Hôm ấy sau khi đón rượu Tuần Châu từ chỗ lán của Phục Cốt Tông sát sườn võ trường, Húc Đông mượn hẳn chiếc xe kéo chở cả năm vò ra phiên chợ đầu ngày ở bến. Sớm tinh mơ mà chợ đã đông không kể. Đi tới đâu là gã hỉ hả cười đùa tới đó, bởi ai gã cũng quen cũng biết.
Rìa mạn Tây chợ có ông chủ hàng cá họ Quách, tính tình hiền lành hoà nhã, được bà vợ đanh đá kéo lại. Tiện đi ngang qua, Húc Đông vẫy tay chào nhiệt tình. Ông chủ hàng gật đầu rất nhẹ, mắt lén đảo về phía bóng lưng bà vợ đang lúi húi bưng mấy khay cá biển tươi rói ra trước quầy.
Ông chủ họ Quách này hay trốn vợ ra uống rượu cùng đám thuỷ thủ Đông Hải, ông uống rất nhiều mà chẳng thấy say bao giờ, tính tình hào sảng hay móc hầu bao trả cho hảo hữu. Mỗi lần bà vợ biết chuyện đều mắng vốn ông rất lâu, song chưa lần nào lẻn được ra mà ông để đám Húc Đông tự chi. Huynh đệ bến tàu nhiều lần khuyên can đều bị ông túm đầu kẹp vào khoeo tay, thực không tài nào nói tiếp được.
Đương nghĩ ngợi lung tung, Trình Húc Đông bỗng thấy lạnh toát sống lưng, gã cắm cúi kéo cái xe chở năm vò rượu đi thẳng không dám ngoảnh lại. Ánh mắt sắc hơn con dao bầu của đại tẩu họ Quách cứ gườm gườm nhìn từ ông chồng sang thằng nhãi thuỷ thủ nọ.
Quả là đáng sợ. Húc Đông nuốt nước miếng cái ực, thầm nghĩ ngợi trong bụng. Thành thân mà thở còn chẳng dám thế này, ta thà ở giá còn hơn.
Gã kéo cái xe tới mạn Bắc thêm dăm bước nữa. Gã cũng chẳng đếm xem cần bao nhiêu bước, chân cứ quen quen con đường gồ ghề, mắt cứ thấy đúng mặt người là đến nơi.
“Trần huynh, nay đắt hàng chứ?” Trước khi kịp chen vào gần trong quầy, cái giọng oang oang của Húc Đông đã vang lên.
Ngay khi lời vừa dứt, một tên đàn ông trung niên râu tóc oai hùm, thân thể bệ vệ, mặt mày hớn hở liền quay ra phía gã thuỷ thủ. Tên này là tay buôn rượu nổi tiếng ở bến cảng, rượu gì cũng có, lại khéo ăn nói nên càng được lòng khánh quan. Húc Đông cũng là mối quen của tay buôn họ Trần này suốt hơn hai năm nay, tuy nhiên đây là lần đầu gã thuỷ thủ có được mẻ rượu “đệ nhất thiên hạ” mà hảo hán giang hồ ai cũng khao khát một lần nếm thử.
“Tiểu huynh đệ, nay có hàng sớm thế?” Đôi mắt sành sỏi của tên buôn rượu lập tức nhắm thẳng tới cái dấu phù đại hội tỉ võ ngay sát nắp vại sành, quét qua cả năm cái vò rồi mới trở lại với Húc Đông. “Ái chà, Trình đệ trộm được mấy cái vò này ra đấy hả?”
Húc Đông cười lớn, tiện tay đấm liền mấy cái lên vai tên lái buôn. Những cú đấm tưởng nhẹ hều, vậy mà khi rời tay ra vẫn hằn lên vệt trên áo vải, chứng tỏ kình lực của Húc Đông tuy không mang sát khí nhưng lại dồn dập theo từng chiêu. Nếu Húc Đông thực sự phát kình, e rằng liên hoàn quyền vừa rồi có thể đục tung bả vai người ta, bởi tên lái buôn cũng bất giác nhăn mặt xoa vai.
“Huynh chỉ khéo đùa!” Gã thuỷ thủ khệ nệ chất mấy vò rượu xuống khỏi xe kéo, miệng không ngơi câu nào. “Ta đường đường chính chính đi đấu võ với người ta rồi thắng được đó. Chứ cái vò to thế này, huynh bảo ta trộm ra thế nào?”
Tên lái buôn họ Trần cười khà khà, đoạn gã phẩy tay cho người ra tiếp quầy để tập trung về chỗ rượu Húc Đông mang tới. Xa xa, tiếng tù và vang lên văng vẳng bên tai, là tiếng báo hiệu các tàu buôn chuẩn bị nhổ neo trong chưa đầy một canh giờ nữa.
