫn sáng màu xanh lục báo hiệu hệ thống dự phòng bên trong vẫn nguyên vẹn.
Garth đưa hai bàn tay bị trói lên, ngón tay gõ nhanh mã bảo mật sáu số trên bàn phím số bên cạnh khung cửa.
Khóa thủy lực bật mở với một tiếng thở xì nén khí. Cánh cửa nặng trịch trượt êm vào vách kim loại, mở ra một luồng khí khô ráo và ấm áp hơn hẳn bầu không khí ẩm lạnh ngoài hành lang.
Bên trong khoang là nguồn điện độc lập vẫn đang chạy ổn định. Đèn trần ánh sáng trắng lạnh rọi sáng ba dãy màn hình điều khiển xếp vòng cung đối diện bàn thao tác. Ở dãy giữa là cụm màn đo chuyên dụng của Bulwark, hiển thị sơ đồ trường năng lượng và các biểu đồ tải, giống hệt cụm thiết bị ở khoang điều khiển dưới cầu tàu mà Garth từng ngồi trước khi thảm họa ập tới.
Garth bước tới trước bàn điều khiển dãy giữa, hai cổ tay bị trói cọ xát vào nhau kêu lách cách. Ngón tay anh lướt trên các phím chuyển dữ liệu, gọi ra các thông số cốt lõi. Phong cách làm việc của một kỹ sư bảo trì luôn bắt đầu từ việc kiểm kê con số, đối chiếu ngưỡng giới hạn, rút ra kết luận, và tìm ra cái điểm then chốt cần giải quyết.
“Sao rồi?” người phụ nữ đứng ngay sau lưng anh, hỏi gọn lỏn.
“Trường Bulwark chưa bao giờ nạp tới 100% công suất thiết kế,” Garth vừa nhìn biểu đồ vừa giải thích, mắt dán chặt vào các đường cong dao động. “Lúc tôi kích hoạt dưới cầu tàu, sóng năng lượng từ chân trời sự kiện đã đập vào ngay lập tức. Hiện tại cường độ trường đang ở mức 41,2%.”
Anh bấm phím gọi đường đo vi sai theo thời gian:
“Con số thứ nhất: mỗi giờ trôi qua, các đợt sóng nhiệt và bức xạ từ chân trời bào mòn mất khoảng 0,6% cường độ trường. Ở mức cầm hơi này, bộ tích năng lượng của tàu không thể nạp bù vào lưới vì các cuộn cảm chính đã quá nhiệt.”
Anh chuyển sang màn hình hiển thị trường ngoại vi bên cạnh:
“Con số thứ hai: các mảnh vỡ từ trạm neo trôi theo lực kéo đang va vào trường phòng hộ. Mỗi cú va chạm làm sụt thêm một lượng tải đáng kể, bẻ gãy từng mảng liên kết bề mặt.”
“Con số thứ ba: toàn bộ hệ thống phát lực đang chạy bằng cụm máy phát phụ số ba và số bốn. Ngưỡng sụp đổ là 6%. Dưới 6%, trường sẽ tự gãy do không đủ áp lực kháng lại lực hút khổng lồ của chân trời.”
Anh quay lại nhìn cô, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn kim loại:
“Kết luận: Nếu không có gì tệ hơn xảy ra, con tàu này còn đứng được khoảng 60 tiếng.”
Người phụ nữ hỏi ngay câu hỏi của một chỉ huy quân sự dày dạn kinh nghiệm chiến trường:
“Sai số bao nhiêu?”
“Cộng trừ khoảng 10 tiếng,” Garth đáp thẳng thắn. “Và nghiêng về phía trừ. Không gian quanh chân trời không có chỗ cho may mắn.”
Một nhịp nín bặt bao trùm kênh liên lạc nội bộ của toán lính. Rồi tiếng thở dài lẫn tiếng chửi thề khẽ của Tiro vang lên trong tai nghe:
“Mẹ kiếp, 60 tiếng trên một cái hòm sắt trôi dạt...”
“Tiro. Kỷ luật,” người phụ nữ ngắt lời ngay bằng giọng đanh thép.
Cô nhìn Garth, ánh mắt sắc như lưỡi trích điện:
“Và cái điểm chưa nói của anh là gì? Tôi biết anh chưa nói hết.”
