Gió bấc rít qua những khe nứt của bức tường gạch vồ rêu phong, cuốn theo những chiếc lá bàng đỏ ối cuối đông rụng lả tả xuống mặt đường lát đá xanh. Thành phố bước vào những ngày giáp Tết với một vẻ trầm mặc rất riêng. Cái rét ngọt ngào của miền Bắc luồn qua từng ngõ ngách, len vào những mái nhà ngói âm dương cũ kỹ, làm cho khói bếp chiều hôm như quẩn lại lâu hơn trên những ngọn cây bàng khẳng khiu trơ trụi.
Sáng sớm, Thẩm Dịch thức dậy khi trời còn chưa tỏ mặt người. Anh nhẹ nhàng trở mình, cẩn thận kéo lại mép chăn bông ấm áp đắp kín bờ vai gầy guộc của Lâm Vãn Thanh, rồi khẽ khàng xỏ chân vào đôi dép tổ ong đã mòn gót. Tiếng thở đều đặn, êm ái của hai đứa trẻ vọng ra từ căn phòng nhỏ bên cạnh như một khúc nhạc bình yên rót thẳng vào tâm khảm. Anh bước ra ngoài bồn rửa bằng sứ tróc men, vặn vòi nước lạnh buốt xoa lên mặt. Cảm giác mát lạnh tê tái khiến đầu óc anh tỉnh táo lạ thường.
Đứng trước tấm gương ố mờ treo cạnh cửa sổ, người đàn ông ngắm nhìn gương mặt mình. Đó là một gương mặt cương nghị, từng trải, với những đường nét góc cạnh được tôi rèn qua sương gió, và trên bả vai trái là một vết sẹo hình trăng khuyết nhàn nhạt. Dù trong tâm trí vẫn còn những mảng ký ức trắng xóa chưa thể lấp đầy, nhưng sâu thẳm trong từng thớ cơ, từng mạch máu, anh cảm nhận được một sự gắn kết thiêng liêng đến kỳ lạ với căn nhà nhỏ này, với người phụ nữ dịu dàng ấy và hai đứa trẻ ngoan ngoãn.
Mặc vào chiếc áo khoác vải dù sờn chỉ màu xanh công nhân, Thẩm Dịch khẽ khép cánh cửa gỗ số 1204 lại, rồi sải bước xuống cầu thang bộ. Điểm đến quen thuộc của anh trong suốt những tuần qua là xưởng cơ khí hàn xì của chú Trần Lục nằm sâu trong con ngõ Cột Cờ.
Con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo rợp bóng những giàn hoa giấy khô cằn chờ xuân sang. Mới hơn sáu giờ sáng, xưởng hàn xì đã rộn rã âm thanh kim loại va đập chan chát. Tiếng máy mài rít lên từng hồi chói tai, bắn ra những chùm hoa cải lửa vàng rực sáng lóa cả một góc ngõ ẩm ướt. Mùi dầu máy khét lẹt quen thuộc hòa lẫn trong mùi sắt thép nung nóng bốc lên ngai ngái, tạo nên một thứ không khí lao động đặc quánh mà tràn đầy sức sống trần tục.
"Thằng Dịch đấy à? Đến sớm thế cháu!"
Một giọng nói ồm ồm, sang sảng vang lên từ phía sau đống sắt hộp chất cao ngất ngưởng. Chú Trần Lục – một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, thân hình vạm vỡ như hộ pháp, nước da ngăm đen bóng nhẫy vì bồ hóng và mồ hôi – vừa kéo chiếc kính bảo hộ đen ngòm lên đỉnh đầu, để lộ đôi mắt ti hí nhưng sáng quắc, miệng ngậm chiếc tẩu thuốc lào bằng tre hun khói.
"Cháu chào chú Lục. Hôm nay có mối hàng nào cần hoàn thiện gấp trước Tết không chú?" Thẩm Dịch mỉm cười, tiến lại gần tháo đôi găng tay bạt đã ngả màu chàm dắt bên hông ra đeo vào.
"Gớm, hỏi thừa! Mấy hôm nay nhà nào trong phố cũng cuống cuồng gia cố lại hàng rào, hàn lại cái cổng sắt, rồi sửa cái xe kéo chở đào quất. Đây, nhìn cái khung cửa cuốn của lão tiệm vàng góc phố kia kìa, bị sập thanh ray chịu lực, thợ bên ngoài lắc đầu nguầy nguậy đòi thay mới hết mười mấy triệu. Lão mang sang đây nhờ chú xử lý. Mày xem có uốn lại rồi hàn gia cố được không?"