“Nghe nói nếu thắng phải được mươi vò mà? Sao còn có năm?” Tên lái buôn tay vuốt râu, tư thế lập tức đứng thẳng. Mắt hắn đảo hơn chảo lạc rang, từ mấy vò rượu tới chỗ buồm tàu đang chực gióng lên.
“Thì ta uống với bên kia hết năm vò rồi.” Húc Đông gãi đầu, hai hàm răng lại chực nhe ra.
“Chưa gì đã uống với nhau vậy?”
“Huynh không biết chứ,” Gã thuỷ thủ đứng lùi lại, hai chân xuống tấn còn hai bàn tay đan vào nhau tạo dáng cầm kiếm, "tên nhóc đó đánh khá lắm! Nó đang chém tới thì thả kiếm rơi từ tay phải rớt xuống tay trái để chém lên mà! Hiếm khi mới gặp kỳ tài như vậy, ta nào có tiếc mấy vò rượu?”
Tên lái buôn họ Trần nghe xong thì cười phì, nhưng tay vẫn chưa rời chòm râu. Hắn cúi xuống gõ gõ đốt ngón tay lên thành vò, nghiêng tai nghe tiếng rượu sóng sánh bên trong, rồi lắc đầu ra chiều tiếc nuối.
"Rượu thì đúng là rượu Tuần Châu thật." Hắn tặc lưỡi. "Có điều Trình đệ cũng biết, mùa này bến mình hàng về nhiều, rượu ngon cũng phải xếp hàng mà đợi người mua. Huynh trả mười lạng một vò, coi như nể cái tình mấy năm nay làm ăn chung."
Húc Đông gãi cằm, "à" lên một tiếng dài.
Gã chẳng nói, nhưng biết tỏng mười lạng thì chỉ ngang cho không. Đôi mắt tưởng như dại đi vì nát rượu cũng đảo nhanh không kém tên lái buôn. Chỉ một thoáng, Húc Đông khoá ngay tầm mắt vào đôi bàn tay của tên chủ hàng họ Trần. Hai năm nay, mỗi lần tên buôn rượu thật lòng chê hàng thì hắn đều phẩy tay rất dứt khoát, đuổi như đuổi ruồi. Còn hôm nay thì cái tay ấy cứ bám riết lấy chòm râu mà liên tục vuốt xuống như sợ buông ra thì mất của. Hơn nữa, từ lúc tiếng tù và vang lên tới giờ, hắn đã liếc về phía cầu tàu mạn Bắc những ba lần.
Húc Đông giả vờ duỗi chân tay mà nhón lên nhìn theo. Ở đó, một con thuyền buôn cắm cờ Bắc Sa đang hối hả xếp hàng xuống khoang. Dưới chân cầu tàu, một ông khách vận áo lông cừu dày sụ, đầu đội mũ lông, tay chắp sau lưng, chốc chốc lại ngó sang dãy quầy rượu với vẻ sốt ruột ra mặt.
"Mười lạng à?" Húc Đông nhắm tịt mắt ra chiều nghĩ ngợi, rồi cúi xuống khệ nệ ôm một vò lên xe kéo. "Thôi thì ta không làm khó Trần huynh. Huynh mua làm gì cho chật quầy, tiện đường ta đẩy sang hỏi ông khách mũ lông bên kia một tiếng xem sao. Tàu người ta nhổ neo tới nơi rồi, chắc chẳng có thời gian mà xếp hàng đâu nhỉ?"
Vò thứ hai vừa nhấc khỏi mặt đất thì một bàn tay to bè đã chụp lấy cổ tay gã.
"Khoan, khoan đã!" Trần huynh cười, nhưng nụ cười đã cứng lại nửa phần. "Tiểu huynh đệ nóng tính quá. Thôi được, mười hai lạng."
Húc Đông chớp mắt một cái, tay gã vẫn nhấc tiếp vò thứ hai đặt lên xe.
"Mười ba!"
Gã thuỷ thủ điềm nhiên cúi xuống ôm tới cái vò thứ ba.
"Mười lăm lạng một vò, không hơn được nữa đâu!" Tên lái buôn buông cổ tay gã ra, vỗ hai bàn tay vào nhau đánh đét như vừa thua một ván bài, mắt mũi trợn trừng như phải bỏng. "Hơn nữa thì ta lỗ vốn, cả nhà ta ra bến uống nước biển mà sống!"
Nghe tới đúng lượng mình cần, Húc Đông mới dừng tay ngẩng lên nhìn. Lần này thì Trần huynh đã buông chòm râu ra. Hai vành tai hắn đỏ ửng, mắt cứ dán vào mấy cái vò chứ không còn liếc sang cầu tàu nữa. Đây đúng là bộ dạng của người đã móc tới đáy túi, ép thêm nữa thì chỉ còn hoặc là bỏ, hoặc là ôm hận.