Garth gật đầu xác nhận, ánh mắt dừng lại ở sơ đồ phân bố trọng lượng tàu:
“Cái điểm mấu chốt nhất: 60 tiếng nữa, khi khiên tắt, con tàu Constance này không thể bay thoát. Khối lượng của nó quá lớn so với lực đẩy của các động cơ phụ còn lại; tỉ lệ đẩy trên khối lượng quá thấp, nó sẽ bị chân trời sự kiện nuốt chửng ngay tức khắc. Con tàu duy nhất có thể thoát là tàu nhỏ.”
Anh ngừng lại một nhịp rồi nói tiếp từng lời rành rọt:
“Ở phía đuôi tàu Constance, có một khoang chứa tàu con.”
Đúng lúc Garth vừa dứt lời về nguy cơ từ các mảnh vỡ, thân tàu đột ngột rung chuyển dữ dội.
Một âm thanh trầm đục như tiếng sấm nổ sâu dưới lòng thép dội thẳng vào khoang kỹ thuật. Cả sàn tàu chao đảo sang mạn phải khiến Sabin suýt ngã quỵ, còn người phụ nữ lập tức chùng gối hạ trọng tâm, bàn tay giữ chặt báng súng ghì người vào thanh giằng kim loại.
Trên màn hình trung tâm, đường cong đo cường độ trường Bulwark đột ngột gãy gập xuống một bậc rõ rệt: từ 41,2% tụt thẳng xuống 38,5%.
Còi báo động áp lực ré lên từng hồi chói tai. Đèn đỏ nhấp nháy liên hồi trên bảng phân phối điện:
Cảnh báo: Nhánh cấp nguồn mạn phải quá tải. Máy phát số bốn nhiệt độ tới hạn. Nguy cơ ngắt dây chuyền trong 40 giây.
“Chuyện gì thế?” Sabin quát lên, giương súng nhắm vào ngực Garth. Tiro cũng nâng nòng súng, hướng thẳng vào đầu anh đầy hoảng hốt.
“Một khối mảnh vỡ lớn từ trạm vừa va vào mạn phải!” Garth hét lên át tiếng còi báo động. “Máy phát sắp ngắt bảo vệ! Nếu nhánh này ngắt, toàn bộ lưới sẽ sập theo dây chuyền!”
Người phụ nữ không hề hoảng hốt. Ánh mắt cô đanh lại nhìn Garth qua kính mũ:
“Cách xử lý?”
“Cho tôi 30 giây! Tôi phải chuyển tải sang đường dẫn dự phòng!”
Sabin gầm lên trong bộ đàm:
“Chỉ huy, hắn định giở trò phá tàu—”
Người phụ nữ giơ tay trái lên, ra hiệu dứt khoát:
“Hạ súng xuống. Để hắn làm.”
Hai tay bị trói phía trước của Garth lập tức lao vào bàn điều khiển. Dù khoảng cách giữa hai cổ tay chỉ có một gang tay, các ngón tay anh vẫn thao tác chuẩn xác như một cỗ máy đã được lập trình qua bao ca bảo dưỡng hệ thống cao áp.
Anh không cần đến bất kỳ sự cảm nhận khác thường nào, chỉ hoàn toàn dựa vào sơ đồ mạch điện và quy trình kỹ thuật đã thuộc nằm lòng từ nhiều năm làm nghề:
Thao tác thứ nhất: cắt thêm các tải phụ không thiết yếu, ngắt quạt thông gió của các khoang trống vòng ngoài, tắt toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng hành lang mạn phải để giải phóng điện năng tiêu thụ.
Thao tác thứ hai: kích hoạt rơ-le cách ly nhánh máy phát số bốn đang quá nhiệt trước khi bộ ngắt tự động kích hoạt.
Thao tác thứ ba: gạt công tắc chuyển một phần tải sang nhánh dự phòng mạn trái, chính là nhánh dự phòng mà anh đã chủ động để nghỉ lúc khởi động khiên trên cầu tàu ở thời điểm ban đầu.
Một tiếng cạch khô khốc vang lên từ tủ rơ-le cao áp sau vách thép. Dòng điện dự phòng đóng mạch tức thì. Tiếng còi báo động chuyển từ tiếng rít dồn dập sang tiếng bíp ngắt quãng rồi dứt hẳn.
Đèn đỏ trên bảng điều khiển chuyển sang màu vàng cam cảnh báo an toàn. Kim chỉ áp lực đứng yên ở mức 38,5%. Sự cố ngắt dây chuyền đã bị chặn đứng hoàn toàn ngay trước ngưỡng sụp đổ.
