🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← Những năm tháng ấy

Ch.6: Nhớ đường về

~11 phút đọc · 2126 từ · · ⚠️ Báo cáo

Mùa hè năm 2000, mỗi lần đi qua gốc bàng già trước nhà bà Hợi, Sơn lại nhớ đến đám tang cụ Bốn hồi cuối đông năm trước. Cũng dưới tán cây ấy, cậu lần đầu nhìn thấy cả xóm ngồi lại với nhau vì một người vừa mất.
Sáng hôm đó, sương còn đọng trên mái rạ, mẹ Dung đã gọi Sơn dậy từ lúc gà chưa gáy lần thứ hai. Mẹ mặc chiếc áo sẫm màu nhất trong tủ, tóc búi gọn sau gáy, tay xách túi gạo nếp buộc chặt. Mẹ nói khẽ: “Cụ Bốn mất rồi. Cả xóm phải sang giúp.”
Sơn mặc vội áo, theo mẹ men theo đường đất còn ướt. Yến vẫn ngủ, được mẹ đắp chăn cẩn thận trước khi đi. Qua gốc bàng đầu ngõ, cậu nghe tiếng đòn gánh kẽo kẹt trong sương. Đã có người đi trước, vai gánh hai thùng nước đầy, bước chân nặng và chậm.
Nhà cụ Bốn ở cuối xóm, căn nhà gỗ cũ với những tấm liếp tre đã ngả màu. Từ ngoài sân, Sơn nghe tiếng khóc của người con dâu, khàn và đứt quãng, xen giữa những tiếng trống thưa. Cậu đứng nép ở ngưỡng cửa một lúc mới dám bước vào.
Mẹ Dung thắp hương cho cụ rồi ngồi xuống cạnh chiếc bàn gỗ, giúp gia đình ghi tên những người đến viếng và những thứ bà con mang sang. Mẹ là cô giáo, viết chữ rõ ràng, nên mấy việc sổ sách trong xóm người ta vẫn thường nhờ. Sơn nhìn mẹ mở cuốn sổ nhỏ, ghi từng cái tên bằng nét bút chì đều đặn. Ngoài chái nhà, một chị đang thái rau, một bà khác vo gạo trong chiếc thau nhôm. Khói bếp len qua vách nứa, bay là là dưới mái.
Sơn từng nghe người lớn nói “cả xóm góp lại một đám”, nhưng hôm ấy mới thấy rõ. Bà Hợi mang sang một bát gạo. Bác Năm góp hai bó củi, nhà o Liên đem mấy quả trứng. Có người xách con gà, có người chỉ mang được ít đỗ. Người chẳng có gì thì nhận gánh nước, bổ củi, dọn sân. Chừng nửa buổi, khoảng sân đất trước nhà cụ đã có người ra vào không ngớt.
Sơn ngồi ở hiên, nhìn những người lớn vốn ngày thường hay cười nói, giờ chỉ trao nhau vài câu ngắn. Một đứa bé trong nhà cụ ngồi thu lu ở góc cửa, mắt ráo hoảnh. Nó nhìn chiếc khăn tang trên đầu mình, rồi nhìn mọi người, như chưa hiểu sao cả nhà bỗng trở nên khác lạ. Sơn cũng không hiểu hết. Cậu chỉ biết người nằm sau tấm màn kia sẽ không bao giờ bước ra sân nữa.
Đến chiều, trời vẫn lạnh. Chiếc trống đám đặt cạnh gốc bàng, thỉnh thoảng lại vang lên một hồi ngắn. Trong nhà, quan tài cụ Bốn được quàn giữa gian chính; hai bên treo những dải vải trắng có viết chữ bằng mực tàu. Người đến viếng cúi đầu trước bàn thờ, rồi lặng lẽ bước ra, xắn tay phụ một việc gì đó. Không có phường kèn. Ngoài tiếng trống, chỉ còn tiếng người gọi nhau nhỏ nhẹ và tiếng dao chạm thớt dưới bếp.
Bố Toàn cũng về từ cơ quan trong buổi chiều, mang theo một chai nước mắm. Bố đặt nó cạnh những thứ bà con đã góp, rồi ra sân giúp kê bàn ghế. Sơn nhìn theo, thấy bố không nói lời nào về món quà của mình. Ở đây, một bát gạo hay một chai nước mắm cũng đều được đặt chung một chỗ.
Trời nhá nhem, người ta dọn mâm cơm cho những người thức lại trông tang. Sơn ngồi cùng đám trẻ bên gốc bàng, trên chiếc chiếu rách góc. Mâm cơm có đậu phụ, thịt gà luộc, khoai và một bát nước luộc còn nóng. Bụng đứa nào cũng đói, vậy mà chẳng đứa nào dám gắp trước.
Thơ ngồi cạnh Sơn, cổ áo bạc phếch, một chiếc cúc được khâu lại bằng sợi chỉ xanh. Nó nhìn mâm cơm hồi lâu rồi thì thầm: “Hôm nay chắc cụ được ăn ngon.” Sơn quay sang, chẳng biết trả lời thế nào. Thơ cũng không nói thêm, chỉ kéo tay áo xuống che hai cổ tay gầy.