"Được!" Húc Đông cười toe, thoăn thoắt dỡ hết mấy vò vừa chất lên xe xuống đất. "Mười lăm thì mười lăm. Huynh gói cho ta hai túi riêng nhé, một túi một phần, túi kia bốn phần bạc. Huynh chia giúp ta cho đều, ta chẳng biết đếm chác đâu."
Tên lái buôn họ Trần nhìn gã như nhìn một tên ngốc vô tri, nhưng vẫn quay vào trong lấy cân tiểu ly ra cân bạc. Húc Đông đứng ngoài quầy, tiện tay nhón một hạt lạc rang trên mẹt bỏ vào miệng nhai rau ráu chứ chẳng thèm nhìn cân lấy một lần. Hai năm nay gã chưa thấy Trần huynh cân thiếu cho ai, mà nếu có thiếu thì chắc hắn cũng chỉ được một lần thôi. Húc Đông hiểu nếu đã đồng ý làm ăn, một lần bất tín ắt vạn lần bất tin.
Khi hai cái túi vải được đặt vào tay, gã nhét túi nặng hơn vào sâu trong ngực áo, vỗ lên hai cái cho chắc, rồi mới giắt túi kia vào thắt lưng. Trên đường vòng lại trả xe rồi tìm gốc hoè cụt ngọn chỗ thằng nhóc mặt lạnh, gã móc túi bạc bên thắt lưng mua hai xâu chả nướng. Ai cũng thích ăn chả nướng hết. Không thì gã tự xử.
Khoảng độ dăm tháng sau, khi Húc Đông vừa bán mẻ rượu mới xong và đang kéo trả xe về thì nghe tiếng gọi quen lắm.
"Đông ca! Mấy hôm nay đi đâu mất mặt thế?"
Ba gã thuỷ thủ cùng tàu đang ngồi chồm hổm quanh một manh chiếu trải dưới gốc bàng, giữa chiếu là một vò rượu nếp đã vơi gần nửa cùng mấy cái bát sành. Trời mới sáng bạch mà đứa nào mặt cũng đỏ như gấc.
"Ngồi xuống làm chén đã!" Gã cầm đầu, một tay to con có vết sẹo cắt ngang lông mày, kéo tay Húc Đông xuống. "Đang dở câu chuyện hay, ngồi nghe cho vui."
Húc Đông ngồi xổm xuống mép chiếu, nhưng tay gã không cầm bát. "Chuyện gì, nói ta nghe coi?"
"Chuyện lão già uống chực ở quán bà Tứ chứ còn chuyện gì." Gã thuỷ thủ gầy nhất bọn càu nhàu, mặt vẫn còn ấm ức, giọng đã bắt đầu lè nhè tới bẹt hết cả tiếng. "Hôm kia ta vừa gọi được bát rượu, chưa kịp nhấp môi thì có một lão già ở đâu tới ngồi phịch xuống ghế bên cạnh. Lão chẳng chào chẳng hỏi, cầm luôn cái bát của ta lên tu sạch. Lúc đặt xuống, lão còn chép miệng chê rượu nhạt, mấy vị huynh đệ bảo thế có tức không chứ?"
Húc Đông cùng hai tên còn lại bá lấy vai nhau rồi bụm miệng, không dám bật cười thành tiếng.
"Thế mà chưa hết." Gã gầy nhặt hạt lạc ném lên trời, đợi nó rớt xuống miệng mới nhai nhồm nhoàm. "Uống xong lão còn quay sang hỏi ta có cuốn sách cũ nào không, sách gì cũng được, càng cũ càng tốt, rách nát cũng lấy. Ta bảo ta một chữ bẻ đôi còn chẳng biết thì lấy đâu ra sách. Lão nhìn ta từ đầu tới chân rồi gật gù bảo, ừ, cũng phải."
Ba tên thuỷ thủ còn lại cười không nhặt được miệng, tay đập bộp bộp lên manh chiếu, tiếng cười giòn tan của họ át đi tiếng càu nhàu của tên thuỷ thủ gầy nhom.
"Lão đó ta cũng gặp rồi." Tên sẹo vừa cười vừa quệt nước mắt. "Ở bến Bắc tháng trước. Cũng đúng cái trò ấy. Đi tới đâu là uống chực tới đó, uống xong là hỏi sách. Nghe đâu lão còn mò vào cả nhà thầy đồ trong làng, lục tung cái rương sách mọt của người ta lên rồi mới chịu đi."
"Lão gàn thật." Gã thứ ba với vết bớt trên vai trái lắc đầu. "Già đầu rồi còn đi lượm sách cũ. Cái thứ đó thì đem nhóm bếp còn nghe được, chứ lượm về có tác dụng quái gì?"
Húc Đông cười hô hố, đấm vào vai gã gầy một cái. "Thế ngươi phải đòi lão trả tiền bát rượu chứ!"
