Lều trại của các môn phái dựng cả ở mạn Đông, nơi có suối mát và bóng cây rợp trời. Khoảng bìa rừng phía sau võ trường chỉ còn trơ lại với cỏ dại và vài gốc thông cụt ngọn. Đúng thứ mà Diệp Mộ Phong cần nhất lúc này. Cậu đã ngồi trên một phiến đá, kiếm gác ngang đùi, đầu cúi xuống chằm chằm nhìn bàn tay mình từ lúc mặt trời còn chưa chạm ngọn cây.
Năm vò rượu Tuần Châu đã được gia nhân lo liệu đem về lán trại của tông môn, nên Mộ Phong không bận tâm việc đó. Thứ mắc ngang họng lúc này mới khiến cậu khó chịu. Toàn bộ những gì cậu gom góp được trong tám năm, vậy mà không đủ chạm vào vạt áo gã thuỷ thủ đó. Trong đầu cậu, kết luận rút ra chỉ có một dòng ngắn ngủi rằng bản thân còn quá yếu. Luyện chưa đủ. Đọc chưa đủ. Cái nhịp thở lỡ ở chiêu thứ năm mươi mấy kia là bằng chứng không thể chối cãi.
Cậu bấm ngón tay tính lại lịch khổ luyện của mình, cắt bớt một canh giờ ngủ, dồn thêm vào giờ Dần. Từ mai. Không, từ đêm nay. Mộ Phong không hề nghĩ tới khả năng thứ võ học cậu vừa đối đầu nằm ngoài phạm vi trang sách mà tông môn từng dịch qua. Trong đầu Mộ Phong, sách của sư phụ là chân lý duy nhất. Nếu có trục trặc, lỗi nhất định nằm ở người thi triển.
"Ê! Tiểu huynh đệ mặt lạnh kia!" Tiếng hô vang từ phía sau lưng, chát chúa và trơ trẽn, xé toạc buổi chiều yên ắng.
Mộ Phong dỏng tai, ngẩng đầu về phía tiếng động. Cách đó chừng hai chục trượng, gã thuỷ thủ Trình Húc Đông đang đứng giữa năm cái vò sành to đùng, hai tay chống nạnh, mặt mũi nhăn nhó như đang giải một bài toán khó nhất đời. Gã đã thử vác hai vò lên vai, đi được ba bước thì cái thứ ba lăn ra khỏi tầm tay, thế là gã đặt cả xuống để nghĩ tiếp. Rõ ràng lúc gào lên đòi mười vò trước mặt thiên hạ, gã chưa hề tính tới chuyện làm sao mang chúng về.
"Đúng rồi, ngươi đấy!" Húc Đông vẫy tay rối rít, cười toe. "Khuân hộ ta hai vò!"
Mộ Phong chầm chậm quay đầu nhìn gã, rồi nhìn sang chỗ khác, rồi lại quay qua nhìn. Trong lồng ngực cậu có hai thứ lố bịch đang giằng co nhau, một là cơn giận rằng kẻ vừa cầm hoà mình lại dám sai bảo mình như sai một tên phu khuân vác, hai là cái cảm giác ngứa ngáy nơi khoé môi khi nhìn một gã đàn ông bị năm cái vò sành làm cho bó tay. Cậu chưa dám chắc suy nghĩ nào mới là đúng thì đã thấy Húc Đông cúi xuống. Gã xốc một vò lên bằng cả hai tay, xoay nửa vòng lấy đà mà tống thẳng nó về phía cậu. Vò rượu bay ngang khoảng trống, quay tròn, nắp sáp bắt lấy ánh chiều đỏ quạch.
Chẳng kịp nghĩ ngợi nhiều, Mộ Phong bật dậy khỏi phiến đá. Kiếm rơi xuống cỏ, hai tay cậu hứng lấy cái vò ở tầm ngang bụng, mượn đà lùi nửa bước để triệt tiêu lực. Trong lúc còn đang lấy lại thăng bằng thì vò thứ hai đã lao tới, lần này chếch sang trái ở vị trí thấp hơn. Cậu xoay hông thuận thế kẹp nó vào khuỷu tay còn lại. Không vò nào vỡ, không giọt nào sánh ra.
Húc Đông vỗ đùi đen đét, cười lăn lộn.
"Thấy chưa! Ta biết ngay là ngươi bắt được mà!" Gã cúi xuống ôm ba vò còn lại một cách khổ sở, chân bước loạng choạng nhưng miệng thì không ngớt. "Đi thôi, đằng kia có làng, có khách điếm, có cả bàn ghế nữa. Rượu ngon mà ngồi bệt giữa bãi cỏ thì phí của giời!"
Mộ Phong đứng chôn chân, hai tay bất giác siết chặt quanh hai vò rượu. Cổ họng cậu nghẹn lại vì không biết phải đối đáp ra sao mà không khiến mình trông càng lố bịch hơn.
Gã kia đã đi được một quãng còn ngoái lại giục. Cậu bèn cúi xuống kẹp chuôi kiếm bằng hai ngón tay và đi theo.
