🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← Sai Số Hai Mươi

Ch.15: Cô muốn điều gì cho riêng cô?

~31 phút đọc · 6046 từ · · ⚠️ Báo cáo

Ba tuần sau, người đàn ông áo xám quay lại.
Ông ta không ngồi xuống. Ông ta đứng ở cuối giường, một tay chắp sau lưng, và đọc cho Therion nghe, bằng giọng của một lục sự đọc biên bản, rằng đêm thứ mười bảy kể từ ngày cỗ xe nổ, trong một quán rượu gần bến sông phía nam, người của ông ta đã bắt được một thủ kho của kho vũ khí thủ đô đang trao một cuốn sổ bọc da cho một người đàn ông nói giọng miền biên giới. Trong cuốn sổ có số liệu về thuốc phóng. Tên người thủ kho khớp. Ngày khớp. Quán rượu khớp.
“Ông không hỏi tôi làm sao biết,” Therion nói.
“Không,” người đàn ông áo xám nói. “Tôi được dặn là không hỏi.”
Ông ta không nói ai dặn. Ông ta đặt lên bàn một tờ giấy có dấu sáp màu xám, và bắt đầu nói về những điều kiện.
Anh sẽ ở lại trạm cứu thương cho đến khi tay lành, dưới sự canh gác. Sau đó anh sẽ được đưa đến một nơi người đàn ông áo xám không nói tên, để trả lời những câu hỏi mà người đàn ông áo xám không được phép nghe. Bản án của Nicanor sẽ được xem xét lại theo thủ tục đặc biệt. Có thể mất một năm. Có thể lâu hơn. Trong thời gian ấy, anh sẽ mang cái tên ấy, sống ở nơi người ta chỉ định, và không rời khỏi thủ đô.
Therion không hỏi vì sao họ chọn giữ cái tên. Anh hiểu mà không cần ai nói, như người ta hiểu một bảng cân đối. Ở một văn phòng nào đó, có người vừa phải viết vào biên bản vụ p-hản quốc một dòng nguồn tin, và dòng ấy cần một cái tên để giấu. Một người đàn ông không có quá khứ, xuất hiện từ hư không với một khẩu súng không nước nào làm ra được, là một câu hỏi mà cả bộ máy sẽ phải trả lời. Một tử tù vượt ngục được xét lại án theo thủ tục đặc biệt thì không phải câu hỏi. Đó là một câu chuyện mà mọi người trong bộ máy đều đã nghe nhiều lần, và đều biết không nên hỏi tiếp. Còn cái xác ở trạm canh, một tử tù chết bởi hai viên đạn lạ, chỉ cần không được ghi vào đâu cả.
“Còn khẩu súng,” anh nói.
“Không có khẩu súng nào,” người đàn ông áo xám nói. “Không có trong biên bản nào. Không có trong kho nào mà một quân hàm mở được.” Ông ta ngừng lại ở đó, rồi nói thêm, như một lục sự thêm một chú thích: “Và nếu ai đó hỏi, ông là người cứu năm mạng người ở bãi tập phía đông. Chỉ thế.”
Ông ta đã ra đến cửa thì quay lại.
“Cái xác ở trạm canh,” ông ta nói. “Những đêm ấy sẽ không có trong sổ trực.”
Therion không hỏi ông ta sẽ làm thế nào. Anh biết. Mười năm sau, trong một cuốn nhật ký trực mà anh sẽ đọc suốt bốn đêm ở trường bắn phía bắc, sáu trang sẽ bị cắt sát gáy sổ bằng một lưỡi dao rất sắc.
Cửa khép lại. Therion nằm nhìn lên trần nhà quét vôi trắng, và nghĩ rằng mình vừa ký một hợp đồng hai mươi năm mà không cần cầm bút.