Garth thở hắt ra một hơi dài, mồ hôi rịn ra trên trán bên trong lớp mũ Hardshell. Anh đưa hai cổ tay bị trói lên quẹt nhẹ cằm qua lớp đệm cổ áo bảo hộ. Nhịp tim anh đập thình thịch trong lồng ngực, những chiếc xương sườn nứt nhói lên một cơn đau buốt.
Anh nhìn vào con số mới hiển thị trên màn hình đo, rồi quay lại nhìn người phụ nữ:
“Tính lại rồi. Giờ chúng ta còn khoảng 56 tiếng.”
Garth nhếch mép, buông một câu đùa khô khốc:
“Đã bảo với cô từ trước rồi mà, con số luôn nghiêng về phía trừ.”
Sự căng thẳng trong khoang kỹ thuật trung tâm dần lắng xuống. Sabin và Tiro nhìn nhau, rồi nhìn Garth với ánh mắt đã bớt đi vẻ hằn học ban đầu, dù sự cảnh giác của những người lính chiến trường vẫn còn nguyên vẹn. Họng súng của họ đã hạ xuống sàn tàu, nhưng chốt an toàn vẫn mở.
Người phụ nữ nhìn chăm chú vào biểu đồ 56 tiếng trên màn hình. Sau vài giây suy tính, cô cất giọng trầm tĩnh:
“Tàu đổ bộ của toán chúng tôi đã bị sóng năng lượng xé nát từ đợt thứ hai.”
Garth hơi sững lại. Cô vừa để lộ một mảnh thông tin sống còn: toán đổ bộ của Đế quốc không còn đường rút lui. Họ cũng đang mắc kẹt trên con tàu chết này giống hệt như anh, đối mặt với cùng một cái chết lạnh lẽo khi khiên phòng hộ cạn kiệt.
“Vậy là chúng ta chung một cái đích,” Garth nói chậm rãi, giọng điềm tĩnh. “Khoang tàu nhỏ phía đuôi.”
“Đúng,” người phụ nữ gật đầu dứt khoát. “Tôi đưa ra đề nghị: Anh dẫn đường đưa toán của tôi tới khoang tàu nhỏ và mở cửa khoang. Đổi lại, tôi đảm bảo anh sống sót rời khỏi con tàu này.”
Garth nhìn thẳng vào tấm kính che mặt của cô. Anh là tù binh, nhưng anh đang nắm thứ cô cần nhất lúc này: kiến thức vận hành con tàu.
“Tôi đồng ý, nhưng có hai điều kiện.”
Sabin hừ lạnh một tiếng định lên tiếng gắt gỏng, nhưng cái liếc mắt nghiêm nghị của người phụ nữ khiến gã phải ngậm miệng lại ngay.
“Nói,” cô ra lệnh.
“Thứ nhất: người của cô phải tuân thủ quy trình kỹ thuật. Thôi ngay trò bắn bừa bãi vào vách và đường ống dẫn. Một viên đạn lạc làm thủng ống dẫn amoniac nén hay cắt đứt cáp nguồn chính là tất cả chúng ta cùng chết ngạt trước khi đồng hồ điểm 56 tiếng.”
Garth nhìn cô, giọng rành mạch:
“Tàu là việc của tôi.”
Người phụ nữ không hề né tránh ánh mắt anh, giọng đáp lại dứt khoát:
“Được. Trận là việc của tôi. Bất kỳ kẻ nào cản đường tới khoang đuôi, tôi sẽ dọn dẹp.”
“Thỏa thuận thành lập,” Garth nói.
“Nhưng tôi chưa cởi trói cho anh,” cô nói thêm, giọng lạnh băng. “Thỏa thuận là thỏa thuận, chưa phải là lòng tin.”
Garth nhún vai đáp lại:
“Hợp lý thôi. Tôi cũng chưa mong cô tin tôi ngay lúc này.”
Người phụ nữ quay lưng lại, bước về phía cửa khoang để phát lệnh điều động cho Varro ở sảnh ngoài chuẩn bị đội hình di chuyển.