Lát sau, bà Hợi đi tới. Bà mặc áo nâu, đầu quấn khăn sẫm, tay xách chiếc rổ tre đậy lá chuối. Bà không ngồi vào mâm mà vòng ra chỗ bọn trẻ. Mở lớp lá ra, bà lấy một củ khoai còn nóng, đặt vào tay Sơn, rồi lại lấy củ khác chia cho Thơ, cho mấy đứa ngồi cạnh.
Khoai nóng quá, Sơn phải chuyền từ tay này sang tay kia. Ngước lên, cậu thấy bà vẫn đang đi dọc chiếc chiếu, đứa nào cũng có phần. Có đứa bóc vỏ vụng về, có đứa cắn vội, vừa ăn vừa xuýt xoa. Bà Hợi đợi đến khi chiếc rổ cạn mới ngồi xuống, lấy khăn lau trán, nhìn lũ trẻ ăn. Thơ bẻ củ khoai của mình làm đôi, gói lại một nửa trong lá chuối. Sơn biết nó định mang về cho hai đứa em.
Đêm xuống, nhang được thắp thêm trên bàn thờ. Mẹ Dung vẫn ngồi ghi sổ, bố Toàn cùng mấy người đàn ông thay nhau thức ngoài sân. Sơn ngủ gục bên cạnh Thơ một lúc. Khi tỉnh dậy, cậu nghe tiếng chân người đi qua đi lại và tiếng trống vọng từ đầu nhà, xa hơn lúc trước.
Sáng hôm sau, người làng đưa cụ Bốn lên khu mộ trên đồi. Mẹ Dung nắm vai Sơn, dặn cậu đi ngay ngắn, đừng chen vào hàng người khiêng. Bố Toàn ở trong nhóm đàn ông chuẩn bị đòn và dây. Khi quan tài được nhấc lên, mấy người phụ nữ cùng khóc òa. Tiếng trống nổi một hồi ngắn, rồi đoàn người bắt đầu đi.
Con đường lên đồi quen thuộc bỗng khác hẳn. Ngày thường Sơn với Thơ vẫn chạy qua bờ mương, nhảy trên những tảng đá lộ ra giữa lối; hôm nay ai cũng bước chậm, nhìn xuống chân, thỉnh thoảng dừng lại để những người khiêng đổi vai. Đến ngã rẽ, Thơ ở phía trước quay đầu tìm bạn. Sơn bước nhanh mấy bước để đi ngang hàng với nó.
Khu mộ nằm trên một triền đồi đất đỏ. Đến gần đó, Thơ bỗng chậm lại. Sơn biết mẹ Thơ được chôn ở khu này. Bà mất khi Thơ mới lên bảy, ngôi mộ đã qua mấy mùa mưa, cỏ mọc quanh chân. Thơ nhìn về phía ấy một thoáng, rồi đi tiếp. Sơn không hỏi. Cậu chỉ lặng lẽ bước cạnh bạn cho đến lúc cả hai theo kịp đoàn người.
Lên đến nơi, huyệt đã đào sẵn. Người ta hạ quan tài bằng dây thừng, từng chút một. Đất vụn rơi xuống đáy, tiếng sỏi lách tách giữa những tiếng khóc. Sơn đứng nép bên Thơ, nhìn khoảng đất đỏ dần lấp kín. Lúc ấy cả hai mới chín tuổi. Sơn tự hỏi một người nằm dưới đó có còn nghe thấy tiếng gọi của người nhà không, nhưng không nói ra.
Khi mọi việc xong xuôi, nắng đã lên cao. Nhìn từ trên đồi xuống, những mái nhà lúp xúp nằm giữa các vệt ruộng bậc thang. Vài cột khói bếp đã bay lên. Dưới gốc bàng đầu xóm, bà Hợi chống gậy đứng nhìn về phía đồi. Bà đau chân, chỉ tiễn đoàn người được đến đầu dốc. Sơn giơ tay vẫy nhưng bà ở quá xa, không nhìn thấy.
Đám người lần lượt xuống đồi. Đến ngã ba, Thơ rẽ về nhà để lo cơm cho hai em. Nó giơ tay chào Sơn, rồi đi nhanh trên con đường đất. Sơn theo mẹ về, ngang qua gốc bàng thì bà Hợi đã trở vào nhà. Trên nền đất còn vài vỏ khoai từ đêm trước, bị gió thổi dồn lại sát chân cây.
Mùa hè năm 2000, gốc bàng ấy vẫn đứng ở đầu xóm. Nhà bà Hợi ở ngay sau hàng rào thấp, qua cổng là thấy chiếc chõng tre quen thuộc và gian giữa kê bàn thờ ông cụ chồng bà. Bát hương đã sứt một miếng, tấm ảnh trên bàn thờ cũ đến mức lớp kính trước mặt ngả màu vàng.