Tay anh lành chậm.
Lòng bàn tay phải co rúm lại thành một mặt da bóng, loang lổ, không giống màu da nào khác. Các ngón tay trái lành với những vệt sẹo chạy dọc đến tận khớp thứ hai. Anh cầm được đồ vật. Anh không cầm được dao cạo.
Anh nhận ra điều ấy vào tuần thứ sáu, khi người hầu của trạm cứu thương mang đến một chậu nước ấm và một lưỡi dao, và anh thử cầm nó bằng tay phải, rồi tay trái, và cả hai lần lưỡi dao đều trượt khỏi những ngón tay không còn cảm nhận được mép kim loại. Anh đặt nó xuống. Anh để râu mọc.
Đến tháng thứ ba, bộ râu đã đủ dày để che nửa dưới khuôn mặt. Một buổi sáng, Mimi đến thay băng, nhìn anh một lúc, và nói rằng trông anh giống một người lái đò ở bến sông phía nam. Chiều hôm ấy, anh nhờ người hầu mang đến một mảnh gương.
Một người đàn ông bốn mươi tuổi, tóc cắt sát, râu rậm, một vết sẹo mảnh chạy ngang lông mày trái. Không giống chàng trai tóc vàng đứng cách anh hai bước trên nền sỏi. Không giống người đại tá kỹ thuật cạo râu mỗi sáng trong căn phòng tầng sáu Viện.
Anh hiểu ra rằng mình sẽ giữ bộ râu này. Không phải vì tay anh; tay anh rồi sẽ học được cách cầm dao cạo, như chúng đã học cầm thìa, cầm bút. Anh giữ nó vì mỗi sáng, khi nhìn vào gương, anh không muốn thấy lại khuôn mặt của người đã đứng trên đài quan sát và tin vào khói.
Có một thói quen anh mất đi mà không chọn. Suốt ba mươi năm, trước mỗi việc cần tính, anh xoay cổ tay phải hai vòng. Giờ lớp sẹo co kéo làm cổ tay ấy cứng lại, và mỗi lần xoay là một lần đau. Anh bắt đầu, không để ý, dùng những ngón tay trái ấn vào cổ tay phải, kéo giãn nó về phía sau, giữ một lúc, rồi thả ra. Đến mùa đông, đó đã là thói quen mới. Rất lâu sau anh mới nhớ ra rằng mình từng thấy cử chỉ ấy, từ phía bên kia một chiếc bàn gỗ trong nhà kho, và đã ghi nó vào sổ như một chi tiết không có nghĩa gì.

Cuối mùa thu, khi tay đã đủ lành để cầm dây cương, anh được đưa lên một cỗ xe ngựa không phù hiệu, cùng hai người lính áo xám, và đi về phía tây thành phố.
Anh biết có một chàng trai tóc vàng đang đứng ở đâu đó dọc con đường ấy, nhìn cỗ xe đi qua. Anh không nhìn ra ngoài cửa xe.
Nơi người ta đưa anh đến không phải tòa án. Đó là một tòa nhà đá xám không biển hiệu phía sau tòa án. Ba người ngồi sau một chiếc bàn dài, và hai người ở hai đầu hỏi anh suốt mười một ngày. Anh trả lời những câu anh có thể trả lời mà không làm thay đổi điều gì. Anh không trả lời những câu còn lại. Người ngồi giữa, một ông già có hai bàn tay đầy đốm đồi mồi, không hỏi câu nào. Ông ta chỉ nghe, và thỉnh thoảng ghi một dòng.
Đến sáng ngày thứ mười hai, ông già gấp tập giấy lại.
“Một người đã tự tay đưa cho chúng ta một kẻ p-hản quốc,” ông ta nói với hai người kia, như nói về thời tiết, “không cần bị nhốt để chứng minh mình đứng về phía nào. Còn một người biết những điều ông ta biết, mà không chịu nói, thì ở ngoài kia, dưới mắt chúng ta, có ích hơn ở trong một căn phòng không ai nhìn thấy.” Ông ta nhìn Therion lần đầu tiên trong mười hai ngày. “Ông có định rời khỏi thủ đô không?”
“Không,” Therion nói. Đó là sự thật, và anh biết nó sẽ là sự thật trong hai mươi năm.
Anh được thả vào đầu mùa đông, với một tờ giấy tạm tha mang tên Nicanor, một khoản tiền nhỏ, và một điều kiện duy nhất: không rời khỏi thủ đô cho đến khi bản án được xem xét xong.

