Những ngày sau đó, Túc Ly chẳng những không nản lòng bởi thái độ xa cách của Phổ Yến, trái lại càng thêm kiên trì. Nàng vốn là Lục công chúa được cưng chiều, xưa nay muốn thứ gì đều dễ dàng có được, sự lạnh lùng của Phổ Yến lại vô tình khơi dậy sự cố chấp và khao khát trong lòng nàng.
Biết Phổ Yến thường ra vào hoàng cung qua cổng phía Tây sau giờ chầu, Túc Ly cố ý sai cung nữ Hạ Tuyết chuẩn bị trà bánh thanh nhiệt, mang theo cớ "thay phụ hoàng ban thưởng cho các võ tướng vất vả" để chặn đường hắn.
Hôm ấy, trời chớm đổ mưa rào. Những giọt nước mưa lợp bốp rơi trên mái ngói lưu ly, biến hành lang dài thành một khoảng không gian mờ mịt hơi sương. Túc Ly mặc một bộ cung trang nhạt màu, đứng đợi dưới mái hiên cùng Hạ Tuyết đang ôm chiếc khay gấm.
Vừa thấy bóng dáng Phổ Yến thong thả đi tới dưới làn mưa lấp phất, Túc Ly liền mỉm cười bước ra vài bước.
"Định Bắc tướng quân."
Phổ Yến dừng bước. Thấy Lục công chúa đứng chắn trước mặt, hàng mày hắn khẽ nhíu lại một vệt rất nhạt, nhưng rất nhanh đã thu về vẻ bình thản thường ngày. Hắn lùi lại đúng hai bước, chắp tay cúi người:
"Thần tham kiến công chúa."
"Tướng quân miễn lễ." Túc Ly dịu giọng nói, ra hiệu cho Hạ Tuyết tiến lên một bước. "Mấy ngày nay trời bắt đầu chuyển mùa, nghe nói tướng quân vừa phải bận rộn quân vụ ở kinh thành vừa chuẩn bị phòng thủ vùng biên. Ta đặc biệt bảo ngự thiện phòng làm ít trà thảo mộc dưỡng thần, muốn mang tới cho tướng quân."
Nàng ngước đôi mắt sóng sánh nước nhìn hắn, trong ánh mắt đong đầy sự mong chờ nhỏ ngoi. Nàng hy vọng ít nhất lần này hắn sẽ nhận lấy, hoặc nở một nụ cười nhẹ nhàng đáp lại.
Thế nhưng, Phổ Yến đến một ánh mắt cũng không thèm nhìn sang chiếc khay gấm. Hắn vẫn giữ tư thế chắp tay, giọng nói lạnh lẽo như sương đêm nơi biên quan:
"Đa tạ ý tốt của Lục công chúa. Tuy nhiên, thần thân là võ tướng, quanh năm dầm mưa dầm nắng ở sa trường, dã tính quen rồi, không dùng quen những thứ thanh nhã trong cung. Đồ thưởng của Bệ hạ và công chúa, thần không dám đường đột nhận lấy."
Túc Ly khựng lại, nụ cười trên môi khẽ cứng đờ. Bàn tay giấu trong tay áo của nàng siết chặt lấy dải lụa.
"Chỉ là một chén trà thảo mộc thôi mà, tướng quân cần gì phải khách sáo như vậy?"
Nàng cố giữ giọng điệu tự nhiên, nhưng trong lòng đã dâng lên một luồng chua xát.
"Lễ nghi quân thần có phân biệt. Thần tự biết thân phận mình, không dám làm trái quy củ." Phổ Yến ngẩng đầu, ánh mắt thẳng tắp nhưng hoàn toàn không có lấy một chút gợn sóng hay tình ý nào. "Trời mưa mỗi lúc một lớn, công chúa nên sớm trở về điện nghỉ ngơi, tránh để nhiễm lạnh. Thần còn có công vụ gấp phải xử lý, xin phép cáo lui."