"Đòi rồi! Lão bảo lão trả bằng một lời khuyên." Gã gầy hậm hực. "Lão khuyên ta bớt uống đi kẻo chết sớm!"
Cả chiếu lại cười nghiêng ngả. Tên sẹo thở dài ra chiều nhịn cười, đoạn hắn rót đầy một bát chìa sang cho Húc Đông.
"Nào, uống đi rồi kể chuyện đại hội cho anh em nghe. Nghe đồn dăm tháng trước ngươi lên đài đấu với cả đệ tử Phục Cốt Tông cơ à?"
Húc Đông nhìn cái bát một lúc. Rượu nếp trong vắt, thơm lừng mùi men, sóng sánh bắt lấy nắng sớm. Đương lúc đầu óc trống rỗng, tiếng gói bạc sột soạt nơi ngực áo vang lên kéo gã về thực tại. Gã đặt cái bát ra xa rồi đứng lên.
"Để hôm khác." Gã nhe răng cười. "Hôm nay ta có hẹn."
Tên gầy rú lên, tiện tay vớ cái bát vừa rót xong kê ngay miệng. "Hẹn ai thế? Chưa chi đã để ý tăm tia cô nương nào rồi? Thế mà không ới bọn ta một tiếng, huynh đệ thế đấy!"
"Hẹn với thằng nhóc khó tính nhất thiên hạ." Húc Đông kéo cái xe trống lại, vừa đi vừa ngoái đầu. "Trễ một tí thôi là nó đứng đếm nhịp thở cho ta nghe tới tận sáng!"
"Chịu đấy, hẹn gái không hẹn lại đi hẹn thằng nhóc nào!"
Bọn thuỷ thủ cười hô hố vọng theo, rồi khi đã đi đủ xa thì Húc Đông hẵng còn nghe thấy tiếng chén bát va vào nhau, chắc mẩm chúng nó còn uống tới chiều.
Húc Đông tới đúng đầu giờ Tuất như mọi bận. Gã định bụng sẽ đem chuyện nhịn hẳn một chầu rượu ra kể lể cho thằng nhóc kia phải xanh mặt. Gốc hoè cụt ngọn vẫn ở đó, vẫn cái tổ kiến lửa ấy, vẫn cái mùi ẩm của sương xuống sớm.
Trăng lên khỏi ngọn tre, trôi qua khỏi mái nhà kho rồi nghiêng dần về phía Tây. Sương xuống ướt cả vai áo mà gã chẳng màng. Đám kiến lửa bò lên tới bắp chân gã ba bận, mỗi bận gã lại đứng dậy phủi một hồi rồi ngồi bệt xuống chỗ khác. Xâu chả nướng mua cho hai người đã nguội lạnh từ bao giờ, gã ăn hết phần mình trước. Đợi lâu quá, gã ngó cái phần còn lại một lúc, rồi cũng ăn nốt.
Đến khi gà trong làng gáy đợt đầu thì gã đứng dậy vươn vai và đi về. Húc Đông không biết mình đã đợi bao lâu, bởi gã chỉ quen khuân vác chứ chưa bao giờ đoái hoài tới thứ xa xỉ như thời gian.
Gã đi mất hơn một canh giờ thì về lại lán trọ của tàu. Ba tên ban sáng đang nằm vắt vẻo tay chân trên tấm chiếu ngủ, miệng ngáy o o. Húc Đông chẹp miệng, đoạn gã chui vào cái chỗ trống bé xíu còn lại trên chiếu để ngả lưng. Chắc cũng chỉ còn cỡ hai canh giờ nữa là tảng sáng, mà kệ, chả nhẽ ngồi chờ ông trời lên?
Giấc ngủ ập tới kéo Húc Đông vào miền tiềm thức êm ái. Chẳng phải chờ đợi như làm việc khác, cứ đặt được lưng xuống chiếu là gã ngủ ngay. Tiếng ngáy rống của gã rất nhanh chóng hoà chung với đám thuỷ thủ còn lại, khiến bức vách tưởng chừng cũng nghiêng ngả theo.
Thường ngày, Húc Đông chỉ mơ ăn thịt tới ngập miệng, hay uống rượu tới say mèm. Hệt như cảnh tượng thường thấy khi gã đặt chân tới trại của đám Phục Cốt Tông. Với gã, như vậy là sung sướng nhất đời. Gã cũng chỉ mong cứ mãi được ăn uống, đàn hát rồi ngủ khì như vậy chứ chẳng ước mơ cao sang gì. Chắc có lẽ, phận đời long đong khiến gã thèm một cuộc sống bình dị như vậy.