Phục Cốt Tông là một tông phái có vị thế không thể bàn cãi, nên dù vị trí di chuyển tới đại hội võ lâm thường niên có thuận tiện đi mấy chăng nữa người ta vẫn phải để chỗ mà dựng lán cho Thẩm Nguỵ Chân cùng tuỳ tùng ở mạn Đông võ trường.
Dưới bóng tấm bạt gấm dựng tạm, Thẩm lão đang tiếp chưởng môn Bắc Sa Phái. Chưởng môn họ Lãnh năm nay ngót sáu mươi, râu tóc bạc nửa đầu, dáng ngồi thẳng của một kẻ cả đời chỉ quen ngồi ghế chủ. Ba năm nay lão đã sai người tới Phục Cốt Tông hỏi mua quyển tàn thư về thuật bố trận của tổ sư Bắc Sa Phái, lần nào cũng bị khước từ bằng những lời lẽ nhã nhặn không có kẽ hở.
"Tiểu đồ đệ của giáo chủ quả là kỳ tài hiếm thấy, khiến lão phu mở mang tầm mắt." Lãnh chưởng môn nâng chén, nụ cười đậu trên môi ra chiều hiền hậu nhưng đôi mắt lão còn sắc hơn con dao bầu. "Nhất là cái thức kiếm dùng làm nhịp đệm ở giữa trận. Trưởng lão bổn phái đứng hàng đầu suýt thì gọi tên nó ra. Pho đó thất truyền đã tám chục năm, lão phu cứ ngỡ thiên hạ không còn ai biết. Hoá ra nó vẫn nằm yên ổn trong tàng thư quý tông."
"Mộ Phong trẻ người non dạ, hoạ vô đơn chí học lỏm được dăm chiêu, Lãnh chưởng môn quá khen." Thẩm Ngụy Chân nhấp một ngụm trà rồi mới tiếp lời. "Năm nay mưa muộn, không biết giá muối phủ Tuần Châu bên ấy đã lên chưa?"
Lãnh chưởng môn gật gù, nói vài câu vu vơ dự đoán giá muối sẽ leo thang trên tuyến Nam Thảo - Bắc Sa. Rồi lão đặt chén xuống, giọng vẫn đều đều như đang tiếp chuyện phiếm.
"Nhắc tới phương Nam mới nhớ. Đầu mùa này, lái buôn tuyến Bắc Sa về kể có mấy toán người liều mạng mò vào vùng tử địa bên Nam Thảo. Kẻ nào lết ra được thì da thịt thối rữa từ trong ra, thần trí đảo điên lẫn lộn. Nghe đâu toán nào cũng mang theo một mảnh giấy chép tay, nói là trích từ tàn thư cổ." Lão ngừng lại, liếc đôi mắt sang cạnh mà chẳng hề giấu diếm ác ý. "Tàn thư cổ thì thiên hạ này, ngoài quý tông ra, lão phu thật không nghĩ ra còn ai đủ tay nghề mà dịch."
"Nam Thảo xưa nay vốn là tử địa, kẻ hám lợi thì đời nào cũng có." Thẩm Ngụy Chân ngược lại đáp lời rất khoan thai.
"Đúng vậy, đúng vậy." Lãnh chưởng môn cười xoà, lão nhăn sống mũi ra chiều tâm đắc. "Có điều lạ hơn thế nữa kia. Nghe nói gần đây có kẻ đi khắp các ngõ hẻm, hễ gặp những người mang cái bệnh thối rữa ấy là ra tay ru cho họ ngủ một giấc, tỉnh dậy thì dịu hẳn đi. Mà người có bản lĩnh như thế mà lại chịu đi làm phước không công? Lão phu cứ nghĩ mãi, chẳng lẽ là do giáo chủ phái đi thu dọn hậu quả?"
Lãnh chưởng môn vừa dứt câu, một bóng người mặc áo xám liền luồn qua khe bạt, quỳ một gối bên trái Thẩm Ngụy Chân. Hai tay y dâng lên một mảnh giấy gấp tư. Lão Thẩm đưa tay trái cầm lấy mảnh giấy rồi mở ra bằng ba ngón, mắt lướt qua nhanh đến nỗi người đối diện chẳng kịp nhận ra là lão đang đọc.
Trên giấy có mười mấy chữ. Cổ trùng ở Nam Thảo đã lấy được, đang trên đường về tổng đàn.
Rồi một dòng nữa với nét bút đè mạnh tới rách cả giấy. Toàn bộ những người bước ra khỏi đó đều tẩu hoả nhập ma, da thịt lở loét từ trong ra ngoài, vô phương cứu chữa.
Thẩm Ngụy Chân gấp mảnh giấy lại theo đúng nếp cũ, nhét vào tay áo, phẩy nhẹ hai ngón tay. Bóng áo xám lui ra không một tiếng động.
