Trong cái xứ ngã ba sông nghèo khó này, ngôi trường xã lợp lá dừa nước lúp xúp rào bằng cừ tràm là nơi duy nhất xóa nhòa đi lằn ranh giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa con cái nhà địa chủ, thương hồ với những đứa trẻ chăn trâu, cắt cỏ. Ở đó, tất cả đều mặc chung một màu áo trắng dẫu có đứa áo còn trắng phau, thơm phức mùi xà bông mới cáu, có đứa áo đã ngả màu cháo lòng, sờn rách hai bên vai, thoang thoảng mùi bùn non và khói bếp.
Minh thuộc về vế thứ hai.
Nhà Minh nghèo, một cái nghèo túng quẫn bám rễ từ đời cha để lại. Tía Minh mất sớm trong một mùa nước nổi vì bạo bệnh, để lại má cậu với mái lá xập xệ nằm thọt lỏn ở xóm Dưới, sát mép bờ kênh mọc đầy lau sậy. Một mình má Minh đầu tắt mặt tối, lưng trần phơi giữa đồng trưa, mò cua bắt ốc, cấy mướn gặt thuê để đổi lấy từng lon gạo nuôi đứa con trai duy nhất.
Cái nghèo hằn lên từng nét trên dáng vẻ của Minh. Cậu gầy nhom, vóc dáng cao lêu nghêu khiến những chiếc quần tây cũ kỹ má mua ở chợ đồ sida luôn trở nên cộc cỡn, để lộ bắp chân gầy gò sạm đen vì nắng gió. Nhưng bù lại, Minh có một đôi mắt rất sáng — một đôi mắt cương nghị, bướng bỉnh và không bao giờ biết cúi đầu trước nghịch cảnh. Cậu lầm lì, ít nói, thường thu mình vào một góc lớp mỗi giờ ra chơi để cặm cụi chép lại bài cho những ngày phải nghỉ học đi vớt bèo phụ má. Thế nhưng, hễ thầy giáo hỏi đến bài nào khó, Minh luôn là người đầu tiên đứng lên trả lời rành rọt. Giọng cậu thiếu niên vỡ hờ trầm đục nhưng dõng dạc, vang vang trong căn phòng học lợp lá xơ xác.
Lần đầu tiên Mây thực sự chú ý đến Minh là vào một chiều mưa rào tháng Bảy, năm cả hai vừa bước vào lớp Bảy.
Cơn mưa Nam Bộ ập đến bất thần không báo trước, trút nước xối xả xuống mái tôn trường học rào rào như hàng ngàn viên bi sắt gõ nhịp. Hơi lạnh từ ngoài bãi đất đỏ bốc lên ngai ngái. Tan học, đám học trò ùa ra hiên trường trú mưa, co ro xoa xoa hai bàn tay vào nhau. Mây đứng nép vào một góc, vạt áo dài trắng tinh khôi được vén khéo léo để khỏi lấm bùn, tay cầm chiếc ô vải hoa màu tím nhạt mà cha mới đem từ trên tỉnh về.
Cô định bung ô đi về, thì qua màn mưa trắng xóa, tầm mắt cô va phải Minh. Cậu đang loay hoay cởi chiếc áo sơ mi ngoài, cẩn thận bọc mấy quyển tập lại để trước ngực, lộ ra chiếc áo cộc tay bên trong cũng đã rách bươm. Cậu hít một hơi thật sâu, định đầu trần đội mưa chạy bộ quãng đường đất sình lầy hơn ba cây số về nhà. Chút xót xa, thương cảm dấy lên trong lòng cô tiểu thư nhà khá giả.
"Minh!"
Mây gọi giật lại, giọng cô bé mười ba tuổi lanh lảnh vang lên đâm toạc tiếng mưa rào rạt.
Minh khựng bước, quay lại nhìn cô bằng ánh mắt ngạc nhiên pha lẫn dè chừng. Từ trước tới nay, "cô Út Mây" nhà ông Lẫm và thằng Minh xóm Dưới chưa từng nói với nhau câu nào. Mây bước tới, chìa chiếc ô ra trước mặt Minh, hai má hơi ửng hồng vì ngại ngùng trước ánh nhìn soi mói, xì xầm của đám bạn bè xung quanh.
"Trời mưa vầy, Minh không có nón, che chung ô với Mây đi. Nhà Mây cũng tiện đường về xóm Dưới mà."