Đêm đầu tiên được tự do, anh phá điều kiện ấy. Đó là lần duy nhất.
Khoảng rừng thưa vẫn ở đó. Buồng máy vẫn ở đó, dưới lớp cành thông đã khô vàng, phủ một lớp lá rụng và tuyết mỏng. Không ai tìm thấy nó.
Anh dọn những cành thông đi, từng cành một, và mở cửa buồng. Bên trong, những đồng hồ đo vẫn nằm yên ở những chỗ anh để chúng. Những vòng xoay đồng tâm mà Edda đã làm với sai số nhỏ hơn một sợi tóc vẫn sáng dưới ánh trăng. Những cuộn dây Harl đã quấn, cuộn thứ mười bốn, cuộn anh đã kiểm tra mối hàn khi Harl hỏi nó để làm gì.
Anh ngồi xuống sàn buồng, lưng dựa vào vách.
Nó vẫn làm việc. Anh chỉ cần đóng cửa lại và làm vài việc mà tay anh, dù đầy sẹo, vẫn làm được. Anh sẽ quay về căn hầm lạnh hơn mặt đất bảy độ, đi lên thang máy, ra ngoài đại lộ sáng đèn, về nhà mẹ ở cuối con phố dốc trong khu cũ.
Anh nghĩ đến Mimi ba mươi chín tuổi, với một đứa con gái cao đến vai. Anh không biết cô có còn ở đó không, trong thế giới anh sẽ quay về. Anh không biết con bé có còn ở đó không. Anh không biết chàng trai tóc vàng đứng cách anh hai bước trên nền sỏi sẽ thành người nào, nếu không có ai ngồi dưới khung cửa sổ một nhà kho để nhận lá đơn tố giác của cậu. Anh không biết gì cả.
Và anh nghĩ đến chiếc ghế cạnh giường ở trạm cứu thương, nơi mỗi sáng một cô gái mười chín tuổi ngồi xuống, tháo băng tay anh ra từng vòng một, và kể cho anh nghe về một thầy thuốc già không chịu rửa tay.
Anh đứng dậy và đi ra khỏi buồng.
Anh không có búa. Anh dùng một hòn đá. Anh đập vỡ những đồng hồ đo trước, vì chúng dễ vỡ nhất. Rồi những vòng xoay đồng tâm, những bánh răng nhỏ hơn hạt đậu. Rồi anh gỡ từng cuộn dây ra khỏi khung bằng hai bàn tay sẹo, chậm, vì những ngón tay trái vẫn chưa gập hết được. Anh mất gần hết đêm. Khi xong, anh gom tất cả những gì cháy được vào hai chiếc túi vải, vác chúng qua hai dặm rừng đến lò than cuối đường mòn nhà Hessel, và đốt chúng trong lòng lò. Những gì không cháy được, anh ném xuống cái giếng cạn sau lán. Còn lại cái vỏ buồng, rỗng ruột, quá nặng cho hai bàn tay chưa lành. Anh phủ lại nó bằng cành thông.
Khi trời hửng sáng, anh ngồi trên lớp tro than trắng trước cửa lò, nhìn khói bốc lên từ miệng lò cho đến khi nó thưa dần, rồi tắt.
Đúng chỗ anh ngồi, ba tháng trước, một người đàn ông đã nằm.
Anh đã không nghĩ đến người ấy suốt ba tháng. Anh đã nghĩ đến hai bàn tay mình, đến người đàn ông áo xám, đến cỗ máy, đến cô. Giờ, trên lớp tro than, không còn gì khác để nghĩ, và người ấy trở lại, không phải như một tập hồ sơ mà như một sức nặng anh đã phải vật lên lưng ngựa.
Anh đã g-iết người ấy vì một điều. Không phải những bản khám nghiệm tử thi; những bản ấy là thật, và anh vẫn tin chúng là thật, nhưng luật pháp đã có chúng từ lâu mà không cần anh. Anh đến lò than vì một hộp hãm. Vì một bàn tay thọc vào khói. Vì một giả thuyết gạch dưới hai lần, rằng người này đã giật lệch tấm chắn đồng và biến một sự cố thành thảm họa.
Người này chưa từng chạm vào cỗ xe. Người này chưa từng biết có cỗ xe. Người này đang ở đây, cách ba giờ đi bộ, bó chân cho một con chó què bằng hai que củi.
Hai điều ấy nằm cạnh nhau trong đầu anh: người này đã giết nhiều người, và anh đã g-iết người này vì một việc người này chưa bao giờ làm. Anh cố đặt chúng chồng lên nhau cho khớp mép. Chúng không khớp. Anh ngồi đó với chúng cho đến khi mặt trời lên khỏi ngọn thông, và chúng vẫn không khớp, và anh hiểu rằng chúng sẽ không bao giờ khớp. Đó là thứ anh sẽ mang về thủ đô cùng với cái tên.
Anh không cảm thấy mình vừa hy sinh điều gì khi đập cỗ máy. Anh cảm thấy mình vừa đóng lại một phép tính. Có một cánh cửa, và anh đã chọn không đi qua nó. Không phải vì ai cấm. Vì anh không dám đặt một chữ có thể lên bàn cân với sự sống của cô.
Và vì, anh thừa nhận với chính mình, trên lớp tro than trắng ấy, lần đầu tiên và duy nhất: anh muốn ở lại.
Trên đường về, anh đi vòng qua trạm canh. Con chó già nằm dưới mái hiên, chân sau vẫn bó hai que củi, đã được ai đó thay dây buộc mới. Trước mõm nó có một cái bát. Anh đứng ở bìa rừng một lúc, rồi đi tiếp.