"Chưởng môn nghe chuyện người đi ru ngủ ấy," lão hỏi, giọng hoà nhã như hỏi thăm sức khoẻ, "là ở phủ nào vậy? Trước hay sau tiết sương giáng?"
Lãnh chưởng môn thoáng khựng, rồi cười xoà vì ngỡ đối phương đang tìm cách chối.
"Mé Tây phủ Đường Tam, mới tháng trước thôi. Người kể là một tay lái buôn quen, lão phu cũng chỉ nghe lại."
Ngón út bọc hộ giáp mạ vàng gõ xuống nắp chung trà đúng một nhịp.
"Quyển sách chưởng môn hỏi mấy năm nay," Thẩm Ngụy Chân nói, nụ cười ghim chặt lấy khoé môi lão, "sang xuân lão phu sẽ cho người mang tới tận núi."
Khách điếm trong làng lợp tranh, sàn gỗ mọt, cả gian chỉ có bốn cái bàn và một lão chủ quán ngủ gà gật sau quầy. Húc Đông chọn cái bàn sát cửa sổ, gã đặt năm vò rượu thành một hàng dưới chân ghế như hàng rào rồi gọi hai cái chén sứ.
Suốt quãng đường từ bìa rừng tới đây, gã đã nói không nghỉ. Nói về con tàu gã theo, về tên thuyền phó ngáy to tới mức cá dạt vào lưới, về chuyện gã từng ăn phải một loại sứa khiến lưỡi tê ba ngày. Mộ Phong không đáp lấy một tiếng nào, mắt cứ dán chặt vào con đường trước mặt mà đi cho vững, còn trong đầu cậu đã tính toán rất rõ ràng.
Cậu đã đoán ra ý đồ của gã từ lúc vò rượu đầu tiên bay tới, hẳn là muốn có bạn uống. Được thôi. Nếu quả đúng như vậy, cậu sẽ ngồi xuống và uống cạn bằng hết chỗ rượu của gã, uống tới lúc gã phải trả giá cho cái câu "ta không đánh kẻ đang yếu" bằng đúng năm vò Tuần Châu thượng hạng. Đó là cách trả đũa duy nhất trong ngày hôm nay mà cậu chắc chắn mình làm được.
Húc Đông thậm chí chẳng buồn giấu. Vừa đặt mông xuống ghế, gã đã đập tay lên mặt bàn.
"Đấu tửu lượng. Ngươi với ta. Ai gục trước thì thua."
"Ngươi vừa cầm hoà ta trên lôi đài." Mộ Phong kéo ghế ngồi xuống, kiếm đặt tựa vào cạnh bàn. "Giờ lại muốn thua ta một lần nữa cho đủ bộ?"
Húc Đông cười ha hả, bẻ nắp sáp vò đầu tiên.
Hai chén đầu trôi qua trong im lặng. Tới chén thứ năm thì gò má Mộ Phong đã ửng lên, hơi men khiến cái trình tự chặt chẽ trong đầu bỗng lỏng ra một chút, dễ chịu tới mức đáng ngờ. Tới vò thứ hai thì đôi bên đã bỏ hẳn chuyện giữ kẽ. Húc Đông kể chuyện gã học được lối tránh đòn từ những đêm bão, khi boong tàu nghiêng đi ba mươi độ và kẻ nào bám vào lan can theo thói quen thì kẻ đó rơi xuống biển. Mộ Phong nói về chuyện chân khí phải đi hết một vòng mới được xuất chiêu, về việc mỗi pho võ trong tàng thư đều có một cái xương sống, tìm ra nó thì phá được cả pho.
"Ngươi nói nghe như mấy bà hàng chợ mổ cá vậy." Húc Đông gật gù ra chiều tâm đắc, hai tay gã lắc lư diễn tả hành động… băm thịt.
Mộ Phong dốc cạn chén, lúc này đã không còn đủ tỉnh táo để che đi cái nhếch mép.
"Ngươi thì như con cá nhảy loạn xạ trên thớt, chém không tài nào trúng." Cậu đặt chén xuống, ngón tay xoay nhẹ đáy chén một vòng cho ngay ngắn rồi ngẩng lên.
Lượng rượu cậu uống cũng vừa đủ để ép ra câu hỏi cứ chắn ngang họng suốt từ chiều. "Môn của ngươi tên gì."
"Hử?"
"Cái lối di chuyển đó. Nó thuộc pho nào, ai truyền cho ngươi, tên gọi là gì."
Húc Đông ngừng nhai miếng đậu rang, ngẫm nghĩ một lát với vẻ mặt nghiêm túc hiếm thấy, rồi đáp:
"Lôm Côm Quyền."
Cái lưng Mộ Phong bỗng thẳng tắp. "Cái gì?"
"Lôm Côm Quyền." Húc Đông nhắc lại, thản nhiên như đang đọc tên một món ăn. "Đám thuỷ thủ trên tàu đặt cho. Tại nhìn ta đánh lôm côm quá."
"Ai truyền cho ngươi."
