Mùa ấy, con đường vào bản khô đến mức đá cuội cũng trắng ra như xương. Sơn đi chân đất, gót chai quen đá, mỗi bước nghe lạo xạo dưới chân mình những vỏ trấu vụn vương từ xe thóc ai đó đánh rơi từ mấy tháng trước, giờ chỉ còn là thứ bụi giòn tan. Hai bên đường, ruộng lúa không xanh mà úa vàng một cách mệt mỏi, như thể cây lúa cũng biết mình đang chết dần mà không buồn vùng vẫy nữa. Nước trong ruộng đã cạn từ lâu, đất nứt thành những đường hằn như da bàn tay người già, sâu đến mức người ta có thể đặt cả bàn chân vào đó.
Sơn vừa ở trường làng về. Buổi học sáng nay cô Nguyệt giảng bài tập đọc, giọng cô khàn đi vì nắng, cửa lớp mở hết mà chẳng có một luồng gió nào lọt vào dãy bàn thứ hai bên trái. Thơ ngồi cạnh, cặm cụi chép chữ tròn trịa vào vở, còn Sơn thì nghe tiếng chim trong vườn nhà ai đó kêu mấy tiếng rồi im bặt, đến chim cũng không buồn kêu nữa khi trời thế này.
Đường về băng qua cánh đồng. Sơn vẫn đi lối cũ, lối đi men theo bờ mương mà cậu với Thơ thuở nhỏ hay lội xuống bắt cá rô, giờ mương khô cong, đáy chỉ còn lớp bùn nứt và mấy con ốc chết khô bám vào rơm rạ. Cậu đi chậm, không phải vì mệt, mà vì tự dưng không muốn về nhanh. Trong đầu cậu còn vương câu chuyện tối qua: từ ngày bố nói sẽ chuyển công tác xuống thành phố, bố mẹ phải tính đủ mọi thứ, từ chỗ ở đến chuyện học của hai anh em. Sơn nằm trong màn, nghe tiếng bố trầm xuống, tiếng mẹ hỏi không biết sẽ mang theo được những gì. Chuyện chuyển nhà đã nói rồi, nhưng càng gần ngày đi, cậu càng thấy khó hình dung mình sẽ sống ở đâu.
Bên hiên nhà bà Hợi, mấy người hàng xóm ngồi trên cái chõng tre đã ngả màu mưa nắng. Bác Năm, chú Thắng, o Liên bán hàng xén ở đầu xóm. Không ai nói gì. Ai cũng nhìn ra cánh đồng, nhìn cái màu úa vàng kéo dài đến tận chân núi, nhìn mà như không nhìn, mắt dán vào đó mà hồn ở đâu. Khói thuốc lào của bác Năm bay lên thành một vệt mỏng, tan vào cái nắng đứng giữa trời như một khối sáng đặc quánh. Sơn đi ngang, cúi đầu chào, mấy người lớn gật gật, không ai nói thành lời. Sơn hiểu cái im đó. Cái im của những người đã nói hết với nhau mấy mùa mưa rồi, giờ chỉ còn đợi. Đợi trời mưa, đợi mạ non, đợi cái gì đó mà không ai dám gọi tên.
Cậu đi tiếp, ngang căn nhà rơm cuối bản. Mái rơm đã xệ xuống một bên, mấy sợi rạ trên mái đen như bị hun khói, gió thổi qua nghe xào xạc như tiếng thở dài. Cái sân nhỏ trước nhà không có ai, chỉ có đôi quang gánh dựng vào vách, đôi quang gánh nhẵn bóng vì vai người. Sơn đứng lại một lát, tự dưng nghĩ đến nhà Thơ. Nhà Thơ thuộc diện nghèo nhất xóm, bố Thơ đi nương từ tinh mơ đến tối mịt mới về, bữa cơm chỉ có khoai lang luộc, muối ớt, rau rừng và một con cá khô bé xíu. Thế mà Thơ vẫn cười toe, vẫn ngồi cạnh Sơn chép chữ tròn trịa nắn nót, vẫn dúi cho Sơn củ khoai bà ngoại ở bản trên để dành. Sơn tự hỏi, nếu mình đi thật, Thơ có còn để dành củ khoai nào cho đứa bạn ngồi bàn thứ hai dãy bên trái nữa không.
Bóng cây bàng trước sân nhà Sơn đổ xuống một vũng tối nhỏ xíu, không đủ che cho thềm nhà. Con chó vàng nằm bẹp trong bóng đó, thè lưỡi, thở phì phò. Sơn bước vào sân, thấy mẹ đang đứng ở bếp, tay cầm cái lon sữa bò đã mòn, cạo cạo thành chum sành sứt miệng để đong gạo. Tiếng lon cạo vào chum nghe khô khốc, nhỏ mà vang. Sơn đứng nhìn, không dám hỏi. Mẹ ngẩng lên, thấy con, cười một cái mỏng: “Về rồi à. Đi rửa chân rồi vào ăn cơm, trưa nay có khoai.”
Cậu “vâng” một tiếng, nhưng chưa đi ngay. Cậu đứng đó nhìn mẹ đong gạo, nhìn lon sữa bò trong tay mẹ, nhìn cái chum sành chỉ còn lưng lửng ở đáy. Trong đầu cậu chợt vang lên giọng bố: “Học cho giỏi vào con, rồi bố lo.” Bố nói câu đó lúc nào cũng vậy, mỗi lần lên lớp một, mỗi lần nhận giấy khen, mỗi lần sửa lại cái bàn học ọp ẹp cho cậu. Sơn không biết bố lo bằng cách nào, nhưng cậu biết bố giữ câu đó trong lòng lâu hơn mẹ giữ lon gạo.
Chiều hôm ấy Sơn xin mẹ cho sang nhà Thơ một lát. Thơ nghỉ học hai buổi, bố nó đi nương xa phải ở nhà trông em, nên Sơn chép bài giúp, đặng mang vở sang cho bạn. Mẹ Dung gật đầu, còn dặn với theo: "Đi cho sớm về, kẻo tối đường núi."