Trong khoảnh khắc ấy, ánh mắt Garth dừng lại ở góc dưới bàn điều khiển chính của Bulwark. Nơi đó có một cụm công tắc ba nấc nằm dưới nắp bảo vệ bằng nhựa màu đỏ có khóa chìa cơ. Đó là cụm ngắt khẩn cấp thủ công của Bulwark. Từ vị trí này, chỉ cần ba thao tác gạt cần theo đúng trình tự mã hóa của kỹ sư bảo trì, anh hoàn toàn có thể tự tay ngắt nguồn toàn bộ trường phòng hộ của con tàu.
Nếu tắt khiên, Constance sẽ lập tức bị kéo tuột vào chân trời, và toán lính đổ bộ này sẽ tan biến cùng con tàu. Đó là lá bài tẩy tối hậu, đòn bẩy sống còn của một kỹ sư đang bị cầm tù.
Garth dời mắt đi, không để lộ bất kỳ cử chỉ nào khác lạ. Anh giữ kín điều đó cho riêng mình như một lối thoát hiểm cuối cùng.
Đúng lúc người phụ nữ vừa mở miệng định ra lệnh trên kênh chung, trong tai nghe của bộ Hardshell đột ngột vang lên một tiếng rè chói gắt.
Tín hiệu vô tuyến an ninh của Công ty Hesper tự động kích hoạt trên máy thu của Garth. Đồng thời, tín hiệu này được truyền đi trên dải tần mở khẩn cấp với công suất cực đại, vang rền qua loa nội bộ của khoang kỹ thuật và lọt thẳng vào kênh chung của toán đổ bộ.
Mọi người trong khoang lập tức nín bặt. Tiếng thở dốc của Tiro cũng im bặt giữa không gian tĩnh lặng căng thẳng.
Một giọng nói đàn ông trung niên, khàn đặc, đều đều và lạnh lùng vang lên, đọc từng chữ như đang đọc một bản cáo trạng thủ tục pháp lý:
“Thông báo toàn tàu. Tôi là Ostrander, Trưởng ban An ninh Công ty Hesper trên tàu Constance. Chiếu theo Điều 44 Quy chế Khẩn cấp của Công ty, do cầu chỉ huy bị phá hủy và toàn bộ sĩ quan cấp cao đã tử nạn, tôi chính thức tiếp nhận quyền chỉ huy cao nhất trên con tàu này.”
Giọng Ostrander dừng lại một nhịp, âm vang khô khốc truyền qua các vách thép:
“Vào thời điểm trạm neo vỡ, Kỹ sư hợp đồng Garth Anker đã tự ý kích hoạt trường Bulwark từ khoang điều khiển phụ dưới cầu tàu. Ngay sau khi trường bật lên, cầu tàu đã bị một khối cấu trúc đâm trúng gây thiệt hại toàn phần. Hiện Ban An ninh đang mở cuộc điều tra về hành vi phá hoại và cấu kết với phe địch.”
“Lệnh khẩn: Yêu cầu mọi nhân viên và lực lượng an ninh Công ty còn sống sót trên Constance, ngay khi phát hiện Kỹ sư Garth Anker, phải lập tức bắt giữ và giải về Khu An ninh mạn đông để thẩm vấn. Hết.”
Kênh dải mở ngắt phụt, để lại một tiếng rít dài của nhiễu sóng tĩnh điện.
Bầu không khí trong khoang kỹ thuật trung tâm như đông cứng lại.
Lời buộc tội của Ostrander nghe vô cùng hợp lý: chính Garth là người vận hành khiên, và chính sau khi khiên dựng lên thì cầu tàu bị đâm nát khiến ban chỉ huy chết sạch. Đứng ở góc nhìn của ban an ninh Công ty, Garth hiểu vì sao Ostrander lại nghi ngờ anh. Sự hợp lý lạnh lùng ấy khiến sống lưng anh buốt giá. Anh vừa dốc sức cứu con tàu, nhưng chính phe mình lại coi anh là kẻ phản bội nguy hiểm.
Người phụ nữ từ từ quay đầu lại. Ánh mắt cô xuyên qua lớp kính bảo hộ, nhìn xoáy vào Garth với một vẻ đánh giá hoàn toàn mới.
Đôi môi cô khẽ động. Lần đầu tiên, cô gọi tên anh, cái tên cô vừa nghe được từ chính kẻ thù của anh:
“Anker.”
Giọng cô không có vẻ giễu cợt, chỉ có sự đanh thép của một chỉ huy nhận ra giá trị của tù binh:
“Có vẻ như bây giờ, người muốn giữ anh không chỉ có một mình tôi.”