"Không nói được. Ta cũng đâu nhớ mặt người đó." Gã thuỷ thủ thản nhiên thảy một miếng đậu rán nữa vào miệng. “Mà ta cũng bịa ra gần hết, đó giờ chỉ nhớ khẩu quyết nghe như tiếng con sóng thôi.”
Trong khoảnh khắc đó, Mộ Phong thấy gian khách điếm chao đảo, và cậu biết rõ không phải do rượu. Tám mươi mốt kiểu khai thức. Mười hai lối khinh công lớn và ba mươi sáu dị bản. Bốn năm phần tàng thư nằm trong đầu cậu, được sắp xếp theo môn phái, niên đại và hệ kinh mạch, gọn gàng như những ngăn kéo trong tủ thuốc. Vậy mà thứ võ công đã cầm hòa cậu hôm nay chẳng thuộc cái ngăn kéo nào.
Mộ Phong thở dài, rót đầy một chén cho bản thân rồi cạn sạch trong một hơi.
Vò thứ tư vơi được nửa thì trời đã tối hẳn. Lão chủ quán thắp một ngọn đèn dầu đặt giữa bàn rồi rút vào trong, để mặc hai vị khách với cái hàng rào vò sành đang rỗng ruột dần.
Húc Đông xoay chén trong tay, và lần đầu tiên trong ngày hôm ấy giọng gã trầm hẳn xuống.
"Này. Ta hỏi thật, đừng cáu."
Mộ Phong hất cằm ra hiệu cứ nói.
"Cái ông lão ngồi trên đài cao, áo thêu con rồng đen ấy. Sư phụ ngươi hử?" Húc Đông chống cằm nhìn ra ngọn đèn. "Lúc ngươi đứng chết trân giữa sàn, ta có ngước lên nhìn ông ta một cái. Ta từng thấy ánh mắt đó rồi. Hồi tàu ghé bến Lưỡng Long ngoài mạn Nam cảng Đông Hải, có gánh xiếc rong dựng lều ngoài chợ. Ông chủ gánh đứng bên cái lồng sắt trước giờ diễn nhìn con thú của mình đúng y như thế. Ông ta chăm chú ngó xem cái chân sau của nó lành lại tới đâu, đêm nay có nhảy qua vòng lửa được không–"
Chợt tiếng ghế đổ vang lên khô khốc. Mộ Phong không nhớ mình đã rút kiếm lúc nào. Cậu chỉ thấy mình đang đứng chống một chân lên gờ bàn, mũi kiếm kề sát yết hầu kẻ đối diện, gần tới mức chỉ cần Húc Đông nuốt nước bọt là lưỡi thép sẽ cứa vào da. Bàn tay khổ luyện tám năm để cầm kiếm thì vững, nhưng cả cánh tay lại đang run lên từng đợt rất nhỏ. Lời Húc Đông như chạm nọc, lật tung một cánh cửa ẩn sâu trong tâm trí Mộ Phong và khiến cơn hoảng loạn cào cấu cổ họng cậu ta hòng thoát ra ngoài.
"Nói lại lần nữa xem!" Giọng cậu khản đặc. "Ngươi là cái thá gì mà dám nói về sư phụ ta! Một gã thảo khấu vô danh, không sư thừa, không môn phái, mở miệng ra là bôi nhọ Phục Cốt Tông uy chấn giang hồ. Nói lại đi!"
Húc Đông không nhúc nhích, cũng chẳng có vẻ gì là sợ hãi hay hối lỗi. Gã đảo mắt nhìn lưỡi kiếm kề cổ mình một cái như nhìn một con ruồi đậu trên tay rồi ngước lên.
"Ta có sao thì nói vậy thôi." Gã nhún vai làm mũi kiếm cọ vào da cổ. "Mà thôi bỏ đi. Ngồi xuống. Còn hơn một vò rưỡi, ngươi mà bỏ ngang bây giờ thì coi như thua ta lần thứ hai trong một ngày đấy nhóc."
Thân là đại đệ tử của Phục Cốt Tông, Mộ Phong biết mình phải xuống kiếm, đó là điều hiển nhiên khi có kẻ dám bôi nhọ giáo chủ. Nhưng cánh tay cậu không nhúc nhích nổi, bởi nếu lời gã kia thực sự là bịa đặt thì cậu đã sớm chém xuống rồi.
Mộ Phong lưỡng lự một hồi mới thu kiếm, động tác nhanh và hoa mỹ hơn cần thiết như cố che đi cái khoảng lặng ban nãy. Cậu dựng lại cái ghế đổ rồi ngồi xuống, tự rót đầy chén mình.
"Uống." Cậu nói, không nhìn đối phương. "Ngươi mà gục trước thì tự bò về."
Húc Đông nhe hết cả hai hàm răng như thể ba khắc vừa rồi chưa từng xảy ra.
Tới lúc trên bàn chỉ còn lại một vò chưa khui, cả hai đã ngồi bệt cả xuống sàn, lưng dựa vào chân ghế, đầu ặt ngửa ra sau. Chẳng ai gục, nhưng cũng không còn kẻ nào đủ tỉnh để luận thắng thua.