Nhà Thơ ở cuối lối đất men theo chân nương, đến gần vách đá thì cụt hẳn. Sơn đi quen lối ấy, đi từ hồi còn bé tí, hồi hai đứa còn rủ nhau ra bờ suối bắt cá rô đồng rồi về trễ bị mẹ Thơ cầm roi tre dọa. Nhưng cái roi tre ấy đã lâu không còn ai cầm. Mẹ Thơ mất khi Thơ mới lên bảy. Sơn chỉ nhớ mang máng một người đàn bà gầy, tóc búi sau gáy, hay cười và hay dúi cho cậu củ sắn luộc.
Con dốc cuối xóm hôm ấy khô, nắng chiều đổ nghiêng làm bụi đất đỏ bay lên lấm tấm như phấn. Sơn xách cặp, trong đó có cuốn vở chép bài mấy ngày, đi tới chỗ ngoặt thì dừng lại.
Căn nhà rơm nằm đó, lọt thỏm giữa hai bụi chuối.
Sơn đứng im.
Nó biết nhà Thơ nghèo. Cả xóm này nghèo, nhà nó cũng chẳng khá gì hơn mấy, mâm cơm thường phải độn ngô, độn khoai. Nhưng trước đây, cái nghèo trong mắt một đứa trẻ nhà công chức như cậu chỉ là áo rách vai, bữa sáng một củ khoai, đôi chân đất đi học cả mùa đông. Còn cái nghèo đang sờ sờ trước mắt Sơn lúc này thì khác hẳn, khác tới mức khiến tai nó ù đi một lúc.
Mái rơm thủng một mảng lớn ở góc hồi, thủng hoác, nhìn thẳng lên thấy được cả mảnh trời xanh đang nhạt dần về phía núi. Rơm cũ, đã mục, màu nâu xỉn như râu ngô phơi nắng, gió thổi qua là vài cọng bay lả tả xuống sân. Vách nứa thì xiêu. Xiêu thật, nghiêng hẳn về một bên như người đang cúi xuống nhặt cái gì, đợi mãi không thấy đứng lên. Giữa các thanh nứa có những khe hở bằng ngón tay, chỗ thì nhét bao tải, chỗ thì chèn mo cau, chỗ thì dán miếng bìa các-tông đã mốc. Cột tre chống đỡ cái vì kèo đã mục gần hết chân, phải kê thêm một hòn đá. Cửa là tấm liếp nứa đan thưa, ghé vào nhìn vào trong thấy được hết.
Sơn đứng ở sân một lúc lâu, tay vẫn cầm cuốn vở.
Nó nhớ cái mái ngói nhà mình. Cũng dột, mưa to vẫn phải kê chậu, nhưng ngói là ngói, tường là tường, vách gạch dựng tử tế. Bố vẫn nói "cố vài năm nữa", mẹ vẫn khâu lại cái áo rách cho khỏi đi tiền may. Sơn tưởng thế là cùng cực rồi.
"Nhà mình cũng thiếu thốn," mẹ vẫn bảo thế mỗi lần Sơn đòi quyển truyện tranh. "Nhà mình còn đỡ hơn khối nhà, con ạ."
Sơn chưa bao giờ nghĩ cái "đỡ hơn" mẹ nói lại cách nhau xa đến vậy.
Trong nhà vọng ra tiếng em bé ọ ọe. Sơn gọi: "Thơ ơi."
Tấm liếp xê ra. Thơ hiện ra, người đen nhẻm vì nắng nương, tóc cắt ngắn ngủn, trên tay đang bế thằng út, đứa nhỡ đứng bám lấy ống quần anh, cũng đen nhẻm, cũng tóc ngắn ngủn.
"Mi tới hả?" Thơ nói, giọng tỉnh queo. "Đứng đó làm chi, vô."
Sơn bước qua ngưỡng. Nền đất nện, chỗ tiếp giáp với chân vách đã hằn thành một rãnh nước mưa moi vào. Bếp nằm ở gian ngoài, tro xám đầy, vài thanh củi ướt xếp chồng. Cái chõng tre kê sát vách, trên có chiếc chiếu rách, gấp đôi lại cho đỡ rối. Ánh nắng chiều lọt qua lỗ thủng trên mái rơm, chiếu thành một cột sáng nghiêng nghiêng, đổ thẳng xuống nền đất, trong cột sáng đó có bụi bay lơ lửng, có vài cọng rơm rơi xuống chậm như lông chim.
Sơn nhìn cột sáng ấy, tự nhiên thấy nghẹn ở cổ.
Thơ thả thằng út xuống, bảo đứa nhỡ trông em, rồi ngồi xổm bên chồng củi, lấy con dao nhỏ vót lại cái nan rổ bị bung. Thơ nói chuyện tỉnh rụi, giọng không có một chút gì tự ti: "Nhà tao dột lắm, mưa to phải kê ba cái chậu, mà kệ, hết mưa lại khô. Mai tao đi học, mi cho tao mượn vở. Bữa nay tao chép lại rồi mai trả."
Sơn mở cặp, đưa cuốn vở. Thơ lau tay vào vạt áo rồi mới cầm lấy, cầm bằng hai tay, như cầm cái gì quý. Cuốn vở mở ra, chữ Sơn bay bướm, xiêu xiêu. Thơ lật từng trang, xem rất lâu.
"Chữ mi đẹp thật," Thơ nói.
Sơn không nói gì. Sơn biết chữ Thơ không đẹp bằng, nhưng Thơ viết chữ tròn trịa, nắn nót, từng nét một, chép bài học thuộc lòng cũng chép lại hết dù điểm toán điểm văn chưa bao giờ bằng Sơn. Cái cách Thơ cầm cây bút, cúi sát xuống trang vở, lưỡi thè ra một tí vì chăm chú, Sơn đã nhìn thấy nhiều lần, ở lớp, dưới bóng cây bàng sân trường.
Trời tối dần. Bà ngoại Thơ ở bản trên thỉnh thoảng xuống, để dành được ít gạo nếp thì dúi cho cháu, nhưng lâu rồi không thấy xuống. Bố Thơ đi nương từ sáng tinh mơ, giờ còn chưa về. Nồi khoai lang luộc bốc khói nghi ngút, đặt trên cái kiềng ba chân, bên cạnh là bát muối ớt, một rổ rau rừng hái sau vườn, và một con cá khô bé tí bẻ làm đôi.
