Rời An Hòa Điện, A Mãn Tư La chậm rãi bước qua những dãy hành lang dài hun hút. Chiếc hộp gỗ chứa bảo vật gia truyền đã trao đi, nhưng cảm giác đăng đắng nơi đầu lưỡi của chén trà xanh cùng nụ cười dịu dàng của Kiến An công chúa dường như vẫn còn vương vấn quanh hắn.
Trở về Quý Tân Điện, vẻ êm đềm dịu mát vừa rồi lập tức tan biến, trả lại một A Mãn Tư La trầm tĩnh, sắc bén của vị Đại vương tử Khuyết La.
Trong nội điện, mấy vị sứ thần và tướng lĩnh Khuyết La đi theo chuyến này đã chờ sẵn từ bao giờ. Vừa thấy hắn bước vào, tộc trưởng Cốt Đột Đạt, vị lão thần thâm niên nhất trong đoàn đã sốt sắng tiến lên hành lễ:
"Đại vương tử, sức khỏe người đã hoàn toàn bình phục rồi chứ?"
"Đã không còn đáng ngại nữa."
Tư La thong thả tiến đến chiếc ghế chủ vị ngồi xuống. Yết Nhĩ vội dâng lên chén rượu dê nóng mà người Khuyết La mang theo. Hắn nhấp một ngụm, ánh mắt đảo qua một lượt những gương mặt thân tín đang ngồi quanh bàn.
Cốt Đột Đạt gật đầu, sau đó hạ thấp giọng, đi thẳng vào vấn đề chính:
"Điện hạ, Hoàng đế Đại Ung mấy ngày nay vẫn kéo dài thời gian, chưa chịu đưa ra quyết định chính thức về việc mở cửa biên giao thương. Bọn họ nghi ngại vô cùng."
Một vị tướng trẻ khác hừ lạnh một tiếng, tiếp lời:
"Đại Ung vốn nổi tiếng cẩn trọng đến mức hèn nhát. Họ sợ Khuyết La chúng ta mượn cớ giao thương để cho thương nhân, do thám vào sâu vùng biên cảnh, nắm rõ địa hình và đường vận lương của họ. Bọn họ làm sao không biết việc mở cửa biên tuy mang lại nguồn lợi béo bở cho cả hai bên, nhưng một khi hai nước trở mặt, đó chính là chiếc cầu nối thuận tiện nhất để đại quân Khuyết La tràn xuống phía Nam!"
Tư La lặng lẽ lắng nghe, ngón tay chậm rãi gõ nhẹ lên thành ghế theo từng nhịp thư thái. Hắn thừa biết mục đích của chuyến đi này. Khuyết La muốn mở cửa biên giao thương là thật. Dân tộc hắn cần tơ lụa, trà tầu, sắt thép và lương thảo của Đại Ung để qua những mùa đông khắc nghiệt trên thảo nguyên. Thế nhưng, đằng sau bản thỏa ước giao thương ấy chính là tham vọng chiến lược: dọn sẵn một con đường thong dong cho kỵ binh Khuyết La nếu tương lai chiến tranh nổ ra.
Hoàng đế Đại Ung và đám lão thần triều đình không phải kẻ ngốc, bọn họ dĩ nhiên nhìn ra dã tâm ẩn sau lời đề nghị này, nên mới dùng đủ mọi cớ để trì hoãn.
Cốt Đột Đạt nheo đôi mắt già đời, nhìn Tư La rồi cất giọng đầy toan tính:
"Điện hạ, nếu chỉ bàn chuyện buôn bán, e rằng Hoàng đế Đại Ung sẽ còn nhún nhường, kéo dài dưa cà thêm nhiều tháng nữa. Để buộc bọn họ hạ quyết tâm, chúng ta phải trao cho bọn họ một sự 'bảo đảm' khiến bọn họ an tâm."
Tư La nhướng mày, ánh mắt sắc lẹm chiếu về phía Cốt Đột Đạt:
"Ý của tộc trưởng là...?"
"Chính là hòa thân!" Cốt Đột Đạt đập nhẹ tay xuống bàn, ánh mắt lóe lên sự tính toán. "Nếu Đại vương tử cưới một vị công chúa của Đại Ung làm Vương phi, hai nước kết thành liên minh máu mủ, Hoàng đế Đại Ung tự nhiên sẽ bớt đi vài phần nghi ngại mà gật đầu mở cửa biên. Dùng một mối hôn nhân đổi lấy con đường giao thương chiến lược cho Khuyết La, đây chính là nước đi vẹn cả đôi đường!"