Bất giác, sự vắng mặt của Mộ Phong nhói lên một cái trong lòng Húc Đông. Tiền thì vẫn đây, nhưng chưa đưa được cho nó mà cũng chẳng nghe nó nói tiếng nào, đến tận trong mơ Húc Đông vẫn còn lo. Hàng lông mày rậm nhíu chặt lại, gã cựa mình quay mặt vào đối diện với bức vách, tiện tay kéo lệch tấm chăn về phía mình.
Hôm nay thay vì mơ về những lúc chơi bời ở trại Phục Cốt Tông, Húc Đông lại chỉ nhìn thấy một căn trọ nhỏ. Quái lạ, cái trọ tạm với mấy đứa chung tàu thì có gì mà mơ. Gã thấy mình đang đứng trong một không gian mờ ảo, xung quanh chẳng nhìn rõ cái gì. Thứ duy nhất hữu hình với gã là căn trọ đó. Húc Đông thở dài, gã tiến lại gần căn trọ, áp tai lên bức vách mà nghe ngóng. Ngoài việc đó ra, gã chẳng biết làm gì tiếp trong cái cõi kì quặc này.
Thoạt đầu, gã chẳng nghe thấy gì, tai cứ ù ù như áp vào miệng con ốc biển. Nhưng rồi dần dần gã nghe thấy một thứ rất quen thuộc, tựa hồ như nhịp sóng vỗ mạn tàu. Húc Đông nheo mắt. Tiếng từ trong trọ phát ra, sao lại là tiếng sóng? Gã biết mình đang mơ, nhưng mơ có thể phi lí tới vậy không? Chẳng rõ có phải vì bản năng hay lí do khác, Húc Đông nhón chân đi thật nhẹ ra phía cửa sổ phòng. Khi hé mắt nhìn qua nan cửa, gã thấy căn phòng rất quen, nhưng không phải phòng trọ mà gã và đám bạn tàu đang nghỉ. Bởi lẽ gã chẳng thấy mặt đứa nào hết.
Đảo mắt thêm một bận nữa, Húc Đông để ý thấy bóng hình ai đó ngồi thu lu trong góc phòng tối om. Người đó đội mũ trùm kín mặt, cũng chẳng để lộ chân tay, chỉ thấy đầu thi thoảng khẽ gật một cái. Nếu gật, chắc hẳn kẻ đó đang nghe ngóng chuyện gì. Nghĩ đoạn, Húc Đông nhìn về phía đối diện của căn phòng. Ngay chỗ ánh nắng chạy qua cửa sổ và chiếu vào một cái bàn gỗ nhỏ, gã thấy bóng lưng một đứa trẻ chừng bảy, tám tuổi, đầu trọc lốc, đang ngồi thẳng tắp. Rồi tới tiếng đứa nhỏ lẩm nhẩm đọc gì đó, ở phía góc bàn có những tờ giấy vứt ngổn ngang ghi chi chít là mực đen. Tiếng đọc của nó… nghe như tiếng sóng vỗ mạn tàu.
Húc Đông đột nhiên thấy mình choáng váng, gã ngã phịch xuống, mắt trân trân nhìn thẳng lên phía trên nơi không gian cứ vặn xoắn như xoáy nước trên đầu. Tiếng đọc vang lên mỗi lúc một rõ hơn bên tai.
Trong khi đó, đứa trẻ nơi căn phòng nhỏ ngồi thẳng lưng, hai bàn tay nó úp lên đầu gối, giọng cất lên đều đều:
Thủy vô thường hình, kình vô định thế.
Năng tải năng phúc, huyễn ảo mạc trắc.
Những câu chữ được đứa trẻ đọc lên rành rọt, khi tới tai Húc Đông thì chỉ còn là một nhúm lùng bùng chẳng ra nghĩa lý gì. Câu sau trôi qua, rồi câu sau nữa, gã nghe ra tiếng mà không nghe ra chữ.
Thủy cư hạ vị, dĩ thoái vi tiến.
Dưới tấm chăn, gót chân gã thuỷ thủ tự lùi lệch về sau chừng nửa gang tay.
Nhất ba tài động, vạn lãng tương tùy.
Kình tòng địa khởi, chưởng thế quyết đê.
Cửu...
Đứa trẻ vấp ngay chỗ "Cửu", rồi nó ngước về phía góc tối trong phòng nơi bóng người kia vẫn còn gật gù ngồi đó. Hai bàn tay đứa nhỏ vẫn còn đặt trên đùi tựa hồ nó đang chờ đợi một điều gì đó. Húc Đông chẳng rõ là gì, gã chỉ biết mình phải chạy khỏi nơi đó. Hai tay siết chặt thành nắm đấm, gã cố hít lấy mấy hơi để vận sức ngồi dậy.
Hai, ba!
Gã thuỷ thủ chồm tới, không gian xung quanh chao liệng như cánh diều đứt dây, rồi lại bùng nổ trước mắt gã.