Sơn ngồi nép ở bậu cửa. Thơ vớt khoai, bóc vỏ, chọn củ ngọt nhất đưa cho thằng út, củ ngon thứ hai cho đứa nhỡ, còn mình cầm củ sát vỏ, chỗ sần sùi, cắn một miếng rồi nhai chậm.
Thằng út bỗng gọi mẹ. Thơ khựng lại một chút, rồi thổi cho nguội miếng khoai đưa cho em. Nó không trả lời. Sơn cũng không hỏi.
Sơn đứng dậy. Nó bảo phải về kẻo tối. Thơ tiễn ra tới đầu sân, đứng dưới cái mái rơm thủng, một tay giữ tấm liếp cho khỏi đổ, một tay vẫy.
"Bữa nào rảnh qua chơi," Thơ nói. "Sáng mai tao đi học."
Sơn đi xuống dốc. Đi được một quãng, nó ngoái lại nhìn. Cái nhà rơm nằm im dưới chân nương, đen thẫm lại trong buổi chiều muộn, chỉ còn cột sáng kia là vẫn le lói như một sợi chỉ vàng ai thả từ trên trời xuống.
Về tới nhà, mâm cơm đã dọn. Cơm độn ngô, cá khô nướng, trứng tráng, rau lang luộc, và bát cà muối. Mẹ gắp cho Sơn một miếng trứng, bảo: "Ăn đi cho có sức học."
Sơn cầm đũa, nhìn cái mâm. Nó nhớ bát muối ớt, nhớ củ khoai sát vỏ, nhớ con cá khô bẻ làm đôi. Nó cúi mặt xuống, ăn cơm, không nói gì.
Bố hỏi: "Sang nhà thằng Thơ à? Nó học hành thế nào?"
"Dạ," Sơn đáp. Rồi im.
Bố nhìn nó một lúc, không hỏi nữa, quay sang nhắc Yến ăn nhanh kẻo nguội. Cả nhà ngồi ăn dưới ngọn đèn dầu. Ngoài cửa sổ, con dế đã bắt đầu kêu.
Đến mùa đông, cái rét ở làng xuống nhanh lắm. Mới chiều còn thấy nắng vàng trên mấy bậc đá, vậy mà vừa chạng vạng, sương đã kéo từ trong khe ra, quấn lấy hàng rào, quấn lấy mái rơm, đậu lại trên vai áo người đi làm về muộn. Sơn ngồi xổm bên chái bếp, hai tay xếp từng thanh củi gộc vào dưới bếp. Củi sồi thơm, vỏ còn mốc trắng, chạm vào lạnh buốt như chạm vào đá suối. Cậu xếp nghiêng, chừa một khe hở ở giữa cho lửa chui lên, rồi rút một nhánh rơm khô ở bó rơm đằng sau, vo tròn, nhét xuống dưới bếp.
Mẹ Dung bắc nồi cơm độn ngô lên kiềng sắt. Hơi nước bốc lên, phả vào mặt Sơn một lớp ấm ươn ướt. Sơn đưa hai bàn tay đỏ như hai củ cà rốt hơ trên ngọn lửa, thấy đầu ngón tay rát rát, tê tê, rồi ấm dần lên, chảy xuống cổ tay, xuống tận khuỷu. Cậu thích cái cảm giác đó. Cả ngày đi học về, chăn bò ngoài bãi, lội suối, lạnh tới mức hai hàm răng va vào nhau lập cập, chỉ cần ngồi đây, trước bếp lửa nhà mình, là cái lạnh tan đi hết.
Bên ngoài, có tiếng dép lê quẹt trên sân đất. Rồi tiếng bà Hợi: “Dung ơi, Dung có nhà không?”
Bà Hợi ở đầu xóm, nhà cách cái cây bàng độ ba chục bước chân. Bà vào, mang theo một nắm khoai lang nhỏ, dúi vào tay Sơn, không nói gì. Sơn cầm lấy, lí nhí “cháu cảm ơn bà”, rồi lại ngồi xuống bên bếp. Bà Hợi kéo ghế gỗ lại gần, ngồi xuống, xoa hai tay lên nhau, thở ra một hơi dài, khói trắng bay lên trước mặt.
“Lạnh ghê,” bà nói.
Mẹ Dung đáp: “Vâng, mùa này lạnh sớm hơn mọi năm.”
Hai người lớn im một lúc. Chỉ có tiếng củi nổ lép bép. Sơn không dám nói gì, cũng không dám nhìn lên, chỉ cắm cúi xếp thêm một thanh củi nữa vào bếp. Nhưng tai cậu vểnh lên. Cậu nghe được cái cách mà bà Hợi nói, giọng nhỏ hơn bình thường, chậm hơn bình thường.
“Nhà thằng Thơ hôm nay có người tới đòi nợ,” bà nói.
Mẹ Dung ngừng tay trên nồi cơm.
“Đòi gì cơ?”
“Cái khoản chữa bệnh cho thằng út hồi tháng trước. Bố nó đi vay người ta hai chỉ vàng, giờ người ta giục. Thôi thì cũng phải, người ta cũng nghèo.”
Sơn khựng lại. Thơ có hai đứa em, mẹ mất sớm. Sơn nhớ cái mái rơm thủng và bữa khoai chiều nọ. Khi ấy Thơ vẫn cười, vẫn mời bạn ăn như trong nhà có thứ gì ngon lắm.
“Vậy giờ sao hả bà?” mẹ Dung hỏi.
Bà Hợi thở dài. Tiếng thở dài ấy kéo dài hơn Sơn tưởng. Nó không phải cái kiểu thở hết hơi rồi thôi. Nó như có cái gì còn nằm lại trong cổ bà, không ra hết được.