Hai chữ "công chúa" vừa thốt ra từ miệng Cốt Đột Đạt, trong tâm trí A Mãn Tư La lập tức hiện lên bóng dáng mảnh mai khoác bộ cung trang màu lam nhạt dưới hiên An Hòa Điện.
Đôi mắt thẫm màu của hắn chợt tối lại, ngón tay đang gõ trên thành ghế khẽ dừng khựng. A Mãn Tư La dựa lưng vào thành ghế, im lặng không đáp.
Hòa thân…hắn đâu còn lạ gì trò chơi chính trị này. Từ xưa đến nay, hôn nhân giữa hai hoàng thất chưa bao giờ là chuyện của hai người, đó chỉ là bản cam kết bằng máu và nước mắt để đánh đổi lấy vài năm hòa bình ngắn ngủi. Hắn vốn coi đó là công cụ hiển nhiên mà các bậc đế vương thường dùng để thu về lợi ích cho dân tộc.
Thế nhưng, khi Cốt Đột Đạt vừa nhắc đến hai chữ "hòa thân", trong đầu hắn không hiện ra một danh xưng công chúa xa lạ nào khác, mà chỉ tràn ngập hình bóng của Kiến An công chúa ở An Hòa Điện.
Hắn chợt nhớ đến đôi mắt trong veo không gợn chút bụi trần của nàng, nhớ ánh nắng chiều dịu nhẹ phủ lên bờ vai mảnh mai nơi An Hòa Điện. Kiến An là người đã cứu sống hắn, nàng cứu hắn giống như lần cứu chim non rơi khỏi tổ. Hắn cảm thấy nàng là sự thuần khiết duy nhất giữa chốn hoàng cung Đại Ung đầy rẫy mưu toan này.
Hắn kính trọng nàng, lòng chợt dâng lên một khao khát muốn bảo vệ nàng. Nếu dùng thân phận cứu mạng của nàng, dùng sự chân thành của nàng để biến nàng thành một quân cờ giao thương cho Khuyết La... hắn bỗng thấy lòng mình dâng lên một niềm xót xa cùng sự phản cảm tột cùng.
A Mãn Tư La không muốn lợi dụng nàng. Lần đầu tiên trong đời, vị Đại vương tử vốn luôn lạnh lùng, đặt lợi ích của Khuyết La lên hàng đầu, lại chần chừ trước một quyết định chính trị.
"Chuyện này... tạm thời không nhắc lại nữa." Tư La lạnh nhạt ngắt lời Cốt Đột Đạt, giọng nói không chút gợn sóng nhưng mang theo uy áp khiến kẻ khác phải im bặt. "Việc mở cửa biên còn phải xem thái độ của Hoàng đế Đại Ung ở những buổi bẩm báo tới. Lui ra hết đi."
Cốt Đột Đạt cùng các sứ thần ngơ ngác nhìn nhau, dù trong lòng còn nhiều nghi vấn nhưng thấy sắc mặt u trầm của Đại vương tử, họ đành cúi đầu lui ra ngoài.
Từ sau đêm hội hoa đăng, tình cảm giữa Ý Hoa và Phổ Yến như đã ngầm được khẳng định không hề thay đổi, nhưng chốn hoàng cung tường cao cửa khép vốn là nơi "tai mắt muôn trùng". Ý Hoa hiểu rõ thân phận Kiến An công chúa của mình nhạy cảm thế nào, chỉ cần một sơ suất nhỏ để lộ chuyện nàng tư thông thư từ với vị tướng quân đang nắm binh quyền trong tay, không chỉ mối nhân duyên này bị bóp chết mà còn kéo theo bao nhiêu tai họa triều chính.
Bởi vậy, mỗi cánh thư gửi đi đều được nàng chuẩn bị vô cùng cẩn trọng.
Nơi An Hòa Điện, Ý Hoa đuổi hết cung nữ ra ngoài, chỉ giữ lại một mình Sa Ân túc trực bên cửa. Nàng ngồi bên án thư, tự tay mài mực. Giấy dùng để viết thư không phải loại giấy xuyến tuyên thêu hoa dát vàng cao quý trong cung, mà là loại giấy hoa tiên mỏng nhẹ, hương thơm nhàn nhạt.
Nàng không xưng "Công chúa", cũng không gọi "Tướng quân". Những nét chữ mảnh mai, quyến rũ như nét vẽ nét thêu viết lên giấy, chỉ vỏn vẹn vài dòng thơ phong hoa tuyết nguyệt gửi gắm tâm tư, cùng những lời dặn dò Phổ Yến chú ý giữ giữ sức khỏe giữa những buổi thượng triều căng thẳng.