Không chờ Túc Ly kịp thốt thêm lời nào, Phổ Yến đã dứt khoát cúi người hành lễ, sau đó nghiêng người bước qua cạnh nàng, rảo bước đi thẳng vào làn mưa. Bóng lưng hắn thẳng tắp, dũng mãnh, tuyệt nhiên không một lần ngoái đầu nhìn lại.
Túc Ly đứng lặng dưới mái hiên, nhìn chiếc khay trà vẫn còn nghi ngút khói trên tay Hạ Tuyết, rồi lại nhìn bóng lưng dứt khoát dần khuất sau bức tường son đỏ thẫm. Gió lạnh lùa qua tà váy, khiến nàng bất giác rùng mình.
Hạ Tuyết nhìn sắc mặt nhợt nhạt của chủ tử, thấp giọng an ủi:
"Công chúa... Định Bắc tướng quân vốn xuất thân từ quân ngũ, quanh năm chỉ biết gươm đao nên tính tình mới khô khô khan, cứng nhắc như vậy..."
Túc Ly khẽ lắc đầu. Nàng không giận hắn, chỉ cảm thấy trong lòng dấy lên một nỗi hụt hẫng mênh mang. Hắn càng lạnh lùng xa cách, càng giữ đúng quy củ quân thần, nàng lại càng cảm thấy hắn khác biệt hoàn toàn với đám nam tử nịnh hót ngoài kia. Nàng thở dài một tiếng, tự nhủ có lẽ do mình quá vội vàng, sau này nhất định sẽ có cơ hội làm hắn xiêu lòng.
Những hành động bất thường của Túc Ly dạo gần đây tuy không gây rầm rộ, nhưng làm sao qua được mắt Chiêu phi Lã Lan Hi - vị phi tần đã mười mấy năm lăn lộn giữa chốn thâm cung đầy sóng gió.
Từ việc Túc Ly dạo này thường xuyên quan tâm đến lịch trình thượng triều của các võ tướng, cho đến việc cố tình canh giờ ở hành lang hay sai người làm trà thảo mộc, tất cả đều được tai mắt của Hoa Ngạc Điện ghi nhận từng chút một.
Chiều hôm ấy, Túc Ly đến Hoa Ngạc Điện thỉnh an mẫu phi.
Trong điện thắp hương bách hợp nhàn nhạt, rèm gấm màu rêu buông nhẹ che bớt ánh nắng gay gắt ngoài hiên. Chiêu phi Lã Lan Hi ngồi trên tựa gấm, tay cầm chén trà sứ men xanh chầm chậm gạt đi lớp bọt trà trên mặt. Bà đã ngoài ba mươi, gương mặt mặn mà sang trọng, đôi mắt sắc sảo thoáng nhìn đã như đọc thấu tâm tư người khác.
Túc Ly ngồi bên cạnh, dáng vẻ có phần lơ đãng, ngón tay vô thức miết nhẹ đường viền trên tay áo.
Chiêu phi nhấp một ngụm trà, chậm rãi đặt chén xuống khay ngọc. Tiếng sứ va vào khay vang lên một tiếng “cạch” khẽ khàng, kéo Túc Ly trở về thực tại.
“Mấy ngày nay con có chuyện gì lo lắng sao?” Chiêu phi cất giọng nhàn nhạt, ánh mắt dịu dàng nhưng không thiếu sự dò xét nhìn nữ nhi của mình. “Mẫu phi thấy con ra vào cung thất có chút bất an, lại thường xuyên lảng vảng gần khu vực Ngự thư phòng và cổng Tây.”
Túc Ly thoáng giật mình, ngón tay ngưng lại. Nàng cố giữ vẻ bình thản, gượng cười đáp:
“Mẫu phi nói gì vậy ạ? Con... con chỉ là dạo này thấy trong điện ngột ngạt, nên mới ra ngoài đi dạo một chút thôi.”