“Bố nó tính bán con lợn. Nhưng lợn đang độ lớn, bán đi thì Tết lấy gì… Còn thằng út, hôm qua hình như lại sốt. Nó ốm vật vã cả đêm, không ngủ được. Tao sáng nay đi ngang, nghe tiếng nó khóc mà xót.”
Sơn chưa bao giờ nghe ai nói một câu mà có tới hai cái tin buồn như vậy. Cái đói, cậu biết. Cái nghèo, cậu biết. Nhưng Sơn chợt nhận ra: hình như cậu mới chỉ biết cái đói nhìn thấy được thôi. Cái bát cơm độn ngô. Cái manh áo rách. Còn cái thứ đói mà bà Hợi vừa nói - nó khác. Nó có tiếng.
Nó có tiếng thở dài của người lớn, kiểu thở dài không phải vì mệt, mà vì bế tắc. Nó có tiếng đũa quệt vào đáy nồi, cái tiếng lạch cạch kéo dài thêm một lúc, như thể người ta cố nấn ná để tìm thêm một hạt cơm dính lại. Nó có tiếng cối xay ngô quay khuya, kèn kẹt, lâu lâu nấc lên một tiếng, rồi lại kèn kẹt. Nó có tiếng nước sôi trong nồi khi trong nồi không có gì ngoài nước. Trước đây Sơn nghe những âm thanh đó mỗi ngày, mà không nghe thấy gì. Bây giờ, tất cả đột nhiên có nghĩa.
Bà Hợi với mẹ Dung còn nói thêm gì đó. Sơn không dám nghe kỹ, cũng không dám không nghe. Có tiếng chân bố Toàn đi từ ngoài vào, dép còn dính bùn, bố dựng xe đạp ngoài hiên, vào bếp, thấy bà Hợi, chào một câu, rồi ngồi xuống đầu dãy ghế. Bố im lặng, nghe chuyện, hút một điếu thuốc lào, thở khói ra từ từ.
Rồi bố nói: “Thôi để mai tôi sang nhà thằng Thơ coi sao. Có gì tính đó.”
Sơn nghe câu đó mà trong lòng nhẹ đi một chút. Bố không nói nhiều, nhưng bố nói là bố làm. Lần trước mưa bão, nhà chị Ba sập cái chuồng gà, bố cũng đi lợp lại giúp. Sơn nhớ, hồi năm ngoái cô Nguyệt ở trường làng bảo: “Nhà em thuộc dạng đỡ hơn các bạn, nên em phải học giỏi, để sau này giúp lại bà con.” Sơn lúc đó không hiểu lắm. Bây giờ thì hiểu. Sơn nhìn nồi cơm độn ngô đang sôi, thấy khói bếp bay lên, thấy tất cả những thứ mình đang có. Không nhiều, nhưng là có.
Mẹ Dung đứng dậy, đi lại cái chum sành sứt miệng đặt góc nhà, mở nắp, cầm lon sữa bò đã mòn, xúc lên. Sơn nhìn rõ từng hạt gạo rơi. Mẹ xúc hai lần. Rồi mẹ ngừng lại, nhìn cái lon một chút, rồi xúc thêm nửa lon nữa. Mẹ gói gạo vào một cái túi vải, bỏ thêm mấy củ khoai lang, gọi Sơn lại:
“Bà Hợi cầm giúp nhà tôi sang cho nhà thằng Thơ nhé. Đừng nói nhà tôi gửi bao nhiêu.”
Sơn nhìn cái túi vải trên bàn. Cậu vừa thấy mẹ đắn đo xúc thêm nửa lon gạo, nên hiểu đó không phải phần gạo thừa.
Bà Hợi đứng dậy, cầm thêm túi gạo, lặng lẽ đi ra. Ngoài cổng, bà ngoái lại nhìn cái bếp lửa trong nhà, thấy Sơn đang ngồi bên củi, cười với cậu một cái. Sơn nhìn theo bóng bà đi xuống dốc, khuất dần sau bóng cây bàng già đầu xóm.
Trong bếp, bố Toàn hút hết điếu thuốc, gõ tàn vào cái gạt nước đen thui cạnh bếp. Bố nhìn sang Sơn, rồi nói: “Cố mà học. Học cho đàng hoàng vào. Lớn lên có cái nghề trong tay, đỡ khổ.”
Sơn gật đầu. Rồi cậu xếp thêm một thanh củi nữa vào bếp, nghe lửa bén vào rơm, nghe tiếng nổ lép bép, nghe tiếng hơi nước sôi trong nồi.
Bố nhìn vào bếp lửa, khẽ thở dài. Sơn nghe thấy, nhưng không hỏi.
Sáng hôm sau, bố Toàn sang nhà Thơ, rủ Sơn đi cùng.
Trên đường về, bố Toàn đi trước, tay xách chiếc bao cói đựng mấy bắp ngô còn lại. Sơn lẽo đẽo theo sau, chân đá đám cỏ may ven đường, thỉnh thoảng lại nhìn cái lưng áo bạc màu của bố. Chiều xuống dần, nắng nhạt vàng như mật ong phết lên những thửa ruộng bậc thang đã gặt xong, chỉ còn trơ gốc rạ.
Lúc ở nhà Thơ ra, bố đã để lại gần hết số ngô. Sơn đếm được: mười hai bắp trong bao, giờ chỉ còn bốn. Bố dúi vào tay bố Thơ, bảo là “nhà cháu cũng vừa được mùa, ăn không hết”. Sơn đứng bên cạnh, nghe bố nói dối trơn tru đến mức chính cậu cũng gần như tin. Nhà cậu làm gì có ngô được mùa. Ngô ấy là bố mua ở chợ huyện, định để dành độn cơm. Sơn biết, vì sáng nay cậu đã thấy bố đếm tiền trong ví, tờ nào tờ nấy gấp tư, cẩn thận như sợ gió thổi bay.
Nhưng bố nói dối.
Và Sơn hiểu, cái nói dối ấy là để bố Thơ khỏi ngại. Ông quanh năm đi nương, trong nhà có ba đứa nhỏ. Sơn nghĩ đến mấy củ khoai Thơ chia cho em, rồi im lặng bước theo bố.