Anh đã không định yêu cô theo bất cứ cách nào anh biết.
Anh nhận ra điều ấy vào buổi sáng đầu tiên, nhưng phải mất nhiều tuần mới hiểu nó nghĩa là gì. Buổi sáng cô mở lọ mỡ cừu và mật ong, và nói rằng cô muốn biết người xưa có đúng không, anh đã trả lời Họ đúng trước khi kịp ngăn mình. Cô đã ngẩng lên và nhướng một bên mày.
Anh đã thấy cái nhướng mày ấy từ năm cô bảy tuổi. Anh biết nó nghĩa là gì. Nó nghĩa là: sao cậu biết? Và trong khoảnh khắc ấy, trên giường bệnh, anh đã thấy rõ mình vừa làm điều mình đã làm suốt ba mươi năm: đưa cho cô đáp số trước khi cô đo. Năm mười ba tuổi, trên mái nhà Học viện, anh đã nói cho cô biết cô sẽ sống ở đâu. Năm mười lăm tuổi, anh đã đánh nhau thay cô, hai lần. Năm hai mươi tuổi, anh đã dặn cô nhìn bi, đừng nhìn anh.
Trong những đêm đầu ở trạm cứu thương, anh đã nằm nghĩ rằng mình biết mọi điều cô thích, mọi điều cô sợ, mọi câu cô sẽ nói. Anh có thể nói đúng những điều cô muốn nghe, vào đúng lúc. Anh có thể làm cho cô yêu mình như người ta giải một phương trình đã biết trước đáp số.
Anh quyết định không làm thế. Không phải vì nó sai, dù nó sai. Vì anh biết mình sẽ không bao giờ biết được cô yêu anh, hay chỉ yêu cái đáp số anh đặt sẵn.
Vì vậy anh làm điều duy nhất anh chưa từng làm trong ba mươi lăm năm quen cô.
Anh hỏi.
Đó là một buổi sáng tháng thứ hai. Mimi đang rửa lòng bàn tay phải của anh và kể về cuốn sổ mạch đập, cuốn thứ hai, cuốn cô đã làm lại từ đầu sau khi cuốn thứ nhất bị ném vào thùng nước rửa sàn. Cô kể về bảng so sánh những người bị trích máu và không bị trích máu. Cô kể về ông Ansel.
Khi cô dừng lại để nhúng khăn vào chậu nước, anh hỏi:
“Còn cô thì sao?”
Mimi ngẩng lên. “Tôi làm sao?”
“Cô muốn điều gì cho riêng cô. Không phải cho ông Ansel. Không phải cho những người trong cuốn sổ.” Anh dừng lại. “Không phải cho ai khác.”
Tay cô dừng trên mép chậu.
Therion đã biết câu trả lời, hoặc những mảnh của nó: trên mái nhà Học viện, trên bậc thềm phòng người hầu, trên mái Viện dưới ánh đèn điện. Anh chỉ chưa bao giờ hỏi. Chàng trai tóc vàng mà anh từng là đã luôn nói với cô về thế giới cậu sẽ thay đổi, về nơi cậu sẽ đặt cô vào cho cô sống thoải mái, cho vui. Cậu chưa bao giờ hỏi cô muốn sống ở đâu.
“Chưa ai hỏi tôi câu ấy,” Mimi nói cuối cùng.
“Tôi biết,” Therion nói, rồi nhận ra mình không nên biết.
Cô không để ý. Hoặc cô để ý, và để nó qua. Cô nhìn xuống lòng bàn tay sẹo của anh trong tay mình.
“Tôi muốn mổ,” cô nói. “Không chỉ khâu. Mổ. Mở một người ra, sửa một thứ bên trong, rồi đóng lại, và người ấy đứng dậy đi về nhà. Ở đây người ta không mổ. Người ta cắt bỏ. Cắt tay, cắt chân, cắt những thứ không cứu được. Tôi muốn cứu những thứ người ta nghĩ là không cứu được.” Cô ngừng lại. “Và tôi muốn người ta gọi tên tôi khi nói về chuyện ấy. Không phải tên thầy tôi. Không phải tên ai khác. Tên tôi.”
Therion nghĩ đến một khối nhà bốn tầng sáng suốt từ đỉnh xuống chân, mười lăm năm nữa, ở phía bệnh viện phía nam. Anh không nói gì về điều ấy.
“Người ta sẽ gọi,” anh nói.
Mimi bật cười. Lần đầu tiên anh nghe cô cười trong căn phòng quét vôi trắng. “Sao ông biết?”
“Tôi không biết,” anh nói. “Tôi chỉ tin thế.”
Đó là một lời nói dối. Anh biết sẽ còn những lời khác. Anh chỉ tự hứa rằng không lời nói dối nào sẽ là về cô.