"Này." Húc Đông gõ gõ ngón chân vào cái vò cuối cùng. "Uổng thật đấy."
"Uổng gì."
"Thứ này ở đây thì rẻ, một vò đổi được ba con gà. Nhưng mà ngoài bến cảng Đông Hải, rượu Tuần Châu chính hiệu có dán triện đại hội võ lâm ấy à, đám lái buôn phương Bắc tranh nhau mua. Ta thấy có kẻ hét tới mười lăm lạng một vò mà vẫn có người trả tiền." Gã quay đầu sang, mắt vẫn lờ đờ nhưng sáng lên một tia rất tỉnh. "Ngươi cũng có năm vò đúng không. Ta góp một nữa là sáu. Ngươi tính thử xem sáu vò thì ra bao nhiêu."
Mộ Phong im lặng hồi lâu đợi các đường kinh mạch chạy rần rần trong đầu dịu lại. Khi đã bình tĩnh hơn thì con số hiện ra gần như tức khắc, chín mươi lạng, và liền theo là một cung đường gọn gàng không kém. Chỗ để giấu rượu mà gia nhân của tông môn không lui tới. Cái cớ hợp lý để giải thích năm vò rượu biến mất. Khoảng thời gian giữa giờ Tuất và canh ba khi tuần đêm đổi phiên.
Mộ Phong biết việc mình đang chuẩn bị làm đáng ghê tởm tới mức nào. Vi phạm luật sư thừa, không phải do bị ép mà là cố tình toan tính. Vậy mà cảm giác ghê tởm bản thân ấy đợi mãi chưa chịu tới.
Sau cùng, cậu đáp lời Húc Đông bằng tông giọng lạnh tanh như vọng lại tiếng của lão già có đôi lông mày muối tiêu.
"Để ta nghĩ."
Trại của Phục Cốt Tông đã tắt đèn quá nửa khi Mộ Phong về tới. Cậu ghé qua gian chứa đồ nơi năm vò rượu của cậu được xếp ngay ngắn dưới tấm bạt, đặt cạnh mấy hòm binh khí. Mộ Phong đứng trong bóng tối khá lâu mới cúi xuống ôm lấy một vò rồi một mạch đi về phía lều lớn.
Thẩm Ngụy Chân hẵng còn chưa ngủ. Lão ngồi trước một chồng sách, một tay cầm bút lông chấm son khoanh vòng lên một trang giấy ố vàng. Nghe tiếng bước chân, lão điềm nhiên vẽ tiếp mà không ngẩng lên.
Mộ Phong quỳ một gối, cẩn thận đặt vò rượu xuống trước mặt sư phụ.
"Bẩm sư phụ. Đồ nhi được năm vò Tuần Châu." Cậu cúi đầu, giọng đều đặn bẩm báo bằng những chữ đã tính sẵn trên đường về. "Ban chiều có các vị anh hùng hào kiệt phương xa ngỏ lời, đồ nhi mạn phép cạn chén cùng họ, cũng là để giữ hoà khí cho tông môn. Bốn vò kia đã hết. Còn lại vò này, đồ nhi xin biếu sư phụ."
Ngòi bút trên tay Thẩm Ngụy Chân dừng lại giữa nét son đang vẽ dở. Lão đặt bút xuống nghiên, chậm rãi ngẩng đầu. Ánh mắt lão hạ xuống cái vò sành, rồi nhấc lên găm thẳng vào đỉnh đầu đứa đồ đệ đang cúi sâu. Mộ Phong là đứa thế nào, trong tay lão đã nắm rõ cả. Một đứa cứng nhắc như nó mà lại đi giao du tửu lượng với hào kiệt giang hồ?
Ngọn nến trên bàn cháy hết một đoạn bấc, tàn than cong xuống. Mộ Phong không ngẩng đầu, bởi cậu cảm nhận được sức nặng từ ánh nhìn của sư phụ đang đè lên gáy mình. Sự uy áp im lặng khiến cậu bắt đầu nghe rõ tiếng máu chảy trong tai.
Sau cùng, Thẩm Ngụy Chân vẫn đưa tay kéo vò rượu về phía mình rồi đặt nó xuống cạnh chân bàn. Đoạn, lão vẩy hai ngón tay về phía đứa đồ đệ. Mộ Phong cúi rạp hành lễ lần nữa mới lui ra.
Điểm hẹn của Mộ Phong và Húc Đông là gốc hoè cụt ngọn ở rìa phía Tây khu trại, chỗ tuần đêm đi vòng qua chứ không cắt ngang. Cậu đã dặn Húc Đông rất kỹ, rằng đợi cả đoàn trở về từ võ trường hẵng ra điểm hẹn.