Chiêu phi khẽ nhếch môi, ánh mắt như nhìn thấu sự bối rối của nàng. Bà không vạch trần ngay, chỉ thong thả phất tay ra hiệu cho cung nhân túc trực trong điện lui ra ngoài, đóng kín cửa điện lại.
Đến khi trong gian phòng rộng lớn chỉ còn lại hai mẹ con, Chiêu phi mới xoay người lại, nhìn thẳng vào mắt Túc Ly, giọng nói chầm chậm nhưng nặng trĩu:
“Trò vụng về đó của con có thể lừa được cung nhân, nhưng làm sao lừa được mẫu phi? Con canh giờ chặn đường Phổ tướng quân, lại còn sai ngự thiện phòng làm trà dâng tới... Túc Ly, con thật sự cho rằng mẫu phi không biết sao?”
Gương mặt Túc Ly trong phút chốc tái nhạt, rồi lại ửng hồng vì thẹn. Nàng biết mình không thể giấu mẫu phi được nữa, đành cúi đầu, bàn tay siết chặt lấy dải lụa bên hông, giọng nói nhỏ như tiếng muỗi kêu:
“Mẫu phi... con...”
“Con thật sự đem lòng thương nhớ Phổ Yến rồi?”
Chiêu phi ngắt lời, trong giọng nói không có sự giận dữ, chỉ có vẻ trầm ngâm sâu thẳm.
Túc Ly ngẩng đầu nhìn mẫu phi, đôi mắt đẹp đong đầy sự kiên định xen lẫn thẹn thùng của một thiếu nữ vừa biết yêu. Nàng không phủ nhận nữa, khẽ gật đầu:
“Mẫu phi, Phổ tướng quân không giống đám công tử thế gia phù phiếm trong kinh thành. Ngài ấy trầm tĩnh, bản lĩnh, lại có chiến công hiển hách... Từ sau lần được ngài ấy giúp đỡ, con... con thật sự không thể quên được.”
Nàng bước tới gần Chiêu phi, nàng nắm lấy tay bà, ánh mắt tràn đầy mong đợi:
“Mẫu phi, con là Lục công chúa, Phổ tướng quân là Định Bắc tướng quân vừa lập đại công. Nếu con xin phụ hoàng ban hôn, chẳng phải sẽ rất vừa lứa xứng đôi sao? Mẫu phi giúp con có được không?”
Chiêu phi nhìn nữ nhi đang đắm chìm trong tình đơn phương, thở dài một tiếng. Bà đã sống trong cung hai mươi năm, chứng kiến bao nhiêu nữ nhân vì tình mà tan vỡ. Dẫu vậy Túc Ly vẫn là đứa con gái duy nhất của bà, bà chỉ hận không thể đem hết những điều tốt nhất trên thế gian dành cho nàng. Bởi vậy điều nàng mong muốn, trừ khi quá vô lý, còn lại Lã Lan Hi luôn cố gắng đáp ứng. Chiêu phi đưa tay vuốt nhẹ mái tóc Túc Ly, ánh mắt trở nên sâu thẳm:
“Con ngốc này... Phổ Yến quả thật là một nam tử xuất sắc, không có thế gia chống lưng nhưng lại được Bệ hạ đích thân trọng dụng, tương lai vô hạn. Nếu con gả cho hắn, tự nhiên là một chỗ dựa vững chắc.”
Bà ngừng một chút, ánh mắt lóe lên sự sắc sảo của một người đã quen tính toán nơi hậu cung:
“Tuy nhiên, Phổ Yến là người cẩn trọng, thái độ của hắn với con dạo gần đây luôn giữ khoảng cách, chứng tỏ hắn không phải kẻ dễ dàng dùng nhan sắc hay thân phận công chúa để làm xiêu lòng. Chuyện hôn sự này không thể vội vàng, càng không thể để hắn cảm thấy bị ép buộc. Mẫu phi sẽ tìm thời cơ thích hợp để thăm dò ý của phụ hoàng con, nhưng con cũng phải thu lại sự cuống quýt đó đi, chớ để người khác cười chê là công chúa mà lại mất đi thể diện.”