Từ đó, cô ở lại lâu hơn sau mỗi lần thay băng.
Cô mang sách của ông Ansel đến cho anh đọc, và anh đọc chúng như đọc lại thư của một người bạn cũ đã mất. Cô hỏi anh về những gì anh đọc. Anh trả lời bằng những câu hỏi. Anh cẩn thận hơn anh từng cẩn thận với bất kỳ phép tính nào, để không bao giờ trả lời bằng một điều cô chưa tự tìm ra. Anh biết những gì cô sẽ khám phá trong hai mươi năm tới: vi trùng, nước vôi, máu chảy thành vòng. Anh không nói. Mỗi lần cô đứng trước một cánh cửa, anh chỉ hỏi cô đã thử đẩy chưa.
Cô bắt đầu kể cho anh những điều cô không kể cho ai. Về cửa hàng của mẹ cô, và những khách quen đã bỏ đi từ nhiều năm trước, mà cô chỉ biết qua lời người hầu cũ vì mẹ cô không bao giờ nói. Về một chàng trai tóc vàng mà cô gọi là bạn thân nhất, người mà cô đang lo, vì từ sau tai nạn cậu ấy vẽ đi vẽ lại một cỗ xe đã nổ và không chịu ăn. Về một lời hứa trên mái nhà năm mười ba tuổi.
Therion nghe tất cả. Anh không nói gì về chàng trai tóc vàng. Anh không có quyền.
Có một đêm, khi cô đã về, anh nằm nhìn trần nhà và nhận ra mình đang ghen. Người anh ghen là một chàng trai hai mươi tuổi ở cách đó nửa thành phố, đang ngồi giữa những tờ giấy vẽ lại cỗ xe, được cô lo lắng mà không hề biết, và sẽ không bao giờ biết. Anh nằm với ý nghĩ ấy đến sáng. Nó vô lý theo mọi cách anh biết đo. Nó vẫn ở đó.

Mùa xuân năm sau, khi tờ giấy tạm tha đã cho phép anh đi lại trong thủ đô, anh đến cửa hàng nhà Mimi.
Cửa hàng vắng hơn anh nhớ. Những kệ ngang tầm tay, chỗ bày những thứ bán chạy, có những khoảng trống. Anh đứng giữa gian hàng, ngửi mùi hạt tiêu, sáp ong và da thuộc, thứ mùi anh đã quên từ ba mươi lăm năm trước, và thấy trên quầy gỗ một cuốn sổ mở dở, và một chiếc ghế đẩu cao.
Mẹ Mimi hỏi anh cần gì. Anh nói anh cần việc.
Bà nhìn bàn tay sẹo của anh, rồi nhìn mặt anh, và anh biết bà biết anh là ai: người đã bế con gái bà ra khỏi một cỗ xe đang cháy. Bà gọi chồng ra.
Mùa thu năm ấy, anh theo cha Mimi xuống cảng phía nam hai chuyến. Anh biết tính toán. Anh biết mặc cả, vì anh đã học mặc cả với những nhà thầu của bốn nhà máy khi đặt làm cỗ máy. Anh biết nhìn một thùng gia vị mà đoán được người ta đã trộn bao nhiêu mùn cưa vào đấy, vì anh đã đo khối lượng riêng của hàng trăm thứ bột trong những xưởng thử của quân đội. Không điều nào trong số ấy là kiến thức của tương lai. Chúng chỉ là những gì một người đàn ông bốn mươi mốt tuổi biết sau hai mươi năm làm việc.
Sau chuyến thứ hai, cha Mimi giao cho anh giữ sổ sách.
Anh không tìm lại những khách quý tộc đã bỏ đi; anh biết vì sao họ bỏ đi, và biết họ sẽ không quay lại. Anh đi tìm những người khác. Những chủ quán trọ mới mở dọc con đường cái về phía cảng. Những thầy thuốc trẻ vừa rời Học viện, cần mua những thứ mà thợ cắt tóc không bao giờ mua. Những nhà buôn nhỏ không đủ vốn đi cảng. Anh biết những con phố nào sẽ đông lên, những nghề nào sẽ mọc ra. Đó là lần duy nhất trong những năm ấy anh dùng đến thứ gì gần với kiến thức tương lai. Anh tự nhủ nó không tính. Anh chỉ biết những con phố.
Cũng mùa xuân ấy, khi tay đã cầm được cán xẻng, anh mượn xe hàng của cha Mimi một đêm, nói là để chở thùng từ bến về. Anh đánh xe vào khoảng rừng thưa, dùng đòn bẩy và ròng rọc lăn cái vỏ buồng rỗng đến miệng giếng cạn sau lò than, và để nó rơi. Anh lấp đá và đất lên cho đến khi miệng giếng chỉ còn là một chỗ trũng giữa cỏ. Gần sáng, anh trả xe về bến, đúng giờ.
Mimi biết chuyện cửa hàng từ mẹ cô. Một buổi chiều cuối đông, cô đến nhà kho gần bến sông, nơi anh làm việc dưới tầng trệt, và đứng ở cửa nhìn anh ghi sổ.
“Ông biết chuyện nhà Lucan,” cô nói. Không phải câu hỏi.
“Tôi biết.”
“Ông không kể cho tôi.”
“Không phải việc của tôi để kể.”
Cô nhìn anh thêm một lúc. Rồi cô bước vào, kéo một chiếc thùng gỗ lại gần bàn, ngồi xuống, và nói:
“Lần sau thì kể.”

