Sáng hôm sau, trời tạnh thật.
Sơn thức dậy khi mái hiên còn nhỏ nước tong tong xuống chiếc chum đặt ngoài sân. Đêm qua mưa lớn, con đường đất đỏ trước cổng nhão ra, in đầy dấu chân người đi sớm. Trên ngọn chuối, những giọt nước còn đọng thành hàng, thỉnh thoảng rơi xuống tàu lá bên dưới nghe lộp bộp.
Thơ đến đúng lúc mẹ Dung đang nhóm bếp. Nó đứng ngoài cổng, tay xách cái rổ tre, quần xắn quá gối, gọi vọng vào: “Sơn ơi, đi không?”
“Đi đâu mà sớm thế?” Mẹ Dung ngó ra.
“Dạ, bọn cháu ra suối bắt cá. Mưa đêm qua chắc cá nhiều ạ.”
Mẹ nhìn khoảng trời phía núi rồi nhìn hai đứa. Bà dặn chỉ được bắt ở chỗ nước cạn, không xuống khúc suối dưới chân đồi vì sau mưa nước dễ dâng bất ngờ. Sơn gật đầu, lấy cái áo cũ khoác thêm rồi theo Thơ ra ngõ. Yến vừa tỉnh ngủ, nghe thấy tiếng anh chạy đi liền gọi với theo, hỏi có mang cá về cho em không.
“Có thì anh mang,” Sơn trả lời.
“Phải mang con to nhé!”
Thơ cười, bảo con to thì phải để cho Yến, con nhỏ nó mang về nấu canh cho hai em. Hai đứa nói chuyện cá mú như thể đã chắc chắn sáng nay sẽ đầy rổ.
Lối ra suối đi qua gốc bàng trước nhà bà Hợi. Lá rụng sau trận mưa nằm dính trên mặt đất, có chiếc bị giẫm nát, chỉ còn lộ những đường gân. Bà Hợi đang quét nước ở chỗ cổng. Thấy hai đứa, bà chống chổi hỏi đi đâu. Thơ giơ cái rổ lên làm hiệu.
“Nhớ lời mẹ mày dặn đấy,” bà nói với Sơn. “Hôm qua mưa cả đêm, chỗ nước sâu đừng bén mảng tới.”
Sơn đáp dạ. Qua khỏi nhà bà, hai đứa đi dọc bờ mương, men theo lối cỏ tới khúc suối quen ở sau làng. Nước ở đây đã trong lại một phần, nhưng chảy nhanh hơn mọi ngày. Dưới những tảng đá lớn, mấy con cá nhỏ quẫy qua quẫy lại giữa đám rễ cỏ bị nước xô nghiêng. Thơ đặt rổ xuống một chỗ cạn, xắn tay áo và chỉ cho Sơn khe đá nó vừa trông thấy.
Hai đứa cúi rạp người. Thơ chặn một đầu, Sơn luồn tay từ phía bên kia. Con cá vọt ra, đâm vào lòng bàn tay Sơn rồi trượt mất. Cả hai cùng nhào theo, làm nước bắn lên tận mặt. Sơn suýt ngã, phải bám vào bờ cỏ mới đứng được. Thơ cười ngặt nghẽo, vừa cười vừa bảo: “Mày chậm quá. Nó đi mất rồi!”
Đến con thứ ba thì Sơn cũng bắt được. Cậu nâng con cá trong hai tay, cảm thấy thân nó trơn tuột, quẫy mạnh đến mức tưởng không giữ nổi. Thơ đưa rổ lại gần. Con cá rơi xuống, đập đuôi mấy cái rồi nằm yên giữa đám cỏ ướt lót dưới đáy.
“Để lát đem về cho em mày,” Sơn nói.
“Chia đôi. Nhà mày cũng có con Yến.”
“Yến đòi con to cơ.”
“Thế nó phải tự ra mà bắt.”