Thẩm Dịch bước tới bên chiếc bàn thép thô ráp, cúi người quan sát thanh ray chữ U dày cộm bị vặn xoắn một góc gần bốn mươi lăm độ do va đập mạnh. Anh đưa những ngón tay thô ráp miết nhẹ dọc theo sống thép, cảm nhận độ cong vênh và ứng suất nội tại của vật liệu kim loại. Dù anh không còn nhớ nổi những thuật toán lượng tử hay những phương trình vật lý siêu đẳng mà mình từng giải quyết ở những chân trời xa xôi nào đó, nhưng trực giác và sự khéo léo của đôi bàn tay anh thì dường như đã đạt đến cảnh giới bản năng hoàn mỹ.
"Uốn lại được chú ạ," Thẩm Dịch ngẩng đầu lên, ánh mắt bình thản nhưng chắc nịch. "Dùng mỏ hàn hơi nung nóng điểm tập trung ứng suất này đến khoảng tám trăm độ, để kim loại mềm ra rồi dùng vam chữ C ép từ từ lại. Sau đó gia cố thêm hai thanh nẹp thép góc ở sườn trong, hàn giáp mối bằng que hàn chịu lực 7018. Đảm bảo cứng hơn cả lúc mới xuất xưởng."
Chú Trần Lục nhìn anh chằm chằm một lúc, rồi bật cười ha hả, vỗ bốp một cái vào bả vai Thẩm Dịch khiến lớp áo dù rung lên bần bật:
"Khá lắm con giai! Chú mày nói năng bài bản y như mấy ông kỹ sư viện thiết kế công nghiệp vậy! Nào, bật van gió đá lên, anh em mình chiến luôn cho kịp giao hàng buổi trưa!"
Thẩm Dịch cầm lấy mỏ hàn xì. Khi ngọn lửa xanh lè bắt đầu bùng cháy với tiếng rít ro ro êm tai, bàn tay anh vững như bàn thạch. Anh điều chỉnh van oxy và axetylen với độ chuẩn xác tuyệt đối, đưa ngọn lửa lướt nhịp nhàng trên bề mặt thép xám. Từng vệt lửa liếm qua khiến kim loại từ từ ửng hồng, rồi chuyển sang màu cam rực rỡ. Dưới tác động khéo léo của vam kẹp và búa tay, thanh thép dần dần thẳng thớm trở lại như chưa từng trải qua một vết nứt vỡ nào.
Đến công đoạn hàn điện, Thẩm Dịch đội chiếc mặt nạ hàn đen tuyền. Anh chụm que hàn, gõ nhẹ xuống mặt sắt tạo nên những tia lửa hồ quang chói lòa. Tiếng xèo xèo giòn giã vang lên đều đặn. Dưới bàn tay điêu luyện của anh, từng vảy hàn xếp chồng lên nhau thành những đường sóng tròn đều tăm tắp như vảy cá chép, không một vết rỗ khí, không một chút xỉ hàn thừa thãi. Đó không chỉ là lao động chân tay đơn thuần, mà là một thứ nghệ thuật chế tác kim loại đạt đến độ tinh xảo kỳ diệu.
Anh thợ trẻ A Bằng – một cậu thanh niên hăm hai tuổi người gầy như que củi, vừa phụ việc cắt sắt bên cạnh – buông chiếc cưa máy xuống, đứng ngẩn ngơ nhìn đường hàn của Thẩm Dịch rồi tặc lưỡi xuýt xoa:
"Anh Dịch đỉnh thật đấy! Em theo học nghề chú Lục gần hai năm trời mà hàn cái xà gồ vẫn cứ nham nhở như gà bới, xỉ hàn văng tung tóe. Tay anh cầm kìm hàn mà không hề run lấy một ly nào, cứ như thể que hàn nó tự mọc ra từ ngón tay anh ấy!"
Thẩm Dịch kéo mặt nạ lên, khẽ mỉm cười quệt vệt mồ hôi đọng trên trán. Gương mặt anh lấm lem một vài vệt muội than đen nhạt, nhưng đôi mắt lại ánh lên niềm vui thanh thản vô bờ:
"Cứ kiên nhẫn thôi Bằng à. Giữ cho khoảng cách hồ quang thật đều, lắng nghe âm thanh của kim loại nóng chảy. Khi tâm mình tĩnh lại, tay mình sẽ tự biết phải đưa que hàn đi như thế nào."