Hôm ấy Mộ Phong tới từ đầu giờ Tuất. Cậu đứng dựa lưng vào thân cây, hai tay khoanh trước ngực, miệng lẩm nhẩm đếm. Đến nhịp thứ chín trăm bốn mươi, một bóng người đầu tóc rối xù mới lò dò từ bụi rậm chui ra, tay còn cầm dở một xâu chả nướng.
"Chín trăm bốn mươi." Mộ Phong nói ngay khi Húc Đông chưa kịp đứng thẳng người.
"Hử?"
"Ngươi hẹn ta đầu giờ Tuất. Ta đứng đây chín trăm bốn mươi nhịp thở, trời thì sương lạnh, cạnh một cái cây có tổ kiến lửa, còn ngươi nhởn nhơ ăn chả nướng." Giọng cậu vẫn phẳng như thường ngày, nhưng mỗi chữ đều được cắt gọt cẩn thận như một mũi kiếm. "Ta không cần ngươi xin lỗi. Chỉ muốn ngươi biết là ta đã đếm."
Húc Đông chớp mắt hai cái, gã phá lên cười và chìa xâu chả ra.
"Ăn không?"
"Không."
"Vậy thì cầm cái này." Gã ném sang một túi vải nhỏ móc từ trong ngực áo ra.
Mộ Phong thuận tay bắt lấy. Cái túi nặng hơn cậu tưởng, và khi cậu dốc ra lòng bàn tay thì đó là bạc vụn cùng mấy nén nhỏ, tổng cộng sáu chục lạng. Đúng bốn vò, mười lăm lạng một vò, không thiếu một phân. Vò cuối cùng của Húc Đông thì gã tự bán, tự giữ.
Cậu đứng im khá lâu với chỗ bạc trong tay.
Trước đó cậu đã tính là chín mươi lạng, rồi phải tính lại thành bảy mươi lăm sau khi đem một vò biếu sư phụ, rồi lại phải trừ đi phần của Húc Đông. Con số cuối cùng thì khớp. Cậu tin rằng gã kia hoàn toàn có thể bớt xén mà cậu chẳng có cách nào biết được, vậy mà gã lại không làm.
"Ngươi đếm rồi đấy à." Húc Đông cắn miếng chả cuối cùng, nói qua kẽ răng. "Ta biết ngay mà."
Mộ Phong nắm chặt túi bạc, quay lưng đi thẳng mà chẳng đáp lời nào.
Cậu giấu túi bạc dưới tấm ván lỏng ở đầu giường, và trong ba ngày liền cậu không đụng tới nó bởi cậu không biết tiêu tiền để làm gì.
Giáo chúng Phục Cốt Tông không có khái niệm tư hữu. Y phục do tông môn phát, cơm do nhà bếp nấu, binh khí do khố phòng cấp, đến cả thời gian ngủ cũng do quy điều ấn định. Mộ Phong đã sống trong cái trật tự đó tám năm và chưa một lần thấy có gì thiếu sót, bởi thứ duy nhất cậu muốn thì tiền không mua được. Cậu thử nghĩ tới việc mua một thanh kiếm tốt hơn rồi tự gạt đi ngay, vì kiếm do tông môn phát đã đủ sắc. Cậu nghĩ tới việc mua sách, nhưng sách trong tàng thư của sư phụ đủ đọc cả đời chưa hết.
Sáu chục lạng bạc ấy cứ nằm vô dụng như một hòn đá dưới tấm ván, cho tới ngày thứ tư khi cậu đi qua khu nhà của đám đệ tử nhỏ vào giờ Mùi.
Cậu vẫn đi qua đó mỗi ngày hai lượt, đúng con đường ấy suốt tám năm qua. Cậu thuộc lòng số bậc thềm, chỗ viên gạch vỡ ở bậc thứ tư, cái bản lề cửa kêu ở gian thứ hai. Nhưng hôm ấy có một thằng bé đang đứng tấn ở góc sân bỗng đổ nghiêng sang một bên, nó ngã sấp xuống nền đất mà không chống tay kịp.
Mộ Phong dừng khựng bước chân trên nền đá. Ánh mắt cậu dán chặt vào từng chuyển động của đứa nhỏ kia. Thằng bé lồm cồm bò dậy rất nhanh, mắt liếc quanh xem có ai thấy không, rồi lập tức vào tấn lại. Hai đầu gối nó run lên, còn Mộ Phong biết ngay không phải vì mỏi. Mắt cậu đảo nhanh xuống cái cổ tay đang thò ra khỏi ống áo của thằng bé, thấy khớp xương gồ lên rõ mồn một dưới lớp da.
Một ý nghĩ loé lên, và cậu đánh vòng ra phía sau nhà bếp. Trong gian phụ, đám nhỏ vừa ăn xong bữa trưa, cái nồi để giữa sàn đã được vét sạch bóng như gương. Trên mặt nước cháo còn sót lại trong lòng bát không có một váng mỡ nào.
Mộ Phong đứng đó, những con số nảy lên rất nhanh trong đầu. Một đấu gạo. Số miệng ăn ở khu này. Số bữa một ngày. Cậu chia ra rất nhanh, chỉ khác ở chỗ lần này tính toán không dành cho chiêu thức nào cả.