Hai đứa lại cười. Bờ suối buổi sáng chỉ có tiếng nước chảy và tiếng chim gọi nhau trên mấy bụi dẻ. Sơn cúi xuống một khe đá nữa, định thử vận may. Bên cạnh, Thơ nhắc chuyện bà ngoại nó có hẹn xuống bản tháng sau, mang ít gạo nếp cho ba anh em. Nó nói nếu nấu được nồi xôi ra hồn thì sẽ gọi Sơn sang ăn.
“Đừng để cháy đáy nồi như lần trước,” Sơn trêu.
“Mày ăn rồi còn nói.”
Thơ cầm một viên sỏi ném nhẹ về phía bạn. Sơn né, viên sỏi rơi tõm xuống nước. Nhìn Thơ ngồi bên rổ cá, Sơn chợt nhớ mấy trang giấy còn trắng trong cuốn vở nó cho hôm tổng kết. Cậu đã bọc cuốn vở ấy cẩn thận, để vào chồng sách chuẩn bị mang đi. Cậu định nói chuyện viết thư, nhưng Thơ đã chỉ lên ngọn núi phía đông.
“Mây xuống thấp quá.”
Lúc hai đứa ra khỏi nhà, trời vẫn sáng. Bây giờ một mảng mây đen đã trùm lên sườn núi, che khuất vệt nắng trên rừng. Gió thổi ngược qua bãi lau, làm ngọn cỏ rạp về một phía. Nước suối chưa dâng, song ở đằng xa đã nghe có tiếng sấm.
“Về thôi,” Sơn nói.
Chúng nhặt rổ, đếm được năm con cá rồi đi theo lối mòn trở lại làng. Mới lên đến khúc quanh có bụi lau cao quá đầu, những hạt mưa đầu tiên đã rơi xuống vai. Thơ ôm cái rổ sát ngực, bước nhanh. Sơn đi sau, chân trượt trên bùn, phải vịn vào một gốc cây nhỏ. Chưa kịp đứng thẳng, cơn mưa đã đổ ào xuống.
Nước quất vào lá lau ràn rạt. Đường đất đỏ nhanh chóng thành một dải bùn nhão, mỗi bước đi lại bắn lên tận ống chân. Sơn túm tay Thơ kéo khỏi đoạn dốc trơn. Thơ giữ cái rổ bằng cả hai tay, miệng vẫn nhắc coi chừng mất cá. Chạy tới chỗ nền đường bằng hơn, Sơn quay lại nhìn, thấy nó vừa bước vừa che rổ như che một thứ gì quý lắm.
“Bỏ cá đi cho dễ chạy!” Sơn hét.
“Có năm con mà bỏ gì!”
Hai đứa vừa loay hoay vừa cười, nhưng đến khi một tiếng sấm nổ ngay phía sau dãy núi, cả hai không còn ham đùa nữa. Chúng bám theo hàng rào, chạy thẳng về phía nhà bà Hợi. Mái hiên thấp hiện ra sau màn nước như một cái bóng. Sơn tới trước, đứng nép vào cửa, đợi Thơ vào rồi mới gọi bà.
Bà Hợi mở cửa, thấy hai đứa ướt từ đầu đến chân thì phát cáu: “Đã dặn rồi mà. Vào mau, đứng ngoài ấy cóng cả người bây giờ!”
Bà lấy hai chiếc khăn cũ cho chúng lau đầu, bắt ngồi xuống chõng tránh gió. Trong bếp vẫn còn tro nóng. Bà khơi lại than, đặt ấm nước lên, miệng lẩm bẩm rằng mưa trên núi xuống nhanh, người lớn còn phải ngại, huống chi trẻ con. Thơ đặt rổ vào góc hiên. Đếm lại, nó chỉ còn thấy ba con cá. Hai con kia chắc đã nhảy ra trên đường chạy.
“Vậy là bớt được hai con phải làm,” Sơn bảo.