"Đúng đấy! Nghe anh mày dạy mà mở mắt ra!" Chú Trần Lục bước lại, xách theo một phích nước rạng đông bọc nhôm và mấy chiếc cốc thủy tinh mắt trâu cáu bẩn. Chú rót ra những dòng nước trà xanh đặc quánh, bốc khói nghi ngút, thơm lừng mùi gừng tươi đập giập. "Nghỉ tay uống ngụm nước chè đã chúng mày. Rét mướt thế này mà làm hùng hục không khéo co gân đấy."
Ba người đàn ông ngồi bệt xuống những chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp xếp quanh đống sắt phế liệu. Khói thuốc lào của chú Lục cuộn tròn bay lên trần tôn lợp fibro xi măng, hòa quyện với hơi nóng của ấm trà gừng, tạo nên một cảm giác ấm cúng, dung dị của kiếp sống bình dân.
"Năm nay Tết nhất thế nào hả Dịch?" Chú Lục nhấp một ngụm trà đặc, khẽ chép miệng hỏi. "Tao thấy vợ mày mấy hôm nay đi dạy về muộn lắm, trông người cứ gầy rộc đi. Cô giáo trường huyện lương ba cọc ba đồng, lại gánh thêm hai đứa nhóc đang tuổi ăn tuổi lớn, vất vả lắm chứ chẳng đùa đâu."
Nghe nhắc đến Lâm Vãn Thanh, đáy mắt Thẩm Dịch thoáng dâng lên một nỗi xót xa khôn tả. Anh siết chặt chiếc cốc thủy tinh nóng hổi trong lòng bàn tay, khẽ đáp:
"Vâng chú ạ, cô ấy vất vả vì ba bố con cháu nhiều quá. Cháu chỉ muốn làm lụng chăm chỉ, kiếm thêm chút tiền phụ giúp cô ấy sắm sửa cho mấy đứa nhỏ manh áo mới đón Tết, rồi lo mâm cỗ tất niên cho tươm tất."
"Tốt! Đàn ông là phải thế!" Chú Lục gật gù tán thưởng, rồi thò tay vào chiếc áo bông chần cũ kỹ rút ra một củ khoai lang nướng thơm lừng bọc trong giấy báo và một phong bao lì xì màu đỏ thắm nhét thẳng vào túi áo Thẩm Dịch. "Củ khoai này nướng vùi trong trấu từ sáng, ngọt lịm, mày cầm về cho hai đứa nhỏ chia nhau. Còn cái phong bao này là tiền công chú thưởng thêm cho mày đợt hàng Tết. Không được từ chối! Đem về mà đưa cho vợ mày đi chợ phiên sắm sửa bánh mứt. Vợ chồng nghèo thì nghèo, nhưng cái Tết sum vầy bên nhau là quan trọng nhất trần đời, hiểu chưa?"
Thẩm Dịch cảm thấy một luồng hơi ấm ngập tràn trong lồng ngực. Anh nhìn bàn tay thô nhám, đầy những vết sẹo bỏng lửa của người thợ già, khẽ cúi đầu cảm ơn bằng tất cả sự chân thành:
"Cháu cảm ơn chú Lục nhiều lắm ạ."
Công việc ở xưởng kéo dài đến tận xế chiều. Khi những bóng đèn đường màu vàng vọt bắt đầu bật sáng dọc theo con ngõ Cột Cờ, Thẩm Dịch mới rửa sạch chân tay, thay lại chiếc áo khoác dù rồi chào chú Lục và A Bằng để ra về.
Trên đường về căn hộ 1204, anh đi ngang qua khoảng sân rộng trước nhà văn hóa khu phố. Nơi đây có một cây hòe cổ thụ cành lá sum suê vươn dài che rợp cả một góc sân lát gạch đỏ. Dưới gốc hòe già là một chiếc bàn cờ tướng bằng đá mài cố định, nơi tụ họp quen thuộc của các bậc cao niên trong ngõ mỗi buổi chiều tà.