Túc Ly nghe mẫu phi hứa hẹn sẽ giúp mình, trong lòng mừng rỡ khôn siết, vội vàng gật đầu:
“Vâng, con nhớ rồi! Cảm ơn mẫu phi!”
Chiêu phi mỉm cười dịu dàng nhìn con gái, nhưng sâu trong đáy mắt bà lại dấy lên một tia suy tính trầm lặng.
Nơi hoàng cung tường cao cửa khép này, mỗi một mối hôn sự của công chúa chưa bao giờ đơn thuần là chuyện tình cảm, mà đều gắn chặt với bàn cờ thế lực triều chính.
Các công tử thế gia tuy gia thế hiển hách, nhưng sau lưng họ là cả một dòng họ phức tạp, lắm mối quan hệ chằng chịt khó lòng thao túng. Ngược lại, Phổ Yến tuy xuất thân bình dân nhưng lại là một tướng lĩnh trẻ tuổi, tài năng kiệt xuất, vừa lập đại công đã được Hoàng đế hết mực trọng dụng. Một người mang binh quyền trong tay nhưng lại không có bệ đỡ phe phái chống lưng như hắn, đối với Chiêu phi mà nói, chính là đối tượng hoàn hảo nhất, vừa dễ kiềm chế, lại vừa dễ kéo về phe mình.
Quan trọng hơn cả, Chiêu phi thừa hiểu tình hình biên cảnh gần đây đang rối ren, vương tôn ngoại bang ra vào kinh thành không ít. Để Túc Ly sớm gả cho một võ tướng nắm thực quyền trong triều, chẳng những giúp nàng tìm được chỗ dựa vững chắc mà còn trực tiếp triệt tiêu nguy cơ một ngày nào đó nàng bị đem ra làm quân cờ gả đi hòa thân nơi xứ người lạnh lẽo.
Nắng chiều hắt qua những ô cửa sổ gỗ của Ngự Thư Phòng, chiếu lên làn khói trầm hương nghi ngút tỏa ra từ chiếc đỉnh đồng cổ. Bầu không khí bên trong yên lặng đến mức có thể nghe thấy cả tiếng ngọn lửa reo khe khẽ dưới ấm trà nóng.
Hoàng đế Đại Ung ngồi tựa trên chiếc ngai chạm rồng, nét mặt thâm trầm không gợn chút sóng sánh. Trước mặt ông, những vị đại thần trụ cột nắm giữ vận mệnh triều chính bao gồm Tể tướng Thừa Tuyên, Thượng thư Bộ Binh và Thượng thư Bộ Hộ đang nghiêm cẩn chắp tay đứng chờ.
"Về bản thỏa ước giao thương mà sứ đoàn Khuyết La dâng lên mấy ngày qua, chư vị khanh gia thấy thế nào?"
Hoàng đế cất giọng trầm đục, tay chậm rãi xoay chiếc nhẫn ngọc bích trên ngón tay trỏ. Thượng thư Bộ Binh lập tức bước ra một bước, chắp tay tấu:
"Bẩm Bệ hạ, thần cho rằng tuyệt đối không thể vội vàng mở cửa biên! Khuyết La vốn là tộc người hiếu chiến trên thảo nguyên, kỵ binh của chúng dũng mãnh vô song. Việc mở cửa biên tuy mang lại nguồn lợi thương mại cho bách tính, nhưng lại tạo điều kiện cho thương nhân và do thám của Khuyết La xâm nhập sâu vào nội địa, nắm rõ địa hình cũng như đường vận lương của ta. Một khi chúng tích trữ đủ lương thảo và sắt thép, việc tràn quân xuống phía Nam chỉ là chuyện ngày một ngày hai!"