Thơ nhìn bạn một lúc rồi phì cười. Bà Hợi nghe thấy cũng bật cười theo, nhưng lập tức giục hai đứa ngồi sát bếp cho ấm. Bà đưa mỗi đứa một miếng khoai luộc còn từ bữa sáng. Thơ ăn một nửa, phần còn lại gói lại, bảo đem về cho em út. Bà nhìn cái gói lá trên tay nó, chỉ hỏi xem ở nhà hai đứa nhỏ có ai trông không.
“Dạ, bác bên cạnh đang trông giúp. Mưa tạnh cháu về ngay.”
Mưa không tạnh ngay. Nước ngoài ngõ chảy ròng ròng, cuốn theo lá khô và đất bùn. Đến gần trưa, trời sáng ra đôi chút, bà Hợi mới cho hai đứa về, dặn đi men phía trên bờ mương, đừng xuống gần suối. Sơn nhìn lại cái rổ. Ba con cá còn sống, thỉnh thoảng giãy nhẹ dưới lớp cỏ. Cậu bảo Thơ mang cả về cho các em. Thơ không chịu, nhất định nhét vào tay Sơn một con rồi mới đi.
Về tới nhà, Sơn thấy mẹ Dung đang xếp mấy cái chậu trên nền gian ngoài. Chỗ ngói xô ở góc mái sau trận mưa đêm qua đã bắt đầu dột. Nước nhỏ xuống cạnh chân tủ, làm ướt một mép chiếc chiếu. Bên gian bếp lợp lá, mưa còn tạt qua chỗ vách nứa, khiến mẹ phải chuyển rổ củi khô vào sâu bên trong.
“Cởi áo ướt ra,” mẹ nói ngay khi thấy Sơn. “Rồi lấy hộ mẹ cái nồi nhôm để dưới giường.”
Sơn đặt con cá vào chiếc bát nhỏ, thay áo rồi làm theo. Yến chạy quanh mấy cái chậu đang hứng nước, đếm được bốn chỗ dột. Con bé lấy chiếc thìa gõ nhẹ vào thành chậu, nghe mỗi cái kêu một tiếng khác nhau thì khoái chí. Mẹ phải nhắc nó để thìa xuống, coi chừng làm đổ nước ra nền.
“Nhà mình có bốn cái thác nước,” Yến tuyên bố.
“Thác nào cũng chảy vào chỗ để sách của anh,” Sơn đáp, ôm chồng vở mang sang phía khô ráo.
Yến chạy theo giúp, mỗi lần chỉ ôm được hai ba cuốn. Cuốn vở Thơ cho được Sơn rút riêng ra. Cậu phủi mấy hạt bụi trên bìa, bọc lại bằng giấy báo rồi đặt lên nóc tủ. Mẹ nhìn thấy thì hỏi vở gì mà quý thế. Sơn bảo Thơ cho hôm tổng kết. Mẹ không nói gì, chỉ lấy thêm một mảnh ni lông sạch đưa cậu lót dưới chồng sách.
Bố Toàn về muộn hơn mọi khi. Bố dựng xe dưới hiên, quần xắn tới gối, ống chân còn dính bùn. Nhìn mấy chiếc chậu đặt dưới mái, ông bước tới xem chỗ ngói xô, bảo phải đợi trời ráo mới trèo lên sửa được. Rồi ông ra cửa nhìn con đường dốc ngoài ngõ. Nước từ phía trên đang chảy xuống nhanh hơn lúc sáng, khoét một rãnh mới sát mép sân.
“Chắc phải đào thêm lối thoát nước,” bố nói.
Mẹ Dung bưng ấm nước ra. Bố uống một ngụm, ngồi xuống chiếc ghế gỗ cạnh cửa, xem tờ giấy điều động đã được mẹ gấp cất từ hôm trước. Giấy tờ chuyển nhà giờ không còn là chuyện giấu hai đứa nhỏ nữa. Những chiếc hòm đã buộc dây đặt gọn bên vách; chỉ có thời điểm chính thức đi là còn tùy công việc và đường sá.