Mùa xuân năm Therion bốn mươi hai tuổi, chàng trai tóc vàng mang tập hồ sơ buộc dây gai đến tìm Mimi. Anh biết ngày ấy. Anh biết cô sẽ đọc nó trước mặt cậu, và sẽ hỏi cậu đã đi tìm chưa.
Cô đến nhà kho ngay tối hôm ấy.
Anh đang ngồi một mình dưới ngọn đèn dầu treo trên cột, ghi nốt những trang sổ cuối ngày. Cô đi thẳng đến bàn, và đứng trước mặt anh.
“Tôi vừa đọc một tập hồ sơ,” cô nói. “Có những bản khám nghiệm tử thi trong đó. Có một cái tên. Cái tên người ta ghi trên lệnh canh gác phòng ông suốt ba tháng.”
Anh đã có gần hai năm để chuẩn bị một câu trả lời. Anh đã không chuẩn bị được câu nào, vì anh đã tự hứa rằng không lời nói dối nào sẽ là về cô.
“Ông có phải là người trong tập hồ sơ ấy không?”
“Người trong tập hồ sơ ấy,” anh nói, “đã chết.”
Anh thấy cô hiểu câu ấy theo cách mà bất kỳ ai cũng sẽ hiểu: người đàn ông ấy đã thôi là người đàn ông ấy. Anh thấy cô chấp nhận cách hiểu ấy, không phải vì nó đủ, mà vì cô muốn nó đủ. Anh đã không nói dối cô. Anh đã nói với cô sự thật duy nhất anh có thể nói, và anh biết nó nặng hơn mọi lời nói dối: đêm ấy, ở lò than, người nói câu ấy là người đã làm cho nó thành thật.
Rồi Mimi làm một điều anh không chờ đợi.
Cô cầm lấy bàn tay trái của anh đang đặt trên bàn, lật nó lên dưới ánh đèn dầu như lật tay người bệnh để xem mạch, và đẩy ống tay áo anh lên. Ngón tay cô chạm vào mặt trong cổ tay anh, chỗ da lành lặn giữa những vết sẹo bỏng trên các ngón và phần cẳng tay lửa không chạm tới.
Không có gì ở đó.
Cô nhìn cổ tay anh. Rồi cô buông ra, kéo ống tay áo xuống lại cho anh, cẩn thận, như kéo tấm khăn lên che vai một đứa trẻ. Cô không hỏi thêm câu nào. Cô kéo chiếc thùng gỗ lại gần bàn, ngồi xuống, và ngồi đó với anh cho đến khi ngọn đèn dầu cạn.
Therion biết cô vừa làm gì. Chiều nay, cô đã nói với cậu bạn thân nhất của mình rằng khi một giả thuyết giải thích được mọi thứ mình biết, thì phải đi tìm thứ mình chưa biết. Tối nay, cô đã tự mình đi tìm, và tìm thấy. Hai mươi năm, anh đã nhớ câu cô nói chiều hôm ấy. Anh chỉ không biết, cho đến đêm nay, rằng cô đã không chỉ nói.

Cuối mùa hè năm ấy, chàng trai tóc vàng đến nhà kho với bản thứ tư của lá đơn tố giác.
Mọi thứ diễn ra như anh nhớ. Anh để bàn tay trái nằm yên trên mặt bàn, không giấu, cũng không chìa ra, và thấy mắt chàng trai dừng ở ống tay áo cài khuy, rồi rời đi mà không đòi xem. Anh không phủ nhận điều gì về cái hộp, vì một lời phủ nhận sẽ là câu đầu tiên của một cuộc tranh luận mà anh không được phép thắng.
Chỉ có một điều anh không nhớ, vì chàng trai ấy đã không nhìn thấy: khi bóng lưng gầy khuất sau cánh cửa nhà kho, anh ngồi rất lâu, hai bàn tay sẹo đặt trên lá đơn, và không đọc được chữ nào trên đó vì mắt anh không nhìn rõ.

