Con suối sau làng nằm khuất sau rặng tre, muốn xuống đó phải băng qua một thửa ruộng bậc thang đã gặt xong, gốc rạ khô cong dưới chân. Chiều muộn, nắng đã tắt sau núi, chỉ còn lại thứ ánh sáng vàng nhạt rải mỏng trên mặt cỏ, đủ để nhìn thấy đàn cá nhỏ đang lách mình dưới nước trong.
Sơn đứng ở đầu dốc, hai tay loe ra làm loa, gọi vọng xuống xóm.
-Cún ơi! Thắm ơi! Đĩnh! Xuống suối không!
Thơ đứng bên cạnh, cũng hét theo, giọng nó khàn hơn giọng Sơn, nghe như tiếng người lớn:
-Đứa nào xuống thì xuống, không thì ở nhà muỗi đốt!
Tiếng gọi dội vào vách núi rồi dội lại, nghe như có hai lần xóm. Một lát sau, từ mấy cái cổng tre, đầu trần, chân đất, lũ trẻ chạy ùa ra. Thằng Cún còn cầm nửa củ khoai trên tay, vừa chạy vừa nhai. Con Thắm ôm theo cái rổ thủng đựng mấy con cá rô đồng bắt được hồi trưa. Thằng Đĩnh thì lẽo đẽo theo sau, tay xách ống bơ để đựng dế, chắc định tiện thể bắt luôn.
Yến, em Sơn, đứng ở cổng nhà, mắt dáo dác nhìn theo.
-Đi đi, nhưng nước sâu đấy, bám áo anh. Sơn ngoắc tay.
Yến chạy ào tới, bàn tay nhỏ xíu nắm chặt vạt áo Sơn, siết đến mức vải nhăn lại. Nó sinh ở đây, nhưng còn quá nhỏ để nhớ nổi con suối này về sau, Sơn nghĩ vậy mà không nói ra. Cậu chỉ kéo tay em, đi trước dò đường.
Đường xuống suối dốc và trơn. Đá cuội rêu phủ, phải bước nghiêng, gót chân ghìm chặt. Thơ đi giữa lũ trẻ, tay dắt đứa em út, tay kia dắt thằng em nhỡ, dáng đi quen lối đến mức chẳng cần nhìn chân. Sơn liếc nhìn bạn một cái. Mười tuổi mà Thơ đã có cái dáng người đi trước tuổi, lưng hơi khom, hai bắp chân đen bóng, mắt lúc nào cũng để ý người khác trước khi để ý mình. Sáng nào cũng dậy từ lúc gà chưa gáy lo cơm cho hai đứa em, rồi đến trường. Không ai dạy nó, tự nó biết.
Chân chạm nước, lạnh buốt. Con Thắm la lên một tiếng rồi cười nắc nẻ, xắn quần lên tận gối, nhảy tõm xuống chỗ nước chỉ tới đầu gối. Thằng Cún thấy vậy cũng nhảy theo, nước bắn lên tận mặt Sơn. Cậu đưa tay gạt, cười, rồi cúi xuống vốc một nắm nước rửa mặt. Nước suối mùi đá, mùi rêu, mùi gì đó rất giống mùi lá ổi non sau mưa.
Thơ đã tót lên một tảng đá giữa dòng, ngồi chễm chệ như mấy ông cụ phơi nắng. Nó vừa ngồi vừa nhìn lũ nhỏ, mắt không rời.
-Đứa nào sâu quá tao lôi lên đấy.
-Thơ khỏi lo, tao biết bơi! Cún hét.
-Mày biết chết đuối thì tao biết, Thơ đáp, giọng tỉnh queo.
Sơn ngồi xuống mép nước, cho Yến đứng gần, dạy em cách đặt hai bàn tay xuống đáy để dò đá. Yến làm theo, cười hí hửng. Tiếng cười của bọn trẻ vỡ ra thành nhiều mảnh, vang khắp bờ cỏ, vọng lên theo triền núi, chỗ nào cũng có.
Trên đầu, cây bàng già nghiêng mình ra mặt suối. Lá nó to, dày, chiều muộn rồi mà vẫn xanh ngằn ngặt. Sơn ngước lên. Bộ rễ bàng bám vào bờ đất, trồi lên trồi xuống như những bàn tay cụ già đang khoác vai nhau. Cậu nhớ có lần ngồi dưới gốc bàng này, Thơ kể hồi mẹ nó còn sống, mẹ vẫn hái lá bàng non về gói cá nướng. Thơ kể bằng cái giọng đều đều, không buồn, không vui, như đọc một bài học thuộc lòng. Sơn nghe xong, lặng cả buổi chiều, vì cậu không biết nói gì. Cậu vốn hay im.