Sơn nhìn nước tràn qua rãnh đất, hỏi: “Nếu mưa thế này thì xe chở đồ có lên được không bố?”
“Phải chờ đường khô đã. Đi vội xe sa lầy thì lại khổ.”
Bố đáp rồi gấp giấy, bảo Sơn lấy cuốc nhỏ để ông khơi rãnh. Hai bố con làm một lúc, đào thông đoạn đất bị lá mục bịt kín. Nước đổi hướng, từ sân chảy ra lối thấp bên hàng rào. Sơn đứng nhìn dòng nước mang theo những mảnh lá và cọng rơm mà thấy nhẹ cả người. Bố chống cuốc lên vai, dặn cậu vào rửa chân trước khi ăn cơm.
Chiều xuống, bà Hợi ghé sang xem nhà Sơn có bị dột nhiều không. Bà mang theo một sợi dây buộc và mấy miếng lá khô, bảo nếu mái bếp hở thì dùng tạm mà che. Mẹ Dung mời bà ngồi uống nước, nhưng bà cứ đứng gần cửa, nhìn trời. Bà nói mưa kiểu này phải để ý con suối; trên núi mà có thêm trận lớn nữa, nước sẽ đổ về nhanh lắm.
“Ngày xưa cũng có một trận như thế,” bà kể. “Hồi cụ Bốn còn ở căn nhà gần bãi dưới. Mưa mấy ngày liền, nước về trong đêm, cuốn mất cả chái nhà. Cụ chạy kịp lên chỗ cao, chỉ giữ được ít quần áo. Bà con trong xóm phải góp tre, góp rơm, dựng lại mái cho cụ.”
Sơn đang ngồi buộc lại quai dép, ngẩng lên. Cụ Bốn mất cuối đông năm trước. Cậu còn nhớ hôm cả làng lên đồi đưa cụ, Thơ đi cạnh cậu qua lối rẽ có mộ mẹ nó. Không ngờ trước đó cụ từng suýt mất nhà vì nước lũ.
“Rồi cụ có về ở lại chỗ cũ không bà?” Sơn hỏi.
“Không. Sau trận ấy cụ dời lên chỗ cao hơn. Người ta giữ được mạng là may. Đất thì còn làm lại được.”
Bà ngừng một lát, nhìn sang bố Toàn. “Tối nay ông nhớ coi ngó cái rãnh trước cổng. Nước từ dốc đổ xuống, để tắc là nó tràn vào sân.”
Bố gật đầu. Mẹ Dung lấy cái áo khoác đưa bà mặc thêm rồi tiễn ra. Yến chạy theo tới cửa, hỏi mai bà có sang chơi không. Bà bảo phải xem trời có chịu tạnh không đã. Con bé nhìn lên mây, thở dài làm cả nhà bật cười.
Đến tối, mưa lại nặng hạt. Nước gõ trên ngói, trên mái bếp, trên chiếc thùng nhôm đặt dưới chỗ dột, mỗi nơi một tiếng. Bố Toàn chèn thêm đá vào miệng rãnh thoát nước, rồi cùng Sơn chuyển mấy bao ngô kê sát vách lên chiếc phản cao. Mẹ Dung gói giấy tờ và quần áo quan trọng vào một túi riêng, đặt gần cửa. Yến được giao ôm búp bê ngồi trên giường, không chạy ra sân nữa.
Trong bữa cơm, ai cũng nghe tiếng mưa rõ hơn tiếng đũa bát. Sơn ăn xong, ra ngồi bên bố ở cửa. Ngọn đèn dầu để trên kệ chiếu lên khoảng nền ẩm. Ngoài ngõ, những vệt nước nhỏ từ đầu dốc nhập thành một dòng, chảy xiết qua chân hàng rào rồi đổ về phía ruộng thấp.
“Bố ơi, suối có tràn vào làng không?”