Vài tuần sau, nhà kho nhận một chuyến hàng lớn từ cảng phía nam, và vì một nửa số phu khuân vác bị sốt, Therion tự tay dỡ hàng.
Trời nóng. Anh xắn tay áo lên đến vai, như mọi người thợ bến sông. Anh đã quen với hai bàn tay sẹo của mình đến mức quên rằng trên người anh còn những vết sẹo khác, cũ hơn nhiều.
Mimi đến vào giữa buổi chiều, mang theo một bình nước và một gói bánh. Cô đứng ở cửa nhà kho, nhìn anh đặt một thùng gia vị xuống đống hàng, và rồi cô không bước vào.
Therion ngẩng lên. Cô đang nhìn cánh tay trái của anh. Không phải bàn tay. Bắp tay, chỗ da rám nắng phía trên khuỷu, nơi có một vòng sẹo nhỏ, cũ, mờ, hình một hàm răng trẻ con.
Anh kéo tay áo xuống. Chậm. Quá chậm.
Mimi đứng ở cửa lâu hơn anh từng thấy cô đứng ở bất cứ cánh cửa nào. Rồi cô bước vào, đặt bình nước và gói bánh lên chiếc thùng gỗ cạnh bàn, và hỏi, bằng một giọng anh không nhận ra:
“Vết sẹo ấy ở đâu ra?”
“Chuyện cũ,” anh nói.
Cô nhìn anh, và trong đôi mắt nâu sẫm ấy anh thấy điều anh đã thấy trên mặt cô bé bốn tuổi trên chiếc ghế đẩu, khi một cậu bé lạ bảo cô rằng chiếc cúc màu xương to hơn: cô đang đo. Cô đang đặt hai thứ cạnh nhau cho khớp mép.
Rồi anh thấy cô dừng lại.
Không phải vì cô đo xong. Vì cô không dám đo tiếp. Có một câu trả lời ở cuối phép đo ấy, và câu trả lời ấy không thể có thật, vì trên đời không có chỗ nào cho nó. Một người đàn ông bốn mươi hai tuổi không thể mang trên bắp tay vết cắn mà một cô bé bảy tuổi đã để lại trên bắp tay một cậu bé tám tuổi, dưới gốc táo trong một khu vườn quý tộc.
Trừ khi.
Anh thấy cô không đi hết chữ trừ khi ấy.
“Tôi từng cắn một người,” Mimi nói. Cô không nhìn anh. Cô nhìn gói bánh trên thùng gỗ. “Hồi tôi bảy tuổi. Cậu ấy hỏi tôi một câu mà tôi không muốn trả lời.”
Cô chờ. Anh biết cô đang chờ anh giật mình, hoặc hỏi lại, hoặc nói một điều mà chỉ người đã ở dưới gốc táo hôm ấy mới biết để nói.
Anh cầm bình nước lên, uống một ngụm, và đặt nó xuống.
Mimi thở ra. Một hơi thở ngắn, mà anh đọc được, vì anh đã có hai mươi năm để học đọc nó. Không phải thất vọng. Nhẹ nhõm.
“Ông ăn đi,” cô nói, và đẩy gói bánh về phía anh.

Mùa xuân năm sau, bản án của Nicanor được hủy. Chỉ một dòng trên bảng tin dán ở cổng tòa án tối cao. Therion không đến đọc. Anh biết chàng trai tóc vàng sẽ đến.
Anh cũng biết một người lục sự trẻ gầy gò ở phòng lưu trữ của tòa án sẽ được thuyên chuyển vào đầu năm ấy, lên một vị trí ở triều đình. Anh đã nhắc tên người lục sự ấy đúng một lần với ông già ngồi giữa chiếc bàn dài, vào ngày cuối cùng trong tòa nhà đá xám, như nhắc một người có thể tin được. Ông già không hỏi vì sao. Anh chỉ nhớ một con số: sáu mươi tám điểm, bài thiên văn, cao nhất khóa. Và một cái cười ngắn, lúng túng, trong một nhà ăn lớn, gần ba mươi năm trước. Anh đã mang cái tên ấy trong sổ suốt ngần ấy năm mà không nghĩ đến nó lần nào. Giờ anh có thời gian để nghĩ.

Cô hỏi anh vào một buổi tối đầu hè, trên bậc đá của bến sông phía nam, khi những chiếc thuyền hàng cuối ngày đã cập bến và mặt sông chỉ còn ánh đèn dầu từ những ô cửa sổ dọc bờ.
Họ ngồi cạnh nhau, không sát. Cách một sải tay. Cô vừa kể về một ca cắt chân mà cô đã từ chối làm, thay bằng một ca mổ chưa ai trong trạm cứu thương từng làm, và người thợ mộc có cái chân ấy sáng nay đã tự đứng dậy được. Cô kể mà không nhìn anh. Cô nhìn dòng sông, và cô cười.
Rồi cô thôi cười, và quay sang.
“Tôi hỏi ông một câu,” cô nói. “Ông không cần trả lời ngay.”
Therion chờ.
“Ông có muốn cưới tôi không?”
Anh nghĩ đến một gốc táo. Một danh sách lý do đọc như đọc lại một cuốn sổ. Một chữ không. Lớn đã. Làm được cái cậu muốn làm đã. Rồi hẵng hỏi. Một vết cắn. Và một dòng chữ viết trước khi đi ngủ, trong một cuốn sổ nhỏ: Mimi: chưa. Khi nào: khi làm được.
Anh đã hỏi cô câu ấy ba mươi lăm năm trước. Cô đã trả lời chưa.
Giờ cô hỏi anh.
Anh nghĩ đến tất cả những gì anh biết. Rằng anh sẽ trả lời có. Rằng câu trả lời này đã được viết từ hai mươi năm trước, trên một tấm thiệp cưới nhỏ viết tay mà chàng trai tóc vàng sẽ úp xuống bàn. Rằng không có gì anh làm lúc này là lựa chọn, theo cách mà một phương trình đã giải không còn là lựa chọn.
Rồi anh nghĩ: không. Không phải thế.
Người trả lời câu hỏi này không phải phương trình. Là anh. Một người đàn ông bốn mươi ba tuổi ngồi trên bậc đá bến sông, nhìn một người phụ nữ hai mươi hai tuổi đã tự mình đo cổ tay anh và tự mình dừng lại trước một chữ trừ khi. Một người đã dành ba năm để hỏi cô muốn gì, thay vì nói cho cô biết cô nên muốn gì. Một người vừa nghe cô kể về một cái chân không bị cắt, và đã không nói với cô một lời nào về cách làm, vì cô đã tự tìm ra. Một người đã giết một người khác ở cuối một đường mòn, và mang cái tên ấy.
Anh không biết mình có xứng đáng không. Anh chỉ biết mình muốn.
“Được rồi,” anh nói.
Mimi nhìn anh thêm một lúc. Rồi cô cười thành tiếng, và mặt sông lăn tăn ánh đèn dưới chân họ.
“Ông trả lời nhanh quá,” cô nói.
“Tôi đã có thời gian để nghĩ.”
“Bao lâu?”
Therion nhìn dòng sông.
“Đủ lâu,” anh nói.