Tám năm đi qua sân này mỗi ngày hai lượt, Mộ Phong nhớ hết bậc thềm nào vỡ hay cái bản lề nào kêu, nhưng chưa từng biết bọn nhỏ ăn gì.
Ngày mồng ba, Mộ Phong dậy từ tờ mờ sáng trước cả khi gà gáy để chuẩn bị đi họp chợ phiên. Khi mặt trời ló rạng thì trên tay cậu đã có thịt lợn ba chỉ, cá khô, một túi đường phèn cùng hai chục cái bánh nếp. Cậu trả giá cực kỳ tệ. Mấy bà chủ hàng nói bao nhiêu cậu đưa bấy nhiêu, vì trong tàng thư của Phục Cốt Tông không có quyển nào dạy mặc cả.
Tối đó, cậu bày tất cả ra chiếu trong gian nhà đám nhỏ để chia. Cậu xếp mọi thứ tuần tự theo hàng. Bánh nếp hai mươi cái, đầu người mười chín, vậy là còn thừa một. Cái bánh dư ra khiến cậu ta nhìn chằm chằm vào nó một lúc lâu, nhịp thở xem chừng đứt quãng. Đám nhỏ gãi đầu gãi tai, mắt lấm lét ngước lên khuôn mặt cau có của đại sư huynh. Cuối cùng Mộ Phong cắt cái bánh ấy ra cho tới khi mỗi đứa có thêm một mẩu nhỏ bằng đốt ngón tay. Thịt thì cậu bắt xếp hàng, đếm từ trái sang phải, đứa nào đưa bát hai lần bị cậu gõ đũa vào cổ tay và bắt đứng ra cuối hàng.
"Không đứa nào được nhiều hơn." Cậu nói, giọng cáu kỉnh như đang mắng. "Đứa nào ăn xong mà còn thừa thì trả lại đây, ta chia cho đứa khác. Đừng có giấu trong tay áo, ta đếm rồi."
Bọn nhỏ răm rắp nghe theo, mắt tròn xoe, không đứa nào dám cãi. Đến khi cậu quay lưng đi ra cửa thì có một thằng bé gầy nhất bọn chạy theo giật vạt áo cậu, ngước lên hỏi tên.
Mộ Phong khựng lại. Theo trí nhớ, thằng bé này là đứa thứ tư kể từ đầu hàng bên trái.
"Diệp Mộ Phong."
"Đệ là A Đồng ạ." Nó nói, rồi cúi rạp người xuống một cái rõ sâu mới chịu chạy trở lại bên trong.
Mộ Phong đứng ngẩn người một lúc. Cậu nhận ra mình không hề nhớ tên đứa nào trong khu này.
Việc cứ thế lặp lại rồi trở thành nếp sau lần ấy.
Đại hội võ lâm chỉ có một mùa mỗi năm, nhưng rượu ngon và các loại cống phẩm quý ở kho của tông môn thì lúc nào cũng có, và Húc Đông thì quen mặt hết các chủ hàng từ đất liền ra tới cửa biển. Khi thì rượu hiếm, lúc lại dược liệu. Có lần, Mộ Phong không biết lấy đâu ra mẻ ám khí tẩm độc bị lỗi. Lần khác nữa là một túi trang sức cổ đúc từ bạc trắng, trên mặt có trạm trổ những hoa văn góc cạnh uốn lượn đan xen. Húc Đông ví chúng như hình trời đất và núi non, còn Mộ Phong thì chẳng để tâm lắm mà chỉ hỏi giá cả.
Cứ vài tuần lại có một chuyến hàng, một điểm hẹn dưới gốc hoè, một túi vải nhỏ đổi tay.
Mộ Phong thì ngày càng thạo mặc cả. Cậu lập một cuốn sổ riêng, ghi rõ ngày, số lượng, giá bán, số miệng ăn, và cậu giữ cuốn sổ đó cẩn thận hơn cả mấy cuốn bí kíp mượn về học.
Đám nhỏ bắt đầu chờ cậu ở đầu sân. Đứa nào cũng biết đại sư huynh mặt lạnh như tiền, mắng thì rát tai, đánh thì đau, nhưng trong tay áo lúc nào cũng có bánh.
Húc Đông thì thành khách quen của cả khu trại. Lần nào tới gã cũng mang theo rượu. Gã cứ thế ngồi bệt xuống đất giữa đám giáo chúng già, lúc thì kể chuyện biển khơi, khi lại hát mấy khúc hò kéo lưới sai nhịp be bét mà vẫn khiến cả sân vỗ tay theo.
Có hôm gã ở lại tới quá canh ba, uống say rồi lăn ra ngủ ngay cạnh đống lửa. Mộ Phong hôm đó ngồi cách gã một quãng, lưng dựa cột, tay cầm sách.