Một chiều, mẹ Dung sai Sơn mang trả bà chiếc rổ tre mượn hôm trước. Cậu vừa tới cửa đã gọi: “Bà Hợi ơi, cháu mang rổ trả bà đây ạ.”
Bà Hợi từ gian giữa đáp vọng ra, bảo cậu cứ vào. Bà đang đứng trước bàn thờ, tay cầm mấy nén hương, mắt nheo lại vì khói. Sơn đặt rổ lên chõng, cúi đầu chào. Bà gọi cậu đến gần, hỏi ở nhà đã biết thắp hương chưa.
“Cháu thấy mẹ làm rồi ạ, nhưng cháu chưa tự thắp bao giờ.”
Bà lấy ba nén hương từ ống đựng, đưa cho Sơn. Bà bảo trước khi thắp phải rửa tay sạch sẽ, đứng cho ngay ngắn. Châm hương rồi thì phẩy nhẹ cho lửa tắt, đừng thổi phù phù. Sơn làm theo, động tác còn lóng ngóng. Một nén hương bén lửa chậm, cậu phải nghiêng nó vào ngọn đèn dầu thêm lần nữa.
Bà nhìn, mỉm cười: “Không cần vội. Cứ làm cẩn thận là được.”
Sơn chắp tay trước bàn thờ rồi cắm hương vào bát. Khói trắng vươn lên, gặp khoảng gió lùa từ cửa sổ thì nghiêng về một phía. Bà Hợi đứng bên, đợi cậu xong mới kéo ghế ra ngồi, rót cho cậu chén nước chè xanh còn ấm.
Bà hỏi: “Nghe mẹ cháu bảo nhà sắp xuống thành phố?”
Sơn gật đầu. Bố đang lo giấy tờ chuyển công tác, mẹ thì tính chuyện rút hồ sơ ở trường làng. Từ đầu hè đến giờ, người lớn nhắc tới thành phố thường xuyên hơn trước. Có những việc Sơn chưa hiểu, nhưng cậu biết chẳng bao lâu nữa mình sẽ phải xa ngôi nhà này.
Bà Hợi ngồi im một lúc, ngón tay vuốt phẳng nếp áo nâu trên đầu gối.
- Đi đâu thì đi, cháu đừng quên đường về làng, nghe chưa.
Sơn đáp khẽ: “Dạ.”
Bà nhìn cậu, chậm rãi bảo nhớ quê không có nghĩa là cứ phải ở mãi nơi này. Bố mẹ vất vả nuôi con ăn học, muốn con có đường đi xa hơn; bà mừng chứ chẳng buồn vì chuyện ấy. Nhưng sau này có học cao, có đi đâu, vẫn phải nhớ người ở quê, nhớ giỗ chạp, biết hỏi thăm những người đã từng thương mình.
Nói đến đó, bà chỉ ra gốc bàng ngoài sân. Bà bảo, cây muốn lớn thì phải có rễ, người cũng thế. Sơn nhìn qua cửa, thấy mấy chiếc lá bàng non chao qua chao lại trong nắng. Cậu chợt nhớ mùa đông năm trước, bà đã đứng dưới tán cây này, chia hết rổ khoai nóng cho lũ trẻ rồi mới chịu ngồi nghỉ.
Bà lại hỏi xuống thành phố đã biết chào hỏi người lớn thế nào chưa. Sơn bật cười, bảo mẹ vẫn dặn cậu suốt. Bà cũng cười theo, rồi nhắc gặp người lớn phải chào, được cho quà thì nhận bằng hai tay, đừng chen ngang lúc người khác nói. Bà nói những chuyện ấy giản dị như nhắc cậu đi đường cẩn thận, không làm ra vẻ đang dạy dỗ điều gì lớn lao.
Chợt nhớ ra việc gì, bà đứng dậy đi vào buồng. Một lát sau, bà mang ra hai gói xôi nếp bọc lá chuối. Bà đưa Sơn một gói ăn ngay, còn gói kia dặn mang về cho Yến. Xôi vẫn ấm, dẻo và thơm. Sơn nhận bằng cả hai tay, vừa bóc lá vừa nói lời cảm ơn. Bà nhìn cậu, gật gù như thể bài học lúc nãy đã có kết quả.
Trời nhá nhem, Sơn xin phép về. Bà Hợi tiễn cậu ra cửa, dặn đường dốc còn trơn, đừng chạy. Cậu quay lại chào bà, đi được một quãng lại ngoái nhìn. Bà vẫn đứng trước hiên, một tay vịn khung cửa.
Sơn đi qua gốc bàng già. Dưới chân cây, đám rễ trồi lên khỏi mặt đất đã nhẵn đi vì biết bao bước chân trẻ con. Cậu dừng lại, nhìn con đường dẫn về nhà mình, rồi nhìn lối rẽ xuống cuối xóm, nơi Thơ vẫn thường đứng chờ mỗi sáng. Trong tay cậu, gói xôi dành cho Yến còn ấm. Cậu chỉnh lại lớp lá chuối cho kín, ôm gói xôi trước ngực và đi tiếp.

💬 Bình luận (0)