“Chỗ bờ dưới có thể ngập. Nhà mình ở cao hơn một chút, nhưng phải giữ lối nước ngoài cổng. Sáng mai mà còn mưa, bố sẽ gọi mấy bác trong xóm ra đắp chỗ yếu.”
Sơn nhìn hai bàn tay bố còn dính đất trong những kẽ ngón. Cậu hỏi chuyện chuyển nhà liệu có phải dời lại. Bố bảo có thể chậm vài hôm, nhưng việc chuyển thì vẫn thế. Dưới thành phố, căn phòng 214 đang được người ta sửa soạn, chú Bảy Hùng cũng đã hứa giúp lúc gia đình đến.
“Con lo à?” bố hỏi.
“Con chỉ sợ đi rồi không biết bao giờ mới về.”
Bố quay sang nhìn cậu. “Đường còn đấy, nhà còn đấy. Mình chuyển chỗ ở, có phải bỏ làng đâu. Hè nào thu xếp được, bố đưa các con về.”
“Thế con có được về chơi với Thơ không?”
“Được. Nhưng xuống dưới kia cũng phải có bạn mới chứ.”
Sơn đáp dạ. Cậu không hỏi nữa. Nói chuyện với bố giữa tiếng mưa, cậu chợt thấy ngày đi không còn mơ hồ như trước: nó đã có căn phòng, có đồ đạc buộc dây, có con đường phải chờ tạnh mới đi được. Chỉ riêng việc xa Thơ, cậu vẫn chưa biết phải tính thế nào.
Gần nửa đêm, bố ra xem nước một lần nữa. Dòng chảy trước cổng đã lớn hơn, rãnh vừa khơi ban chiều bị đất từ trên dốc trôi xuống lấp gần một nửa. Bố gọi Sơn cầm đèn đứng trong hiên, còn mình dùng cuốc gạt bớt đất. Cậu đứng yên, nhìn nước xoáy quanh lưỡi cuốc. Một lúc sau, bố bảo cậu vào ngủ, sáng mai còn có việc.
Sơn nằm xuống cạnh Yến nhưng không ngủ ngay. Qua khe cửa, cậu vẫn thấy ánh đèn bố đưa qua đưa lại ngoài sân. Một lần mẹ thức dậy, khoác áo ra gọi bố vào uống nước ấm. Bố đáp còn phải xem rãnh một chút. Mãi đến khi tiếng mưa thưa đi, Sơn mới thiếp đi lúc nào không biết.
Sáng hôm sau, trời vẫn âm u. Phía ruộng thấp đã ngập một lớp nước đục, con suối sau làng đỏ ngầu, chảy mạnh qua những bờ đá mà ngày thường trẻ con vẫn nhảy qua dễ dàng. Một đoạn đường xuống bãi bị xói sâu, người lớn phải cắm mấy cành tre làm dấu, không cho lũ trẻ tới gần.
Bố Toàn rủ bác Kiên, chú Thoảng và mấy người trong xóm mang bao tải ra chặn bớt dòng nước đang đổ xuống lối nhà. Người lấy đất, người xúc cát, người buộc miệng bao. Sơn được giao xách dây, đem bao rỗng từ hiên ra, rồi đứng giữ miệng bao cho bác Kiên xúc đất vào. Việc tưởng dễ mà làm mãi không xong; có lần cậu giữ lệch, đất đổ cả ra chân.
“Không sao,” bác Kiên bảo. “Giữ cho miệng bao căng ra, thế này này.”
Bác làm mẫu một lần, rồi đưa bao khác cho Sơn thử. Lần này cậu giữ chắc hơn. Bố Toàn nhìn sang, gật đầu. Sơn làm thêm mấy lượt, hai bàn tay đỏ lên vì dây thừng cọ vào da, nhưng không bỏ việc.