Viết xong, nàng cẩn thận gấp thư lại thật nhỏ, phong kín bằng sáp ong màu hồng nhạt, bên trên ấn một dấu hoa hải đường nhỏ xíu, ký hiệu riêng mà chỉ có nàng và Phổ Yến hiểu với nhau.
Để đưa thư ra khỏi cung mà không để lại vết tích, Ý Hoa đã nhờ đến Sa Ân. Sa Ân vốn là người thân tín nhất theo nàng từ ngày đầu vào cung, định kỳ mỗi tuần đều được phép ra ngoài mua sắm chút chỉ thêu và đồ hương liệu riêng cho An Hòa Điện. Cánh thư nhỏ được giấu kín trong lớp lót gấm của chiếc hộp gỗ đựng kim chỉ.
Tại một tiệm trà nhỏ tĩnh mịch ven sông ngoài thành, Sa Ân sẽ giao chiếc hộp cho thuộc hạ thân tín của Phổ Yến. Mọi khâu chuyển giao đều diễn ra chóng vánh, tự nhiên như một buổi giao dịch mua bán đồ thêu thùa bình thường.
Đêm xuống, trong gian phòng ở Phủ Định Bắc Tướng quân, ngọn đèn dầu cháy sáng.
Phổ Yến ngồi bên bàn gỗ, trên tay nâng niu mảnh giấy hoa tiên nhỏ bé. Vị tướng quân từng quen cầm gươm đao vát máu nơi sa trường, nay lại cẩn thận dùng đầu ngón tay vuốt nhẹ từng nếp gấp trên tờ giấy, sợ chỉ cần dùng lực mạnh một chút sẽ làm rách nét chữ của nàng.
Đọc từng dòng chữ đong đầy tình ý của Ý Hoa, khóe môi Phổ Yến bất giác cong lên một nụ cười dịu dàng. Hắn đưa tờ giấy lên gần mũi, hương hải đường nhàn nhạt quen thuộc trên người nàng như vẫn còn vương vấn đâu đây, xua tan đi mọi mệt mỏi sau một ngày dài đối đầu với những tranh chấp gay gắt nơi triều đình.
Hắn lập tức mài mực viết thư hồi âm. Chữ viết của Phổ Yến vốn mang sự cứng cỏi, sắc bén của người học võ, nhưng từng lời gửi cho nàng lại chứa đựng sự dịu dàng mềm mại nhất. Hắn kể cho nàng nghe về những việc lặt vặt nơi phủ tướng quân, về việc hắn đã nhờ người tìm mua được giống hoa hải đường quý từ phía Nam để chuẩn bị trồng trong khoảng sân sau này của hai người, và không quên nhắc nàng phải ăn uống đầy đủ, chớ vì thức khuya đọc sách mà ảnh hưởng sức khỏe.
Cuối thư, hắn luôn đặt lại một câu quen thuộc:
"Chờ ta. Ngày ta mang kiệu hoa đến An Hòa Điện không còn xa nữa."
Cứ thế, những cánh thư bí mật vượt qua bức tường son cao ngất, trở thành chiếc cầu nối đong đầy tình thương giữa hai người.
Ý Hoa cẩn thận cất giữ từng bức thư hồi âm của Phổ Yến vào một chiếc hộp gỗ khóa kín giấu dưới đáy rương quần áo. Mỗi lần giặt áo hay thêu thùa, chỉ cần chạm tay vào chiếc hộp ấy, lòng nàng lại trào dâng một niềm hạnh phúc bình yên, vững chãi giữa chốn thâm cung lạnh lẽo.
Từ sau lần tình cờ được Phổ Yến giúp đỡ ở hành lang, hình bóng vị Định Bắc tướng quân trầm tĩnh, uy nghi ấy chưa từng phai nhạt trong tâm trí Túc Ly. Nàng là Lục công chúa, xung quanh vốn chẳng thiếu các công tử thế gia áo gấm quạt lụa vây quanh nịnh hót, nhưng trong mắt nàng, bọn họ đều phù phiếm và yếu ớt.
Biết dạo này Phổ Yến thường xuyên vào cung bẩm báo quân vụ với Hoàng đế, Túc Ly bắt đầu ngầm dò hỏi lịch trình của hắn. Nàng không dám rầm rộ, chỉ bảo cung nữ Hạ Tuyết để ý giờ hắn lui khỏi Ngự thư phòng, rồi cố tình chọn đúng con đường hắn phải đi qua để tạo ra những cuộc "tình cờ gặp gỡ".