Minh nhìn chiếc ô hoa sạch sẽ, rồi nhìn lại bộ quần áo lấm lem sình bùn và đôi dép cao su đứt quai mòn vẹt của mình. Sự tự trọng của một thằng con trai nhà nghèo khiến cậu chần chừ, gót chân hơi lùi lại. Nhưng nhìn những giọt nước mưa đang hắt vào làm nhòe góc mấy quyển tập — tài sản quý giá nhất của cậu lúc bấy giờ — cuối cùng Minh cũng cắn môi gật đầu.
Hôm đó, trên con đường đất đỏ nhão nhoẹt, trơn trượt vì mưa, có hai đứa trẻ che chung một chiếc ô. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên tán ô vải hoa. Cậu con trai cao kều, vai gầy guộc cố tình đi sát ra mép ngoài lề đường, nhường hết phần đường khô ráo và phần ô che cho cô bạn gái nhỏ nhắn. Cậu giữ khoảng cách chừng một gang tay, cánh tay vươn dài ra che chắn, cẩn thận đến mức chỉ sợ một giọt bùn từ gót chân mình bắn lên sẽ làm hoen ố vạt áo bà ba trắng tinh của cô.
Sự tinh tế câm lặng ấy của một cậu bé mười ba tuổi đã gieo vào lòng Mây một hạt mầm thiện cảm đầu tiên. Hạt mầm ấy rơi xuống vùng đất tâm hồn mềm mại của cô gái đang tuổi trăng tròn, âm thầm bám rễ.
Từ sau bận đó, Mây và Minh tự nhiên mà thân nhau. Một tình bạn tĩnh lặng, không ồn ào vồn vã, bỏ ngoài tai những lời trêu chọc của đám con trai trong lớp, bền bỉ và dịu êm như dòng phù sa bồi đắp bên lở bên bồi.
Mây biết tính Minh hay tự ái, không bao giờ nhận sự thương hại hay bố thí của người khác. Cái sĩ diện của người nghèo đôi khi sắc lẹm như mảnh chai vỡ. Thế nên, những lần nhà có món ngon, Mây không bao giờ đem ra mời mọc thẳng thừng. Cô thường giấu nửa cái bánh da lợn đổ dẻo quẹo, hay nắm xôi đậu xanh bọc trong lá chuối hơ qua lửa thơm phức vào trong hộc bàn của Minh trước giờ vào lớp, rồi giả vờ lảng đi chỗ khác, cắm cúi đọc sách như không biết gì.
Minh biết, nhưng không từ chối. Cậu âm thầm nhận lấy, giấu đi ánh mắt rưng rưng. Rồi hôm sau, trong hộc bàn của Mây sẽ xuất hiện khi thì chùm nhãn da bò ngọt lịm hái vội bờ rào, khi thì một con cào cào, con tôm thắt bằng lá dừa nước khéo léo đến từng chi tiết nhỏ. Có đôi lúc, Mây mở cặp ra, thấy một quả thị vàng ươm, thơm lừng góc lớp — quả thị mà Minh đã phải dậy từ tờ mờ sáng, trèo lên cây thị già ở miệt miếu hoang cuối xóm để tìm cho bằng được.
Sự đáp đền sòng phẳng mà vụng về ấy khiến Mây thấy vui vẻ lạ lùng. Nó cho cô cảm giác được trân trọng, một sự trân trọng bình đẳng chứ không phải sự khúm núm dạ vâng mà những người làm trong nhà thường dành cho "Cô Út".
Nhiều đêm nằm nghe tiếng ễnh ương kêu ngoài cầu ao, gió đưa mùi hoa lài từ góc vườn bay vào phòng, Mây tự hỏi lòng mình, vì sao giữa bao nhiêu người ở cái xứ này, cô lại thương Minh? Những gia đình môn đăng hộ đối, những cậu ấm con nhà điền chủ ngấp nghé nhà ông Lẫm thiếu gì. Họ mặc áo sơ mi thắt ca ra vát, chải tóc bóng mượt bắng sáp thơm, miệng lúc nào cũng toàn những lời có cánh.
Nhưng rồi cô tự tìm được câu trả lời. Mây thương Minh, không phải vì anh tài giỏi xuất chúng hay có vẻ ngoài hơn người, mà bởi vì chỉ ở cạnh Minh, Mây mới thực sự được là chính mình. Căn nhà gỗ của ông Lẫm rộng lớn, nhưng lại ngột ngạt bởi những lề thói. Ở đó, cô là cô Út vàng ngọc, phải nói năng nhỏ nhẹ, đi đứng khoan thai, không được để tay lấm chân bùn. Thế giới của cô được vẽ sẵn trong một khuôn khổ chật hẹp, an toàn nhưng tẻ nhạt.
Còn khi ở bên Minh, Mây được cởi bỏ cái danh xưng "con gái ông Lẫm".