Khi ngẩng lên khỏi trang sách, cậu thấy một trong tứ đại hộ pháp đứng ở mép sân tối. Y khoanh tay nhìn về phía đống lửa rất lâu rồi quay lưng đi. Chắc mẩm y chỉ đi tuần, Mộ Phong cũng không bận tâm lắm.
Ánh mắt Mộ Phong trở lại nơi ánh lửa đỏ hắt lên mặt Húc Đông. Cậu nhìn hắn hồi lâu và nghĩ, gã này rốt cuộc cũng chỉ là hạng phàm phu. Nói thì to, cười thì lớn, hò hét cả buổi mà chẳng có lấy một chữ nào đọng lại. Cái thân thủ quỷ dị của gã có lẽ chỉ là ăn may của trời cho. Một kẻ không sư thừa, không đọc nổi một trang khẩu quyết thì tiền đồ tới đâu được.
Bên đống lửa bập bùng, Húc Đông hé mắt nhìn cái bóng ngồi thu lu với quyển sách. Gã nghĩ bụng, thằng nhóc này rồi sẽ chết ngộp trong đống giấy của nó mất thôi. Mà kệ xác nó. Gã thuỷ thủ cựa mình tìm tư thế thoải mái, tay gãi bụng sột soạt. Một hồi sau tiếng ngáy rống lại đều đều vang lên như trống hội.
Tiếng ngáy, tiếng giở sách sột soạt, tiếng than củi nổ lép bép trong ngọn lửa trại, chúng chẳng hoà hợp gì khi đặt cạnh nhau, nhưng lại rất đỗi êm đềm.
Sang đầu mùa mưa, Thẩm Ngụy Chân đi thị sát sân luyện của đám đệ tử nhỏ. Mỗi năm lão đều đi đôi ba lần, thường là lướt qua rất nhanh, chưa đầy một khắc là xong.
Tứ đại hộ pháp theo sát bước chân Thẩm lão gia, chợt họ khựng lại ngay khi lão gia dừng bước.
Lão chắp hai tay sau lưng mà nhìn mười chín đứa trẻ đang đứng tấn dưới mưa phùn. Mắt lão đi chậm từ trái sang phải, dừng lại ở vai, cổ tay và bắp chân từng đứa một, lạnh lùng như đang cân đo một lô hàng.
"Khu này ăn khẩu phần bao nhiêu." Lão hỏi mà không quay đầu.
Tên quản sự tháp tùng theo liền lật sổ, hắn đáp đúng con số đã định.
Lão già gật đầu một cái sắc lẹm rồi hỏi tiếp. "Sáu tháng trước cũng bấy nhiêu?"
"Bẩm giáo chủ, y nguyên ạ."
Thẩm Ngụy Chân im lặng thêm một lúc. Rồi lão rút từ tay áo ra một cuốn sổ nhỏ bìa da để viết vào đó chừng hai dòng, nhanh tới độ chẳng ai nhìn thấy lão viết gì. Xong thì lão gấp sổ đút lại vào tay áo, rồi lão điềm nhiên đi tiếp sang khu khác. Tứ đại hộ pháp nối bước mà không nói thêm câu nào.
Chiều hôm đó, Mộ Phong được gọi lên đại điện để trình bày tiến độ luyện công hằng tháng.
Cậu quỳ ngay ngắn và đọc thuộc lòng từng mục theo đúng thứ tự, không thừa một chữ. Thẩm Ngụy Chân nghe hết, gật đầu ba lần đúng vào ba chỗ đáng chú ý rồi phẩy tay cho cậu lui.
Mộ Phong dập đầu đứng dậy. Đi được nửa gian điện thì cậu nghe tiếng sư phụ vang lên sau lưng.
"Đám nhỏ khu Tây dạo này trông khá hơn."
Cậu đứng sững lại, máu dồn hết lên mặt trong một nhịp thở. Phải mất thêm nửa nhịp nữa Mộ Phong mới nhớ ra là mình đang phạm luật cấm tư hữu. Lẽ ra cậu phải sợ, bởi nếu sư phụ đã biết chuyện rượu thì cậu đang đứng cách một trận phạt đòn không xa.
Nhưng lão không nhắc tới rượu.
"Giữ như vậy." Thẩm Ngụy Chân nói, mắt vẫn dán vào trang sách trước mặt. "Lui đi."
Mộ Phong lui ra khỏi đại điện, đi hết cả dãy hành lang dài cậu mới nhận ra hai bàn tay mình đang run.
Tám năm cậu dâng lên tiến độ luyện công mỗi tháng, ngày giờ chuẩn chỉnh không sót một lần, và tất cả những gì cậu nhận lại là ba cái gật đầu đúng chỗ. Vậy mà đêm nay, chỉ vì mười chín đứa trẻ ở khu Tây có thêm miếng thịt trong bát, sư phụ đã nói với cậu một câu ngoài lệ.
Đêm đó, Mộ Phong nằm xuống chiếu và quên cả việc đếm nhịp thở trước khi ngủ. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, cậu ngủ được một mạch tới sáng.