Đám cưới được tổ chức vào cuối mùa hè, gần đúng ba năm sau ngày cỗ xe nổ.
Anh đứng ở cổng khu vườn nơi làm lễ, như chú rể vẫn đứng để đón khách. Anh chào cha mẹ Mimi. Anh chào những người buôn bán trên dãy phố của cửa hàng, những chủ quán trọ, những thầy thuốc trẻ, ba người phu khuân vác ở bến sông đã từ chối mặc áo mới vì sợ làm bẩn.
Rồi anh thấy một người phụ nữ bước xuống từ một cỗ xe ngựa cũ, được một người gác cổng già dìu tay.
Bà năm mươi mốt tuổi. Tóc bà chưa bạc hết. Bà mặc một bộ váy xám bạc, và cài trên ngực một bông hoa trắng nhỏ.
Anh đã nhìn thấy khuôn mặt ấy ở tuổi sáu mươi tám, dưới ngọn đèn dầu cũ trong phòng khách nhỏ, ba năm trước hay hai mươi năm sau, anh không còn biết nên đếm theo chiều nào. Bà đã bảo anh cứ đi. Bà đã sửa cổ áo anh.
Bà dừng lại trước anh, với cái nhìn lịch sự của một bà già quý tộc nhìn một người đàn ông lạ đã cứu mạng con gái người bạn thân.
Therion cúi chào bà.
Anh cúi rất thấp, và giữ ở đó lâu hơn người ta cúi chào một bà già quý tộc mà mình không quen. Anh biết mình không nên. Anh biết tối nay bà sẽ kể lại điều này với con trai bà, ở cửa một căn phòng phủ đầy những tờ giấy tính quỹ đạo mặt trăng, và con trai bà sẽ nói: Hắn biết mẹ là mẹ con. Hắn muốn con biết hắn đã cúi chào mẹ.
Anh vẫn cúi. Vì đó là cách duy nhất anh còn có để nói với bà điều anh không bao giờ được nói.
Khi anh đứng thẳng lên, bà đang nhìn anh. Bà gật đầu, một lần, rồi đi vào vườn.
Suốt buổi lễ, Mimi nhìn ra cổng. Mỗi lần có tiếng bánh xe ngựa ngoài đường, anh thấy mắt cô liếc về phía ấy, rồi quay lại. Anh biết người cô đang chờ sẽ không đến. Anh biết chính xác người ấy đang làm gì.
Chuông tháp thành phố điểm giữa trưa. Ở tiếng thứ mười hai, người chủ lễ bắt đầu nói.
Cách đó hơn một dặm, trong một căn phòng ở Viện Triết học Tự nhiên, một chàng trai hai mươi ba tuổi đang ngồi tính quỹ đạo của mặt trăng. Mặt trăng rơi mỗi khoảnh khắc, và không bao giờ chạm tới. Tối nay, chàng trai ấy sẽ mở cuốn sổ ra ở một trang trắng và viết một dòng chữ, và mang dòng chữ ấy theo suốt mười bảy năm.
Therion biết từng chữ. Anh là người đã viết nó. Anh đứng đây, trong một khu vườn cuối hè, một bàn tay sẹo nắm lấy bàn tay một người phụ nữ đang thôi nhìn ra cổng, và anh biết rằng dòng chữ ấy là lý do duy nhất anh có mặt ở đây.
Nếu người ấy không xuất hiện.
Mimi siết tay anh. Anh siết lại.

💬 Bình luận (0)