Bố đi chậm lại, đợi Sơn lên ngang. Bố hỏi:
-Mệt không?
“Không ạ.”
“Về đến nhà, con đừng nói với mẹ chuyện để lại ngô nhé.”
Sơn gật đầu. Cậu biết tại sao. Mẹ sẽ tiếc. Mẹ cũng biết nhà mình chẳng dư dả. Nhưng tối qua, Sơn đã thấy mẹ tự xúc thêm nửa lon gạo vào túi gửi nhà Thơ. Cái nghèo trong xóm nó giống như chum gạo ấy. Người nọ bới cho người kia, không ai đếm được lời lỗ.
Sơn nhìn bố. Lưng bố còng xuống, hai vai gầy nhô lên dưới lớp áo sờn. Bố là công chức nhà nước, cả xóm ai cũng bảo nhà Sơn “có của ăn của để”, nhưng Sơn biết bố mẹ cũng chỉ hơn người ta được cái danh. Bố mẹ vẫn phải chắt chiu từng đồng lương, từng bữa cơm độn, từng manh áo vá. Cái hơn ấy, nghĩ cho cùng, cũng chỉ là bố mẹ có lương tháng, không phải lo cái đói nó gõ cửa từng ngày như nhà Thơ.
Nhưng cái đói nó không chừa ai. Nó chỉ khác nhau ở chỗ: nhà này còn che được cho nhà kia.
Đi qua cây bàng ở đầu làng, Sơn ngẩng lên nhìn tán lá xanh um. Hồi nhỏ, cậu và Thơ vẫn trèo lên đó hái quả, quả bàng chua loét, ăn vào the cả răng. Bây giờ cây bàng vẫn đứng đó, cành lá đung đưa trên con đường đất. Sơn bỗng thấy mắt cay. Không phải vì bụi. Mà vì cái gì đó khó gọi tên, giống như khi cậu nhận ra một điều mà trước đây chưa từng nghĩ tới.
Nhà Sơn chẳng còn nhiều ngô. Điều ấy bố biết, Sơn cũng biết.
Sơn bước nhanh lên, đi ngang hàng với bố. Bố nhìn con trai, cười hiền:
-Sao thế?
“Bố ơi, sau này con lớn, con sẽ mua thật nhiều ngô. Để cho cả xóm mình.”
Bố Toàn sững lại một lát, rồi đưa tay xoa đầu Sơn, bàn tay thô ráp, chai sạn.
“Ừ. Con nhớ học giỏi.”
Sơn gật đầu. Cậu nhìn về phía những mái nhà rơm xa xa, nơi có Thơ đang ngồi viết chữ tròn trịa bên mâm cơm khoai lang, nơi có bà Hợi đang lom khom nhặt rau sau vườn, nơi có tiếng bố Thơ đi nương về khuya. Sơn biết, cái xóm này nghèo, nhưng nó không đói. Bởi vì mỗi khi cái đói gõ cửa, lại có một bàn tay ai đó đưa ra. Một bắp ngô. Một củ khoai. Một nắm xôi. Một lời nói dối tử tế.
Bố Sơn đi trước, bóng đổ dài trên con đường đất đỏ. Sơn bước theo sau, trong túi áo còn một bắp ngô bố dúi cho lúc nãy, bảo là “phần con, để dành ăn dọc đường”. Sơn không ăn. Cậu định để dành đến tối, luộc lên chia với Yến.
Sơn nhìn bố, rồi nhìn cây bàng già đầu làng, rồi nhìn về phía những mái nhà rơm đang mờ dần trong sương chiều. Cậu nhớ những lần mẹ đưa gạo, bố đưa ngô, bà Hợi mang khoai tới nhà. Chẳng nhà nào dư dả, nhưng hễ ai có chút gì vẫn nghĩ đến hàng xóm.
Đêm ấy, Sơn nằm trên chõng tre, nghe tiếng mẹ ru Yến ngủ, nghe tiếng bố thở đều bên buồng. Cậu nhắm mắt, hình dung cái bao cói ngày mai bố lại xách đi chợ, lại mua ngô về, rồi lại để lại gần hết ở nhà ai đó. Ngày mai bố lại đi làm, mẹ lại đong gạo. Còn Sơn phải đi học, mang bài vở sang cho Thơ như đã hẹn.
Ít hôm sau, mẹ Dung sai Sơn mang gói muối với ít đường đến nhà chú Bảy Lâm, ở phía bên kia xóm, cuối con dốc đá. Mấy ngày mưa dầm khiến đường đất lầy lội. Mái rơm lợp đã lâu, ngả màu mốc nâu, hai đầu hồi thấp xuống như hai vai người gánh nặng. Cây bàng trước sân trụi lá, mấy cọng rơm khô vướng trên cành run run trong gió. Sơn đứng ở ngõ, tay cầm túi vải mẹ gói. Mẹ bảo, nhà chú Bảy có người ốm, mình cũng chẳng dư dả gì nhưng cái tình phải trước cái miệng.
Vừa thấy bóng cậu, con chó đen nằm dưới hiên đã vểnh tai, nhưng nó không sủa, chỉ khịt mũi rồi lại rúc đầu vào chân ghế. Trong nhà tối om, chỉ có bếp là sáng. Cô Bảy đang ngồi trên chiếc chõng tre, tóc búi gọn sau đầu, dưới chân là cái bếp rơm, trên bếp là một nồi đất đen bóng, hơi nước bay lên quăn quéo theo ngọn khói.
“Sơn đấy à? Cháu vào, có chó cắn gì đâu. Vào đây cho ấm.”
Giọng cô khàn khàn, nghe như người mới ốm dậy. Sơn bước qua ngưỡng cửa, đưa túi cho cô. Cô nhận rồi để lên cái mâm gỗ, không mở ra xem. Cô chỉ nhìn cậu, cười một cái cười rất mệt. Trên giường, thằng cu Tí nhà cô đang ngủ, tay còn cầm cái que tre làm diều dở. Thằng lớn hơn thì đi đâu chưa về, chị nó ngồi ở góc nhà bện rơm thành mấy cái đẫy đựng ngô.
“Chú Bảy Lâm đâu hả cô?”