Hôm ấy, tiết trời mát mẻ. Túc Ly mặc một bộ cung trang màu đỏ sẫm thêu hoa văn chỉ vàng tinh xảo, cố ý đứng chờ bên mép hành lang gần khu vực dẫn ra cổng cung nơi có khóm mẫu đơn đang độ nở đẹp nhất.
Vừa thấy bóng dáng cao lớn của Phổ Yến thong thả đi tới, Túc Ly giả vờ như đang miết nhẹ một cành hoa, rồi bất chợt quay đầu lại, làm ra vẻ ngạc nhiên:
"Ơ… Định Bắc tướng quân đó sao?"
Phổ Yến khựng bước. Thấy vị công chúa trước mặt, hắn lập tức lùi lại nửa bước, cúi người hành lễ đúng chuẩn mực:
"Thần tham kiến công chúa."
"Tướng quân miễn lễ." Túc Ly mỉm cười dịu dàng, đôi mắt đẹp lấp lánh nhìn hắn. Nàng bước lại gần thêm một chút, giả vờ thuận miệng hỏi: "Tướng quân vừa bẩm báo quân vụ với phụ hoàng xong sao? Sắc mặt trông có vẻ hơi mệt mỏi, công việc ở biên quan rắc rối lắm ư?"
"Đa tạ công chúa quan tâm. Quân vụ vốn là trách nhiệm của thần, không có gì vất vả."
Phổ Yến giữ nguyên giọng điệu bình thản, ánh mắt hơi hạ xuống, tuyệt đối không nhìn thẳng vào mắt nàng quá lâu.
Túc Ly thấy hắn đáp lời có phần xa cách thì hơi hụthẫng một chút, nhưng nàng nhanh chóng lấy lại vẻ tự nhiên, tiếp tục tìm chuyện để nói:
"Ta nghe nói dạo này phụ hoàng rất coi trọng tướng quân, các đại thần trong triều cũng không tiếc lời khen ngợi. Cả Tịnh Triêu và các tỷ muội khi tụ họp cũng thường nhắc đến chiến công ở Bắc Lĩnh của ngài."
Nàng vừa nói vừa khẽ miết ngón tay lên dải lụa nơi cổ tay, đôi gò má thoáng hồng lên dưới nắng thu. Nàng hy vọng hắn sẽ nhận ra sự chú ý đặc biệt của nàng, hoặc ít nhất cũng nán lại trò chuyện thêm vài câu.
Thế nhưng, Phổ Yến vẫn chỉ đứng yên, thần sắc không chút chao đảo. Lời khen của công chúa đối với hắn chẳng khác nào những lời xã giao trên yến tiệc.
"Thần chỉ làm đúng bổn phận của một võ tướng, không dám nhận lời khen của công chúa và các vị công chúa." Phổ Yến chắp tay, giọng nói trầm tĩnh không gợn sóng: "Trời đã ngả chiều, thần còn phải về phủ xử lý công văn gấp. Nếu công chúa không còn điều gì dặn dò, thần xin phép cáo lui trước."
Túc Ly thoáng khựng lại. Nàng bao công sức canh giờ, chuẩn bị y phục xinh đẹp để "vô tình" gặp hắn, vậy mà hắn chỉ đáp vài câu xã giao ngắn ngủi rồi đã vội vã muốn đi.
Dù trong lòng có chút hụt hẫng, nhưng nhìn dáng vẻ đoan chính, không chút tà niệm ấy của hắn, Túc Ly lại càng thêm say đắm. Nàng nén sự nuối tiếc, mỉm cười gật đầu:
"Vậy... tướng quân cứ đi xử lý công việc đi. Đừng để trễ nải."
"Thần cáo lui."
Phổ Yến cúi người hành lễ rồi xoay người sải bước đi thẳng. Bóng lưng hắn cao lớn, dứt khoát, tà áo võ phục tung nhẹ theo từng bước chân vững chãi.
Túc Ly đứng yên bên hành lang, đưa mắt nhìn theo bóng lưng hắn cho đến khi hắn hoàn toàn khuất sau tường son đỏ thẫm. Nàng khẽ thở dài một tiếng, nhưng khóe môi lại bất giác cong lên. Hắn lạnh lùng là thế, xa cách là thế, nhưng sự kiêu hãnh và nghiêm cẩn ấy lại chính là thứ khiến nàng đêm ngày thương nhớ.