Thơ cũng tới, đầu đội chiếc nón lá đã rách vành. Nó nghe người lớn bảo chỗ bờ mương nhà mình có đoạn bị vỡ, nên muốn qua xem có giúp được gì không. Bố Toàn không cho hai đứa xuống gần mép nước, chỉ bảo cùng mang bao từ chỗ đất cao đến. Thơ đặt cái bao lên vai, đi xiêu vẹo. Sơn chạy tới nâng một đầu, hai đứa cùng khiêng, vừa đi vừa nhắc nhau coi chừng trượt.
Đến gần trưa, một hàng bao cát đã được xếp thành hai lớp theo mép lối vào. Nước từ con dốc bị dẫn sang rãnh ngoài, không còn chảy thẳng vào sân nữa. Mẹ Dung mang ấm chè xanh và một rổ khoai luộc ra cho mọi người ăn tạm. Yến đứng trong hiên nhìn đám đàn ông lấm bùn, liên tục hỏi bao giờ bố mới vào.
Bác Kiên vừa bóc khoai vừa hỏi bố Toàn: “Nghe đâu ông sắp xuống phố?”
“Ừ. Giấy tờ gần xong rồi. Chỉ sợ mưa thế này xe cộ khó lên.”
“Thế chờ thêm ít hôm. Qua được đợt nước này đã.”
Bố gật đầu. Không ai hỏi thêm vì sao nhà Sơn phải chuyển đi. Chuyện đã rõ từ lâu, người trong xóm chỉ còn tính giúp được chuyến xe nào, bó lại được cái tủ nào. Nghe họ nói, Sơn nhớ đến chú Bảy Hùng và căn phòng trên tầng hai mà chú vạch trên đất hôm trước.
Thơ ngồi cạnh cậu, cầm củ khoai nguội bóc từng dải vỏ nhỏ. Nó hỏi: “Cá sáng qua mày nấu chưa?”
“Mẹ kho rồi. Mẹ bảo để phần cho Yến.”
“Nhà tao nấu rồi. Hai đứa nhỏ ăn hết sạch.”
“Bữa nào suối trong lại, tao với mày đi bắt tiếp.”
“Ừ. Đợi nước xuống đã.”
Hai đứa nhìn nhau, rồi cùng quay ra chỗ mấy người lớn đang buộc nốt miệng bao. Một chuyện nhỏ như con cá cũng đủ cho chúng nói với nhau thêm vài câu, khỏi phải nhắc đến chuyện Sơn sắp đi.
Buổi chiều, mưa chỉ thưa hạt. Từ mép sân nhìn xuống, nước vẫn còn đầy ngoài ruộng; dòng chảy đã bớt xoáy ngay trước nhà, nhưng phía suối nước vẫn cao. Bố Toàn đi một vòng kiểm tra hàng bao, đoạn nào trũng thì chèn thêm đất. Ông dặn Sơn đừng nghịch nước sau mưa; nhìn mặt nước có vẻ hiền nhưng dưới bùn có thể lở bất cứ lúc nào. Sơn vâng lời, quay vào giúp mẹ trải lại chiếu cho khô.
Đêm ấy cả nhà vẫn ngủ chập chờn. Bố trải một chiếc chiếu gần cửa, phòng khi nước từ dốc lại đổ về. Sơn tỉnh giấc đôi lần, thấy bố trở mình ngó ra sân. Cậu muốn ra ngồi cùng nhưng mẹ đã kéo chăn lên cho cậu, bảo cứ ngủ, ngoài kia có bố trông rồi.
Khi gà trong xóm gáy lần đầu, tiếng mưa đã thưa hẳn. Nước ngoài sân rút xuống, chỉ còn vài vũng bùn đục, nhưng phía suối nước vẫn đục và cao. Sơn nghe mẹ mở cửa, tiếng chổi tre quét nước sàn sạt trên nền đất. Yến thức dậy, chạy ra thềm rồi đứng sững, hỏi sao đất đỏ dính đầy lên cây chuối.
“Vì hôm qua nước mang đất từ trên dốc xuống,” Sơn giải thích.