-Chú mày lên nương. Cô ốm thì ốm, chứ việc đồng áng vẫn phải lo, không thì lấy gì ăn.
Cô nói vậy, giọng nhẹ tênh, như đang nói chuyện trồng ngô trồng đỗ, chứ không nói chuyện chính cái lưng mình đang mỏi. Sơn im. Từ nhỏ cậu đã chẳng biết đáp lại những câu như vậy, chỉ biết cúi mặt nhìn cái nồi đang sôi. Mùi khoai lang chín thơm ngọt, bốc lên ngọt lịm trong cái giá lạnh. Sơn ngồi xuống cạnh chõng, hai tay để trên đầu gối, nhìn mấy con gà đi lúc lắc dưới gầm giường.
Một lát, cô Bảy đứng dậy, mở nắp nồi. Hơi nóng ùa ra, phủ mờ mặt cô trong giây lát. Cô lấy đũa cả đưa vào nồi, đảo qua đảo lại, rồi dừng tay. Sơn nghĩ cô lấy khoai ra cho con. Nhưng cô không gọi đứa nào. Cô nhặt trong nồi ra một củ khoai, vớt lên cho ráo nước, vẫn còn nóng, đặt ngay vào lòng bàn tay Sơn.
“Cầm ăn cho ấm bụng, cháu.”
Sơn giật mình. Củ khoai vừa nóng vừa phồng, lớp vỏ nhăn nheo vì đã luộc kỹ, phía trên có một vết cháy nhỏ. Cậu mở tay ra, thấy trong nồi chỉ còn lại nước đục, và dưới đáy nồi, hình như chẳng còn gì nữa. Cô đã vớt củ to nhất trong nồi, chỉ còn lại hai củ bé nằm dưới lớp nước đục. Nồi khoai ấy là bữa chiều của ba đứa con. Thằng Tí còn nằm ngủ; lát nữa dậy thế nào cũng tìm khoai.
“Thôi cô ơi, cô chia cho các em, cháu không…”
“Mày ăn đi. Cô cho thì mày cầm. Nhà cô còn.”
Cô nói "còn" mà nhìn xuống đôi tay mình, bàn tay xạm nắng đang vân vê vạt áo đã sờn. Sơn biết nhà cô không còn. Cái chum gạo nhà cô cũng đã sứt miệng như chum nhà Sơn, chỉ khác là mẹ cậu đong gạo bằng lon sữa bò, còn cô Bảy đong bằng cái bát men sứt. Nhà cô bán nốt đàn lợn hồi cuối tháng, mẹ cậu nói vọng sang nhà khi hai người đứng giặt bên bờ ao.
Sơn ngồi đó, hai tay nâng củ khoai, nước mắt tự nhiên dâng lên, dâng đến cổ thì đứng lại, chặn cả hơi thở. Cậu không khóc. Người ta khóc được khi biết mình sẽ còn có lúc trả lại. Cậu không biết đến bao giờ nhà mình mới trả lại được cô Bảy một cái gì, dù là củ khoai. Nên cái nghẹn ấy cứ nằm đó, đắng và nóng, giống hệt củ khoai trong bàn tay.
Cô Bảy đi lại chỗ ổ rơm, ngồi xuống bắt rận cho con gái. Cô không nhìn cậu nữa, như thể chuyện cho khoai là chuyện nhỏ lắm, chuyện thường ngày. Sơn hiểu cô làm vậy để cậu bớt ngượng. Những người nghèo có cách giữ thể diện cho người khác kỳ lạ lắm: họ dúi cho mình cái ngon nhất, rồi quay mặt đi.
Sơn bóc vỏ, bẻ một miếng nhỏ bỏ vào miệng. Khoai mềm, ngọt, nóng rát đầu lưỡi. Phần to hơn cậu gói vào lá chuối khô, nhét vào túi áo. Cô Bảy nhác thấy, không nói gì, chỉ cúi xuống thổi vào tóc con.
Ra khỏi nhà chú Bảy, trời đã nhá nhem. Con đường đất trơn như tráng mỡ. Cây bàng đứng im, mấy con chim sẻ rúc vào nhau trên cành. Sơn đi qua bụi chuối, qua cái giếng đầu xóm, thấy Thơ đứng chờ ở gốc rào. Thơ ôm một bó cỏ cho lợn, thấy Sơn thì cười.
-Đi đâu về thế? Tay cầm gì đấy?
“Khoai.”
“Khoai ngon không?”
“Ngon.”
Sơn mở túi, bẻ đôi phần khoai gói trong lá, đưa cho Thơ một nửa. Thơ chần chừ, hai đứa đứng giữa con đường tối, bốn bàn tay áp vào nhau quanh miếng khoai còn ấm, không đứa nào nói gì thêm. Xa xa, đèn nhà ai đã lên, vàng vọt như hạt ngô.
Tối đó, cơm nhà Sơn vẫn độn ngô. Mẹ dọn thêm đĩa rau lang và chút cá khô nướng. Bố đi công tác về muộn, ngồi xuống mâm cơm đã nguội, rót chén nước vối rồi nói:
-Sơn này, sau này xuống thành phố, con vẫn phải học cho tử tế nhé.
Sơn cúi mặt xuống bát cơm. Yến ngồi bên cạnh, chưa hiểu gì, vẫn cắm cúi bới cơm, miệng hỏi bao giờ được mua cho cái cặp có hình con thỏ. Mẹ lẳng lặng múc thêm rau cho cậu. Sơn không trả lời bố. Trong túi áo cậu, mẩu lá chuối vẫn còn mùi khoai. Và cổ cậu, tự nhiên, lại nghẹn lên lần nữa.
Vài hôm sau, vào một sáng rét đậm, Sơn theo bố Toàn mang củi và ngô đến nhà chú Bảy Lâm ở cuối dốc.
Trời còn tối đến mức Sơn phải sờ tay lên vách nứa mới biết mình đã tỉnh. Bố Toàn đứng ở bậc cửa, giọng khẽ như sợ đánh thức cả làng:
“Dậy đi. Hôm nay đi sớm.”