Thượng thư Bộ Hộ lại khẽ lắc đầu, chắp tay đưa ra góc nhìn khác:
"Lời Thượng thư Bộ Binh tuy có lý, nhưng ngân khố mấy năm nay vì thiên tai và quân phí vùng biên mà thu không bù chi. Việc mở cửa biên thu thuế thương mại sẽ mang lại nguồn lợi khổng lồ. Chưa kể, mùa đông trên thảo nguyên sắp đến, nếu ta kiên quyết đóng cửa biên, dồn người Khuyết La vào đường cùng, A Mãn Tư La dĩ nhiên sẽ chọn cách xua kỵ binh đi cướp phá. Lúc đó chiến sự bùng nổ, tổn thất e rằng còn lớn hơn gấp bội."
Hoàng đế không ngắt lời, ánh mắt thâm trầm dời sang vị lão thần đứng đầu hàng quan lại Tể tướng Thừa Tuyên.
"Tể tướng, khanh có ý kiến gì?"
Thừa Tuyên thong thả bước ra, vuốt chòm râu bạc, chậm rãi cất giọng với vẻ từng trải của một kẻ đã kinh qua vô số sóng gió triều chính:
"Bẩm Bệ hạ, cả hai vị Thượng thư đều nói đúng mối lo của Đại Ung ta. Nhưng nếu chúng ta chỉ thuần túy bàn chuyện mở hay đóng cửa biên, e rằng sẽ vĩnh viễn rơi vào thế bị động."
"Ý của khanh là...?" Hoàng đế nheo mắt.
Thừa Tuyên cúi đầu, giọng nói hạ thấp nhưng từng từ lại chứa đựng sự tính toán lạnh lùng của một lão thần lão luyện:
"Nếu muốn mở cửa biên để thu lợi và giữ hòa bình, nhưng lại sợ Khuyết La bội ước... triều đình ta cần một con tem bảo đảm. Từ xưa đến nay, phương án vẹn cả đôi đường nhất để trói buộc hai quốc gia chính là…hòa thân."
Hai chữ "hòa thân" thốt ra khiến không khí trong Ngự Thư Phòng như chùng xuống một nấc.
Thừa Tuyên tiếp tục phân tích:
"Gả một vị công chúa sang Khuyết La làm Đại Vương phi, kết thành liên minh máu mủ. Dùng vị công chúa ấy làm tai mắt và mồi nhử xoa dịu rợ Bắc, vừa cho ta thời gian củng cố quân bị, vừa kiềm chế dã tâm của Khuyết La từ bên trong. Đây chính là cái giá nhỏ nhất để đổi lấy lợi ích lớn nhất cho Đại Ung."
Hoàng đế không đáp lời ngay. Ông gạt nhẹ nắp chén trà, tiếng sứ va chạm lách cách vang lên giữa không gian tĩnh lặng.
Phương án hòa thân dĩ nhiên ông không muốn thuận ý ngay lập tức để tránh làm mất uy phong của một đại quốc. Tuy nhiên, lòng vị đế vương lão luyện này đã bắt đầu âm thầm tính toán.
Hoàng tộc Đại Ung không thiếu công chúa, nhưng gả ai đi lại là một bài toán hóc húa. Hiện tại hoàng cung còn 4 vị công chúa chưa thành thân. Túc Hiên và Kiến An công chúa đã mười chín xuân, Túc Ly công chúa năm nay cũng đã mười bảy, cuối cùng chỉ còn Tịnh Triêu công chúa là nhỏ tuổi.
Hoàng đế thong thả nhấp một ngụm trà, cất giọng uy nghiêm:
"Chuyện hòa thân là đại sự, không thể tùy tiện quyết định. Để xem ở buổi thượng triều tới, sứ đoàn Khuyết La sẽ đưa ra thành ý ra sao rồi mới tính tiếp. Các khanh lui đi."
"Chúng thần cáo lui!"
Các đại thần cúi đầu lui ra ngoài. Trong gian phòng vắng lặng, Hoàng đế nhìn ra ngoài hiên nơi gió thu đang thổi tới, ánh mắt lạnh lẽo và tĩnh lặng như mặt nước giếng cổ.