“Thế ai mang lên trả?”
Sơn bật cười. Cậu không nghĩ được câu nào để đáp, chỉ đưa cho em cái chổi con, bảo giúp anh quét mấy chiếc lá về một góc.
Cả xóm ra đường từ sớm. Người gánh nước sạch, người nhặt củi trôi, người dọn bùn khỏi lối đi. Ngoài bãi, mấy luống ngô bị đổ rạp, thân gãy ngang, rễ lộ trắng. Nhà chú Thoảng mất một khoảnh vườn sát bờ mương. Bà Xuân đi tìm mấy con vịt còn thiếu từ đêm trước, vừa gọi vừa cúi nhìn từng bụi cỏ.
Sơn cùng mẹ đi tới chỗ đất cao nhìn xuống suối. Nước còn đục, những đám lá mục mắc lại quanh chân cầu tre. Mẹ dặn Sơn đứng trên đường, không bước xuống bờ. Từ phía lối nhà Thơ, cậu thấy bạn đang đi tới, vai khoác một chiếc bao tải rỗng, quần dính bùn tới gối.
“Bãi ngô nhà tao hỏng rồi,” Thơ nói khi đến gần.
Sơn nhìn sang bên kia. Vạt ngô mà lần trước hai đứa còn đi vòng qua để xuống suối giờ nằm rạp gần hết. Có cây bị nước quật bật gốc; có cây vẫn đứng nhưng lá tả tơi, bắp non dính đầy bùn. Thơ bảo bố nó đang cùng mấy người xem còn cứu được bao nhiêu cây, nên nó tranh thủ về lo cơm cho hai đứa em.
Sơn muốn nói điều gì đó. Cậu định bảo rồi sẽ có vụ khác, nhưng nhìn bãi ngô, câu ấy nghe nhẹ quá. Cậu chỉ hỏi: “Chiều tao qua giúp mày dọn được không?”
“Được. Nhưng mày mang đôi dép cũ ấy. Bùn sâu lắm.”
Hai đứa đứng thêm một lúc. Dưới chân chúng, con suối đã chậm hơn hôm trước mà vẫn kéo theo từng đám rơm, từng chiếc lá. Thơ cúi nhặt một hòn sỏi, bỏ vào túi, rồi quay sang bảo phải về nhóm bếp. Sơn đi cùng bạn tới ngã rẽ, nơi một đường dẫn xuống nhà Thơ, đường kia về gốc bàng đầu xóm.
“Chiều nhớ qua nhé,” Thơ nhắc.
“Ừ. Tao qua.”
Thơ chạy xuống dốc, chiếc bao tải sau vai đập vào lưng từng nhịp. Sơn đứng nhìn một lát mới quay về. Dưới gốc bàng, bà Hợi đang gom những cành lá gãy thành một đống nhỏ. Thấy Sơn, bà gọi cậu lại phụ bà một tay. Cậu nhặt các cành khô, xếp gọn bên hàng rào, rồi theo bà kéo chiếc chõng vào chỗ nắng mới hửng để hong.
“Nước mới chững lại thôi, chưa yên đâu,” bà nói. “Trên núi còn mây thế kia, phải coi chừng mưa tiếp.”
Sơn gật đầu. Qua tán bàng còn ướt, một dải nắng mỏng rơi xuống con đường đất đỏ. Nhưng phía sau rặng núi, những đám mây xám vẫn đọng lại, chưa chịu tan. Cậu nghĩ tới bãi ngô nhà Thơ, tới con cá mẹ kho để phần Yến, tới việc chiều nay hai đứa sẽ lại cùng làm một việc gì đó. Ngày chuyển xuống phố vẫn đang đến gần, nhưng trước mắt cậu, Thơ còn chờ ở cuối xóm và bùn ngoài bãi vẫn chưa dọn xong.
Sơn đặt bó cành cuối cùng vào góc sân, chào bà Hợi rồi chạy về lấy đôi dép cũ.