Vẫn là căn phòng với tiếng ngáy o o của mấy đứa bạn tàu. Vẫn là bức vách xiêu vẹo đối diện ngay mặt. Tấm chăn ban nãy gã kéo giật ra khỏi người đám bạn. Húc Đông nuốt khan, bởi chẳng hiểu sao cổ họng gã lại khô khốc, còn toàn thân gã ướt đẫm mồ hôi hột. Gã run rẩy nhìn hai bàn tay to bè chai sạn của mình. Rốt cục, giấc mơ đó có nghĩa gì?
Ngồi thở dốc ngắm tay chán, gã vớ lấy vò rượu nếp hẵn còn chút đỉnh dưới chân giường mà tu một hơi. Rượu nếp thơm lừng, men rượu cay tê theo dòng chảy mà ngấm vào từng khúc ruột. Gã chẳng biết là rượu có ngon hay không, gã chỉ biết rằng tu một hơi thì ngủ lại được. Và quả thực cách này hiệu nghiệm, bỏ được cái vò xuống là đầu óc gã đã lại quay cuồng còn hơn say sóng.
Tới hôm sau, gã lại tiếp tục có mặt dù không hẹn trước. Húc Đông đi mà chẳng có tâm trí mua đồ ăn nữa, khi mà giấc mơ kỳ quái kia cùng sự im lặng từ Mộ Phong đã gieo vào lòng gã một cảm giác rất khó chịu. Trên biển, cảm giác ấy luôn tới mỗi khi gió sắp đổi hướng. Nó khiến tóc sau gáy gã dựng lên trước khi đầu óc kịp hiểu ra chuyện gì.
Trời sáng, Húc Đông chẳng buồn đợi mà đi thẳng vào trại Phục Cốt Tông bằng cổng trước.
Gã vẫn hay vào như thế. Đám gác cổng biết mặt gã, thường thì đứa nào cũng nhe răng cười, có đứa còn xin gã ít thuốc nhai. Hôm nay bọn nó đứng thẳng đơ như cột đình, mắt nhìn qua vai gã ra khoảng không phía sau, một đứa thậm chí hỏi gã tới có việc gì như ai dặn trước. Húc Đông nhe hết cả răng ra nói tới thăm bạn rồi cứ thế đi vào. Điều khiến gã thấy khó chịu nhất là việc chẳng có đứa chết giẫm nào giữ gã lại.
Trong sân lớn, mấy lão giáo chúng già hôm bữa từng ngồi bệt với gã bên đống lửa thì nay đang gánh nước. Húc Đông cất tiếng chào oang oang như mọi bận. Một ông gật đầu rất nhanh rồi cúi xuống gánh tiếp. Ông còn lại đổi hướng đi vòng sang lối khác làm như không nghe thấy. Chẳng ai mời gã một chén nào, mà trước nay đi tới đi lui trong trại thì kiểu gì Trình Húc Đông cũng bị dúi cho một chén vào tay.
Gã hừ một tiếng rõ to rồi rẽ sang khu Tây. Sân tập vẫn còn bọn trẻ đứng tấn dưới nắng, vẫn cái dáng lom khom run rẩy ấy, nhưng khoảng sân thì rộng ra. Trước nay Húc Đông chưa từng đếm có bao nhiêu đứa nên khi thấy khoảng trống trong sân tập, gã liền chớp mắt mấy cái cho rằng mình đang tưởng tượng. Gã biết mình nhớ mặt xấp nhỏ. Cái thằng sún răng cửa hay giành phần bánh lúc Mộ Phong không nhìn, cái con bé buộc tóc bằng dây gai, cái thằng cao nhất bọn hay đứng cuối hàng vì ngại. Giờ đây, mấy khuôn mặt ấy không còn ở đó. Ruột gan gã thuỷ thủ hẫng một nhịp hệt như đang chứng kiến một con sóng lớn chuẩn bị ập vào mạn tàu.
Một thằng bé dáng hình gầy nhom quen thuộc nhận ra gã, mặt nó hớn hở chực chạy lại. Nhưng nó bỗng liếc về phía dãy nhà phía sau, và cái chân đang nhấc lên cũng hạ ngay xuống. Nó lùi lại vào hàng, mặt cúi gằm, giả vờ chỉnh lại thế tấn.
Húc Đông nhớ ra tên nó rồi. Gã đứng ngoài rào nhìn thằng A Đồng thêm một lúc lâu mới chịu quay đi.
Buổi chiều, Húc Đông vác hai vò rượu ra ngồi ở góc sân sau, chỗ có một lão già quét lá. Gã không hỏi gì cả, chỉ rót một chén đặt xuống cạnh cái chổi rồi ngồi kể chuyện biển. Chuyện con cá đuối to bằng cái chiếu. Chuyện gã thuyền phó ngáy to tới mức cá dạt vào lưới. Chuyện gã từng ăn phải một loại sứa khiến lưỡi bị tê mất ba ngày. Toàn những chuyện đã kể tới mòn mép. Lão quét lá đứng nghe, ban đầu còn cầm chổi, sau đó nghe bùi tai thì bỏ chổi xuống và ngồi hẳn ra bậc thềm.