Sơn ngồi dậy, mắt nhắm mắt mở. Ngoài sân, sương đã xuống trắng như muối rắc, hơi lạnh luồn qua khe cửa. Trong bếp, mẹ Dung đã dậy từ lúc nào, đang bọc cơm nắm vào lá chuối. Mùi gạo nếp lẫn mùi lá tươi thơm một cách tội nghiệp. Mẹ dúi vào tay Sơn nắm cơm còn ấm, bảo:
“Đi với bố cho biết. Đừng có lười.”
Con Yến nằm trong màn, ngủ như chưa hề có chuyện gì. Sơn nhìn em một chút rồi bước ra sân. Cái xe đạp Phượng Hoàng dựng bên gốc bàng, sau yên buộc một bó củi to bằng nửa người, thêm bao ngô vàng vỏ đã bóc, hạt lép xen hạt chắc. Bố Toàn siết lại dây thừng lần nữa, giật thử hai cái, gật gù.
“Lên đi.”
Sơn ngồi lên khung trước, hai tay bám ghi-đông. Cái khung sắt lạnh buốt. Bố đạp một mình, không nói gì. Đường làng gồ ghề đá hộc, xe dằn lên xóc tận óc. Qua khỏi cổng xóm, cây bàng già cụp tán xuống như một người đứng tuổi đứng im nhìn theo.
Năm ấy, nắng hạn qua đi thì mùa rét lại đến. Người làng bảo lúa năm nay mất vì thiếu nước, ngô cũng không được bao nhiêu. Nhà Thơ cũng mất. Nhà bà Hợi cũng mất. Ở cái xóm này, người ta mất mùa quanh năm, chỉ có năm nay là mất đến mức không còn gì nhét vào chum. Chum sành sứt miệng của nhà Sơn cũng vơi đi trông thấy, nhưng mẹ vẫn đong gạo bằng lon sữa bò, đong xong lại gạt ngang cho phẳng, không cho ai được hơn.
Bố Toàn đạp được một quãng thì xuống dắt bộ vì dốc. Sơn xuống theo, đẩy sau. Hai bố con đi trong sương, chỉ nghe tiếng bánh xe nghiến sỏi và tiếng thở.
Bố vẫn nhìn con dốc, nói nhỏ: “Nhà chú Bảy Lâm coi như cạn rồi. Mái rơm năm ngoái đã dột, năm nay còn dột hơn. Cả nhà chú ăn hết bữa này chưa biết bữa sau.”
Sơn không hỏi gì thêm. Ở làng, người ta không hỏi nhiều về cái nghèo của nhau, chỉ lặng lẽ mang đến một thứ gì đó rồi đi về.
Căn nhà của chú Bảy Lâm nằm ở cuối con dốc đá, lưng tựa vào vách đồi, trước mặt là một khoảng sân đất nhỏ nhét được cái cối xay. Nhà lợp rơm thật, vách nứa, cửa gỗ đóng kín mít. Đó là một trong vài căn nhà còn lợp rơm trong xóm. Chú Bảy Lâm là lính về, sống cùng vợ và ba đứa con; những năm mùa màng thất bát, nhiều khi chú phải sang bản bên kiếm việc cả tuần mới về.
Nghe tiếng xe, chú mở cửa. Người chú gầy, da sạm, mắt vẫn sáng như mắt người đã từng thức nhiều đêm giữa rừng. Chú đứng nhìn bó củi trên yên xe một lúc, rồi nhìn bao ngô, rồi nhìn bố Toàn.
“Ông Toàn…”
Bố Toàn gạt tay: “Đừng nói gì cả. Để lâu ngô mốc. Chú ăn giùm đi.”
Chú Bảy Lâm im. Cái im đó Sơn đã gặp nhiều lần ở người làng, cái im của người ta không muốn nhận mà cũng không nỡ từ chối. Rồi chú cúi xuống, tháo dây thừng giúp bố, tay chú run nhẹ. Sơn đứng bên cạnh, ôm bao ngô vào bếp giúp chú. Trong nhà tối om, chỉ có một gióng nứa đựng mấy củ khoai, một hũ muối, và trên bàn gỗ một cái radio cũ, vỏ xước, ăng-ten cong queo.
Sơn dừng lại trước cái radio. Chú Bảy Lâm đi vào, thấy vậy thì nói:
“Hỏng lâu rồi. Chú mày mò mãi không ra. Hôm nào rảnh, cháu qua chú mở ra xem. Biết đâu con mắt còn sáng hơn cái đầu ông già này.”
Bố Toàn đứng ở cửa, nhìn nắng sớm bắt đầu lên trên vách đồi. Một lúc sau, bố nói, giọng bình thường như đang nói về mùa màng:
-Giấy tờ chuyển công tác xuống phố sắp xong rồi. Tôi còn phải thu xếp thêm chỗ ở.
Chú Bảy Lâm quay lại nhìn bố Toàn, lâu hơn một chút. Rồi chú cười, cái cười hiếm hoi của người đã nhiều ngày không yên chuyện cơm áo:
“Đi cũng được. Con cháu có chỗ học hành.” Chú quay sang Sơn: “Cháu nhớ học cho giỏi. Thi thoảng về làng thì ghé chơi.”
Sơn gật đầu, không nói gì. Bao giờ cậu cũng chỉ gật đầu.
Hai bố con về khi mặt trời đã leo lên khỏi đỉnh đồi, sương tan thành những vệt mỏng nằm lại dưới chân núi. Bố đạp xe không chở gì nên nhẹ hơn, vậy mà vẫn không nói thêm câu nào. Sơn ngồi sau, quay đầu nhìn lại. Căn nhà rơm nhỏ dần, nhỏ dần, cuối cùng chỉ còn là một đốm vàng lẫn vào màu đất.
Trong túi áo, nắm cơm mẹ dúi vẫn còn thơm. Sơn bóp nhẹ nắm cơm qua lớp lá chuối. Cậu nghĩ đến chiếc radio hỏng, định lần sau sẽ ghé chơi và hỏi chú Bảy có tháo nó ra chưa.