Lúc này, gió chiều thổi mạnh khiến những tán lá hòe xào xạc rung rinh. Mọi người vì sợ rét nên đã lục tục về nhà chuẩn bị cơm nước, chỉ còn lại một bóng người gầy guộc, mặc chiếc áo bông chần cài cúc bấm kiểu cổ đang ngồi bó gối bên bàn cờ. Đó chính là Lão Tần – vị cựu chiến binh già mù dở sống một mình ở gian nhà tập thể tầng một.
Lão Tần đang cầm trên tay một quân cờ gỗ mun sứt mẻ, trầm ngâm nhìn vào bàn cờ trống trơn, dường như đang tự đánh cờ với chính cái bóng cô đơn của mình trong chiều muộn.
Thẩm Dịch bước nhẹ lại gần, không muốn làm kinh động đến sự tập trung của ông lão. Nhưng đôi tai của Lão Tần cực kỳ thính nhạy. Ông khẽ nhướng đôi mày bạc phơ, không cần ngước nhìn cũng đã mỉm cười cất tiếng:
"Bước chân vững chãi, hơi thở sâu mà êm... Thằng Dịch thợ hàn đấy phải không cháu?"
"Dạ, là cháu đây ạ, Lão Tần," Thẩm Dịch mỉm cười ngồi xuống chiếc ghế đá đối diện. "Trời trở rét đậm rồi, sao ông không vào nhà nghỉ ngơi mà lại ngồi đây chịu gió bấc thế này?"
"Vào nhà làm gì cho cuồng cẳng hả cháu?" Lão Tần cười khà khà, đưa bàn tay run rẩy nhưng chắc nịch đặt quân cờ xuống vị trí Pháo hai bình năm. "Cả ngày quanh quẩn với bốn bức tường vôi lở, ra đây đón chút gió chiều, nghe tiếng trẻ con nô đùa, ngửi mùi xào nấu của xóm giềng mới thấy mình còn đang sống. Nào, rảnh rỗi thì làm với lão một ván cờ tàn đi. Chiều nay mấy lão già trong xóm thua lão sạch bách, giận dỗi bỏ về hết rồi!"
Thẩm Dịch nhìn bàn cờ đá đã mòn vẹt theo năm tháng, lòng dâng lên một sự hoài niệm khó tả. Anh đưa tay nhặt quân Mã đen lên, điềm đạm nhảy Mã tám tấn bảy để phòng thủ trung lộ:
"Cháu chỉ biết chơi đôi ba nước vụng về thôi, mong ông nương tay."
"Hừ, khiêm tốn giả tạo!" Lão Tần hừ mũi một tiếng, lập tức thúc Tốt đầu tấn công mãnh liệt. "Lão mù mắt chứ không mù tâm đâu nhé. Cách đi cờ của một con người phản ánh đúng tính cách và số phận của người đó. Hôm trước lão đánh cờ với mày, mày đi cờ trầm ổn, bao dung, thủ như bàn thạch mà công thì sắc bén như kiếm nhọn giấu trong vỏ bọc. Người như mày, tuyệt đối không phải là một gã thợ hàn bình thường đâu."
Tiếng quân cờ gỗ gõ côm cốp xuống mặt bàn đá vang lên giòn giã giữa không gian tĩnh mịch của chiều đông. Hai người cứ thế kẻ qua người lại, thế cờ giằng co quyết liệt nhưng không hề có sát khí, chỉ ngập tràn sự tương tri và thấu hiểu.
Lão Tần với tay lấy chiếc ấm tích ủ trong giành mây đặt dưới chân ghế, rót ra một chén nước chè nụ ấm nóng đưa cho Thẩm Dịch. Ông lão ngửa đầu nhìn lên vòm lá hòe già, khẽ thở dài một tiếng:
"Dịch này, người ta bảo con người ta khổ nhất là khi bị mất mát. Nhưng lão sống ngót nghét tám mươi năm trên đời, lão nghiệm ra một điều: mất của cải, mất danh vọng, thậm chí mất đi một phần thân thể cũng chưa phải là đau đớn nhất. Đau đớn nhất là khi mình cảm thấy mình trôi dạt vô định giữa cõi đời, như một kẻ không chốn nương thân, không biết mình từ đâu tới và sẽ đi về đâu."
Bàn tay cầm quân Xe của Thẩm Dịch khẽ khựng lại giữa không trung. Lời nói của Lão Tần như đâm trúng vào góc khuất thầm kín nhất trong tâm hồn anh suốt thời gian qua – nỗi hoang mang tột cùng của một kẻ bị tước đoạt toàn bộ ký ức quá khứ bởi "Giao Thức Lãng Quên".