Đến chén thứ mấy thì không rõ, lão quét sân bắt đầu kể lể, giọng lão trầm hẳn xuống và mắt lão thôi dán chặt vào miệng cái chén. Lão kể trại có việc lớn. Nói giáo chủ tuyển người, tuyển đám khoẻ mạnh ở khu Tây trước tiên. Nói mấy đứa được gọi đi thì đưa sang khu nhà đá phía sau, có hộ pháp canh, không ai được lai vãng. Rồi mấy đứa đầu tiên vào đó thì giờ vẫn còn sống, nhưng không đứa nào đi lại được nữa.
"Còn thằng đại sư huynh mặt lạnh thì sao." Húc Đông rót thêm vào cái chén cạn.
Lão già đón cái chén mà ngồi trầm ngâm khá lâu. Húc Đông cố gắng nuốt cái cục đang ứ lên trong họng xuống, giả vờ điềm nhiên hết sức có thể.
"Cậu ấy tự xin vào." Lão nói. "Quỳ ngoài đại điện suốt một đêm. Sáng ra giáo chủ mới cho gọi."
Gã thuỷ thủ nghe xong thì mặt cắt không còn giọt máu, ngón tay siết chặt quanh miệng cái chén rượu. Trong bụng gã, cơn gió tưởng chỉ đổi hướng lúc này đã hoá thành cơn bão lớn.
Gã tìm thấy Mộ Phong vào lúc chạng vạng ở khoảng sân hẹp giữa hai dãy nhà đá.
Thằng nhóc đang đi một mình, tay chống vào tường bước từng bước ngắn. Nó gầy đi trông thấy, gò má hóp lại, quầng mắt thâm đen như bị trúng hai đường quyền ngay hốc mắt. Ống tay áo xắn cao để lộ cẳng tay, và mấy đường gân sẫm màu dưới lớp da bủng beo của nó nổi cục lên, màu tím thẫm ngả sang đen, chạy ngoằn ngoèo từ cổ tay lên tới khuỷu.
Đôi mắt của Mộ Phong khiến bước chân của Húc Đông khựng lại. Cả người thằng nhóc đang mục ruỗng ra, vậy mà mắt nó cứ sáng rực như vừa tìm thấy thứ mình theo đuổi cả đời. Tới mức người đối diện là chính Húc Đông đây cũng muốn lùi một bước.
"Ngươi vào đây làm gì." Mộ Phong nói. Giọng nó khàn đặc, hụt hơi giữa chừng, phải ngừng lại hít thở một hồi mới nói tiếp được. "Về đi."
"Ta đợi ngươi hai bận ở gốc hoè."
"Ta bận."
"Bận cái gì mà tay ngươi ra nông nỗi này."
Mộ Phong chậm rãi kéo ống tay áo xuống, như thể "đó" là một việc đáng làm chứ không phải thứ gì đáng giấu.
"Sư phụ chọn người ở khu Tây." Nó nói. "Cả đám bọn nhỏ chịu không nổi, còn ta chịu được. Có ta ở đây thì bọn nó không phải vào."
Húc Đông mở miệng định cãi, rồi lại ngậm miệng thôi đáp lời, bởi gã biết nó nói có phần đúng. Cái lý lẽ của thằng nhóc ấy tử tế tới mức không ai có quyền chê trách. Nhưng gã biết có gì đó sai sai.
"Nhóc con." Gã hạ giọng. "Ngươi làm chuyện này vì bọn nhỏ, hay vì muốn ông ta nhìn ngươi thêm được một cái?"
Mộ Phong ngẩng phắt lên. Trong khoảnh khắc đó, đáy mắt nó có gợn lên một lần hệt như mặt nước bị ai ném một hòn sỏi, rồi nhanh chóng tĩnh lại như khi nó rung động.
"Đừng có tới nữa." Mộ Phong nói. "Cổng trước từ nay không cho ngươi vào đâu. Về đi."
Nó quay lưng, tay chống tường còn chân tiếp tục lết về phía dãy nhà đá.
Húc Đông khựng lại giữa lối đi hẹp, mắt dán chặt vào tấm lưng gầy nhẳng dần khuất sau khúc quanh. Trong đầu gã bật lên tiếng đọc từ giấc mơ, và ruột gan gã lại lộn tùng phèo như lúc choàng tỉnh.