Ít lâu sau, khi ngày chuyển nhà đã gần, sương sớm xuống nặng, trùm lên những mái nhà một lớp bạc mỏng. Sơn thức dậy vì tiếng bát đũa khẽ chạm nhau dưới bếp, và vì lạnh. Cậu nằm im, kéo chăn lên tận cằm, nghe mẹ đi lại trong nhà bằng bước chân rất nhẹ, cái bước chân của người đã quen dậy trước gà.
Mẹ mở nắp chum sành sứt miệng, cạch một tiếng. Rồi Sơn nghe tiếng gạo đổ vào lon sữa bò, cái lon đã mòn hết cả nước sơn, chỗ nào cũng lấm tấm gỉ vàng. Tiếng gạo chạm đáy lon nghe khô, nghe rõ, nghe đến mức cậu biết hôm nay mẹ đong khác mọi hôm. Thường thì mẹ đong hai lon, đổ vào nồi. Hôm nay mẹ đong ba lần, rót hai lon vào nồi, còn một lon thì khẽ đổ sang bên.
Sơn ngồi dậy, khoác cái áo len sờn lên người rồi lần ra cửa. Ở góc sân, em Yến còn cuộn tròn trong chăn, ngủ say, miệng hé ra như con mèo con. Bố đã xuống thành phố từ tuần trước, bảo là xuống trước lo chỗ ở. Ở nhà chỉ còn ba mẹ con với cái bàn thờ, cái tủ gỗ và một đống giấy tờ mẹ để trên nắp tủ, trong đó có lá đơn xin chuyển công tác.
Mẹ đứng ở cạnh xe đạp. Chiếc xe đạp cọc cạch, khung sơn đã bạc, cái yên sau vá bằng miếng da nâu nhạt khâu chằng chịt chỉ. Mẹ đang lúi húi buộc một túi vải nhỏ vào giá sau, buộc bằng dây lạt chẻ từ nứa, thắt hai vòng, gút lại, rồi kéo thử cho chắc. Túi gạo nằm trên giá, đội cái nón lá úp ngược lên để che, nhìn bề ngoài thì chẳng ai đoán ra.
Sơn đứng ở bậc cửa, im. Cậu có tính hay im, ai trong xóm cũng biết. Mẹ ngẩng lên nhìn con, mắt còn ngái ngủ, tóc vấn sau gáy bằng một cái trâm gỗ.
“Dậy rồi à? Ăn miếng khoai rồi hẵng đi.” Mẹ nói như đang dặn con một việc thường ngày.
“Mẹ buộc gì đấy?”
-Gạo. Con đạp qua nhà Thơ, để ở bậu cửa, đừng gọi. Bố nó đi nương từ sớm, về sẽ thấy.
Sơn nhìn cái túi vải. Nó nhỏ, chừng đúng một lon sữa bò, không hơn. Cậu nghĩ tới nhà Thơ, nghĩ tới bữa cơm hôm trước cậu ngồi lại ăn cùng: khoai lang luộc bở tơi, muối ớt đỏ, một nắm rau rừng hái sau hè, với một con cá khô bé đến mức Thơ bẻ đôi còn ngần ngại, bón cho em út phần thịt, mình nhai đầu cá. Nhà Thơ có hai đứa em. Mẹ Thơ mất từ hồi nó lên bảy, để lại cho Thơ ký ức về mẹ, cái nồi, cái chõ và hai đứa em nhỏ.
“Con không kể với ai đâu”, Sơn nói nhỏ.
“Ừ. Đừng kể với ai. Người ta ngại, rồi lại đem trả.” Mẹ vuốt lại chiếc nón lá trên giá xe cho ngay ngắn.
Sơn gật. Cậu hiểu. Ở làng này, cho nhau một lon gạo cũng phải kín như cho nhau một cái gì đáng xấu hổ. Bà Hợi đầu xóm cũng thế, mỗi lần dúi cho Sơn củ khoai là dúi kèm câu "cầm ăn chơi thôi", chứ không dám nói là cho. Cái nghèo ở đây nó lịch sự lắm, nó biết giấu mặt.
Mẹ vào bếp, bới cho Sơn một củ khoai còn nóng, bẻ đôi, chấm muối. Sơn ăn vội, hơi nóng phả vào mặt. Trong bếp mùi khói, mùi gạo mới, mùi rau lang nấu cho lợn. Mẹ ngồi xuống bên cạnh, tay xoa lên đầu gối, nhìn ra sân như nhìn một cái gì sắp biến mất.
“Chiều nay mẹ lên trường gặp cô Nguyệt, lấy giấy tờ chuyển trường cho con.” Mẹ nói mà không nhìn Sơn.
Sơn cúi đầu xuống củ khoai. Cậu không nói gì. Mấy tháng nay, cả nhà nói với nhau nhiều chuyện thu xếp như thế. Càng gần ngày đi, Sơn càng thấy khó nói lời từ biệt. Bố dặn Sơn phải học giỏi, xuống thành phố thì không được kém bạn. Mẹ thì không dặn gì cả, chỉ nhìn con lâu hơn mọi ngày.
Sơn dắt xe ra cổng. Con đường đất đỏ còn ẩm sương, hai bên là mấy mái rơm thấp, mấy vườn chuối xơ xác. Cậu đạp xe chậm, một tay giữ ghi đông, một tay không dám chạm vào cái túi sau yên, như thể nó dễ vỡ. Qua bóng cây bàng đầu ngõ, cậu dừng lại một chút. Ngọn bàng mùa này trụi gần hết lá, mấy cành khô chìa ra như những ngón tay.
Nhà Thơ ở cuối xóm, mái rơm thấp tè, cột tre đã mục chân, cái sân đất trước nhà có ba hòn đá kê làm bếp. Sơn dựng xe ngoài ngõ, đi vào, đặt túi gạo lên bậu cửa, rồi lùi lại. Trong nhà vọng ra tiếng đứa em út của Thơ đang khóc đòi ăn. Sơn đứng đó một lát, nghe tiếng Thơ dỗ em, giọng nó còn trẻ con hơn cả tuổi của nó.
Rồi Sơn quay đi, đạp xe về.