Đó là những buổi chiều cúp học đi dọc bờ kênh, nắng vàng vọt trải dài trên mặt nước dập dềnh lục bình. Minh xắn quần quá đầu gối, lội xuống sình mò mẫm bắt hến, mồ hôi nhễ nhại hằn trên trán. Còn Mây ngồi trên bờ cỏ, vạt áo lấm tấm bùn non, thỏa sức cười nắc nẻ khi thấy mặt Minh lem luốc sình lầy như con mèo nhép.
Đó là những lúc hai đứa ngồi dưới gốc bần chua sát bến sông, Minh vụng về lấy tay phủi mạng nhện vương trên lọn tóc tơ của Mây, rồi kể cho cô nghe về những ước mơ to lớn vượt ra khỏi cái ngã ba sông quanh năm nghèo khó này.
"Thầy giáo nói, trên thành phố người ta cất nhà cao lắm Mây. Đèn điện sáng choang nguyên đêm không cần thắp dầu." Minh hái một trái bần chín ném tũm xuống nước, ánh mắt xa xăm: "Minh ráng học, mai mốt làm thầy ký, hay làm xí nghiệp. Có tiền cất cho má cái nhà đàng hoàng, để mùa nước ngập má khỏi thức đêm tát nước."
Mây ngồi nghe, hai tay ôm lấy đầu gối, đôi mắt đen láy trong veo phản chiếu bầu trời mùa hạ bao la. Cô không nói một lời chê bai hay chế giễu những mộng tưởng xa xôi ấy của một gã trai nghèo rớt mồng tơi. Mây nhìn Minh, khẽ gật đầu, môi nở nụ cười: "Minh ngó vầy mà tính xa dữ ha nhưng mà Mây tin Minh nhất định sẽ làm được."
Sự tin tưởng vô điều kiện ấy của Mây trở thành ngọn đèn soi sáng những đêm dài chong đèn dầu học bài của Minh. Ngược lại, Minh cũng là người duy nhất lắng nghe những điều nhỏ nhặt, tủn mủn của Mây mà không phán xét. Minh hiểu nỗi buồn vô cớ của cô khi thấy một con chim non rơi khỏi tổ chết trương dưới mưa, hiểu niềm vui nhỏ bé khi cô giải được một bài toán khó hay viết đẹp một hàng chữ. Minh nâng niu tâm hồn nhạy cảm, mỏng manh của cô bằng sự thô mộc, chân phác nhất của một gã trai quê chưa từng va vấp sự đời.
Họ đã lớn lên bên nhau như thế. Đi qua những mùa gió chướng thổi rát mặt, những mùa trăng rằm sáng vằng vặc soi rõ từng ngọn cỏ, những mùa gòn nở đỏ rực rồi tàn rụng bay lả tả ven sông. Tình cảm ấy như một mạch nước ngầm, không dữ dội ồn ào, cứ lẳng lặng chảy, lẳng lặng thấm sâu vào thớ đất, đến khi nhận ra thì đã thành một dòng sông chẳng thể nào ngăn lại hay lấp đi được nữa.
Út Mây của tuổi mười bảy chưa từng nghĩ tình yêu là một thứ gì đó phức tạp, cũng chưa từng hiểu thế nào là môn đăng hộ đối hay những toan tính thiệt hơn ở đời. Cô cho rằng, cuộc đời này rất dài, nhưng cũng rất đơn giản. Cô chỉ cần một khoảng sân nhỏ rợp bóng mát, một căn nhà gỗ êm ấm, và một người đàn ông dẫu đi đâu xa, dẫu bôn ba khắp chốn cũng sẽ biết lối quay về. Người đó sẽ đem theo hơi ấm của những ngày chung bước che chung một tán ô dưới cơn mưa rào năm cũ, che chở cho cô cả một đời giông bão.
Thế nhưng, tuổi trẻ thường hay mang trong mình một căn bệnh vĩ cuồng, đó là luôn tin rằng tình yêu trong sáng của mình có sức mạnh dời non lấp bể, có thể lấp đầy mọi hố sâu của giai cấp và nghịch cảnh.
Út Mây không biết, và Minh lại càng không muốn tin rằng, cái hố sâu vô hình nằm giữa căn nhà ngói ba gian bề thế của ông Lẫm và mái lá xập xệ của má Minh, thực chất là một vực thẳm sâu hoắm. Một vực thẳm mà dù họ có đem hết cả tấm chân tình, dốc cạn cả thanh xuân rực rỡ nhất để vun đắp, cũng không chắc có thể bắc nổi một nhịp cầu.