Nhìn thấy sự im lặng của người thanh niên trẻ, Lão Tần mỉm cười đôn hậu, chòm râu bạc rung rinh theo làn gió bấc:
"Nhưng mày có biết điều gì là may mắn nhất không?"
"Dạ... là điều gì hả ông?" Thẩm Dịch khẽ hỏi, ánh mắt chăm chú nhìn vào đôi mắt đục mờ của ông lão.
"Là dù mày có quên hết cả thế giới, thì thế giới này – những người yêu thương mày thật lòng – vẫn không bao giờ quên mày. Nhìn con bé Vãn Thanh mà xem. Mấy tháng trời nay nó chăm sóc mày, lo cho hai đứa nhỏ, ánh mắt nó nhìn mày chưa từng có lấy một giây ngập ngừng hay oán trách. Ký ức trong đầu mày có thể bị bụi thời gian hay một biến cố nào đó phủ lấp, nhưng cái tình nghĩa trong tim con người ta thì vĩnh viễn không phai mờ được đâu cháu ạ. Nó khắc sâu vào tận xương tủy rồi."
Lão Tần hạ một quân Tượng xuống, khẽ gõ nhẹ ba tiếng lên mặt bàn cờ:
"Quân Tượng không qua được sông, nhưng nó giữ vững hậu phương cho tướng sĩ xông pha. Người đàn ông của gia đình cũng như quân Tượng vậy. Không cần phải bay nhảy khắp bốn phương trời làm những chuyện kinh thiên động địa, chỉ cần cắm rễ thật sâu nơi mái ấm của mình, che chở cho vợ con khỏi giông bão cuộc đời, ấy đã là bậc đại trượng phu rồi."
Lời nói mộc mạc mà chứa chan triết lý nhân sinh của người cựu chiến binh già như một dòng suối ấm tưới mát tâm hồn Thẩm Dịch. Những hoài nghi, những dằn vặt về quá khứ bí ẩn dường như tan biến hết vào hư không. Anh thấy lòng mình nhẹ bẫng, thanh thản lạ kỳ.
Đúng vậy. Dù quá khứ anh từng là ai, từng gánh vác sứ mệnh gì vĩ đại đi chăng nữa, thì giờ phút này, anh là Thẩm Dịch – người thợ hàn của xưởng cơ khí ngõ Cột Cờ, người chồng của Lâm Vãn Thanh, người cha của hai đứa trẻ đang mong ngóng anh từng phút từng giây bên mâm cơm ấm cúng.
"Chiếu tướng!" Lão Tần đập mạnh quân Mã xuống, cười khoái chí khi thấy Thẩm Dịch đang thất thần.
Thẩm Dịch sực tỉnh, nhìn vào thế cờ rồi cũng bật cười sảng khoái. Anh khẽ đẩy nhẹ quân Tướng né sang một bên, tạo thành một thế hòa cờ tuyệt đẹp:
"Hòa cờ rồi ông ạ. Đẹp như một buổi chiều cuối năm."
"Khá lắm thằng nhóc! Lại nhường lão già này một nước rồi!" Lão Tần thu dọn quân cờ cho vào chiếc hộp gỗ tếch, xua tay cười ha hả: "Thôi, về đi! Khói bếp nhà ai cũng thơm lừng mùi mắm muối rồi kìa. Về mà ăn cơm với vợ con đi, kẻo con bé Vãn Thanh nó lại đứng ngóng ngoài hành lang rét buốt!"
"Dạ, cháu xin phép về trước. Hôm nào cháu lại ra hầu cờ ông tiếp ạ."
Thẩm Dịch đứng dậy, kính cẩn chào Lão Tần rồi quay bước hướng về phía khu chung cư cũ.
Dưới ánh đèn đường vàng ấm áp, gió bấc dường như đã bớt lạnh đi nhiều. Trong túi áo anh, củ khoai nướng vẫn còn tỏa hơi ấm ngọt ngào sưởi ấm lồng ngực. Bước chân người đàn ông thoăn thoắt, vững chãi, hướng về phía ô cửa sổ tầng bốn đang sáng rực ánh đèn vàng yêu thương. Ở nơi đó, có một gia đình nhỏ đang chờ anh trở về.