Đêm xuống, Húc Đông bật tường lẻn lại vào trong. Tường trại Phục Cốt Tông cao và trơn, mặt trên cắm đầy mảnh sành. Những chướng ngại ấy chẳng làm khó được Húc Đông, bởi gã thuỷ thủ đã trèo cột buồm trong bão từ hồi chưa cao bằng cái mái chèo. Gã lên tới đỉnh tường với vài lần đạp, nằm rạp xuống giữa hai mảnh sành chờ toán tuần đêm đi qua, rồi buông người xuống mặt đất bên trong ngay khi có một khoảng hở vừa đủ. Toàn bộ quá trình đó gã không phát ra tiếng gì to hơn tiếng một chiếc lá rụng ở xa.
Khu nhà đá cuối trại nằm quay lưng vào vách núi. Đến nơi, còn trước khi kịp định thần, gã liền ngửi thấy cái mùi đó. Một thứ mùi ngòn ngọt và ngai ngái len qua khe cửa, giống mùi hương trầm người ta đốt trong đền trộn với một mùi thịt để lâu ngày dưới khoang tàu. Mùi đó Húc Đông đã từng kinh qua vài lần trong đời, và lần nào nó cũng mang điềm gở.
Gã áp sát mắt để quan sát qua khe cửa. Bên trong, gã trông thấy mấy ngọn đèn dầu đặt thành vòng tròn trên nền đá. Giữa vòng tròn có một cái vại sành cao tới ngang hông, miệng vại phủ vải đỏ. Từ dưới lớp vải ấy vọng ra một tiếng động giống hệt tiếng hàng vạn con lươn con trạch đang lúc nhúc bò lên nhau.
Rồi gã trông thấy Mộ Phong cởi trần ngồi xếp bằng trước cái vại, lưng nó thẳng băng. Thằng nhóc đang đọc một khẩu quyết, tiếng nó nhỏ và đều, mỗi chữ rơi xuống đúng một nhịp không sai lệch. Trên tấm lưng gầy của nó có những vệt sẫm đang chạy dưới lớp da. Chúng chạy dọc theo sống lưng, tách ra hai bên bả vai, quặt xuống hai cánh tay rồi vòng ngược lên. Chúng chạy theo đúng một lộ trình lặp đi lặp lại, và mỗi vòng chúng lại đậm màu thêm một chút.
Húc Đông không biết cái thứ trong vại tên là gì, cũng không biết pho công phu kia gọi ra sao hay ai đưa cho thằng nhóc. Thực tâm mà nói thì gã cũng chẳng có nhu cầu biết. Gã chỉ nhìn thấy một đứa trẻ đang bị ăn mòn từ bên trong mà vẫn còn đang ngồi rất nghiêm để giữ mọi thứ đúng nhịp.
Rồi tiếng đọc bị vấp ở một chữ duy nhất. Mộ Phong lập tức ngừng lời, nó luống cuống hít vào thở ra và bắt đầu lật sách để đọc từ đầu. Húc Đông chột dạ nhớ lại đúng cái cách thằng nhóc ấy từng dừng kiếm giữa lôi đài để tái vận khí trong người. Nhưng lần này những vệt sẫm dưới da nó không chờ. Chúng vẫn chạy, khi tiếng đọc quay về vạch xuất phát thì chúng đã đi trước mất một quãng, khiến cho cả lộ trình lệch đi. Thằng nhóc lập tức gập người xuống. Một tiếng ực nghẹn trong cổ họng. Máu ứa ra từ khoé miệng, những vệt sẫm trên lưng nó bung ra khỏi lối cũ và lập tức toả đi khắp nơi như rễ cây đâm loạn.
Húc Đông trừng mắt, tung một cước làm bật tung cánh cửa. Gã không nhớ mình đã băng qua gian phòng bằng mấy bước, chỉ nhớ cái vại sành đổ xuống bên trái mình theo quán tính của lực tay. Tiếng vỡ nghe chát chúa, còn thứ tràn ra khỏi nó đen đặc, lổn nhổn bò loang trên nền đá về phía ngọn đèn gần nhất. Gã xốc thằng nhóc lên vai và nhận ra nó nhẹ tới mức làm ruột gan gã nóng ran như bị ai thiêu cháy.
Ngoài sân, tiếng kẻng báo động vang lên, bám sát theo bước chạy của gã thuỷ thủ.
Mộ Phong giãy giụa trên vai gã, nó đấm vào lưng gã bằng hai nắm tay không còn chút sức nào, miệng thều thào mãi một câu không ra hơi rằng nó chưa xong, nó gần làm được rồi, rằng gã phải thả nó xuống.
"Ừ." Húc Đông nói, chạy thẳng ra phía bức tường phía Đông, chỗ có cây vông đồng mọc sát chân tường. "Ừ, ừ, biết rồi."
Gã bám cành vông đồng, đạp hai nhịp lên thân cây và vắt cả hai người qua đỉnh tường cắm mảnh sành.