Lũ trẻ kéo nhau ra chỗ ghềnh đá. Thằng Đĩnh trượt một đường từ trên xuống, bụng đập vào mặt nước đánh ủm một cái, ướt hết cả áo, rồi ngồi dậy cười toe. Con Thắm đứng trên bờ đếm: "Một, hai, ba!", rồi cả lũ nhảy. Nước bắn lên tứ phía, ánh chiều cuối cùng rơi xuống mặt nước thành từng đốm sáng loăng quăng.
Sơn không nhảy. Cậu ngồi yên, hai tay khoanh quanh đầu gối, nhìn lũ nhỏ. Thơ cũng không nhảy. Hai đứa ngồi hai bên tảng đá, im. Trông vậy mà hiểu nhau.
-Mai tao đi cắt cỏ với bố, từ sớm, Thơ nói, mắt vẫn dõi theo mấy đứa em.
-Ừ.
-Bố tao nói tuần này trời còn hanh, cắt sớm cho cỏ khô mau.
-Ừ.
-Sơn.
-Gì.
-Mày xuống thành phố thì kể tao nghe, nghe chưa.
Sơn khựng lại. Chuyện đó cậu mới nghe cha mẹ bàn với nhau vài lần trong bữa cơm, đũa gắp cà muối cứ ngập ngừng giữa chừng. Cậu chưa kể với ai. Không rõ Thơ biết từ đâu, hay chỉ là đoán. Ở cái xóm này, chuyện gì rồi cũng nghe thấy trước tiếng loa.
-Chưa đi đâu, Sơn đáp.
-Ừ. Chưa đi thì thôi.
Thơ gật đầu, rồi cúi xuống, tay mò dưới nước nhặt một hòn đá dẹt, ném lia qua mặt suối. Hòn đá nhảy ba lần rồi chìm. Sơn nhặt hòn khác, ném. Nhảy bốn lần. Thơ nhặt hòn khác, ném. Chìm ngay. Hai đứa nhìn nhau, rồi cùng cười, cái cười rất nhẹ, kiểu cười chỉ có giữa hai người đã cùng nhau lớn lên.
Mặt trời lặn hẳn sau núi. Xa xa, khói bếp bắt đầu lên, mỏng và thẳng. Tiếng mẹ gọi con vang lên từng nhà một, từng câu một, nghe như xiên qua chiều tối.
-Về! Mai còn học. Thơ đứng dậy, phủi quần.
Lũ trẻ lục tục lên bờ, ướt lướt thướt, môi tím tái mà mặt đứa nào cũng tươi rói. Sơn cúi xuống bế Yến qua đoạn nước sâu, rồi thả em xuống đất. Yến nắm lấy tay anh, bàn tay còn lạnh vì nước suối.
Đi lên dốc, Sơn quay đầu nhìn lại một lần. Con suối nằm im dưới chân núi, mặt nước đã tối, chỉ còn phản chiếu ánh trời le lói. Gốc bàng đứng đó, nghiêng mình như đang ngủ.
Cậu đi tiếp, không ngoái lại nữa. Sau lưng, tiếng cười của lũ trẻ vẫn còn đọng lại trong bờ cỏ, chưa tan.
Con suối sau làng mùa này nước đã cạn, chỉ còn những vũng lớn nằm im dưới ghềnh đá, mặt nước trong veo nhìn thấu đáy, thấy từng đàn cá niên nhỏ xíu lượn qua lượn lại như ai đó rắc một nắm trấu xuống rồi thả cho bơi.
Sơn theo chân Thơ từ sáng sớm. Trời còn chưa tan hết sương, hai vai áo đã ướt một lớp mỏng. Thơ đi trước, tay xách cái rá tre đã sờn vành, chân đất bám đầy rêu xanh, bước thoăn thoắt trên đá như thể mỗi phiến đá đều đã quen hơi chân nó từ lâu lắm rồi.
Phía sau còn có thằng Đực nhà bà Hợi, con bé Hoa bên xóm chợ, tất cả năm sáu đứa, đứa nào cũng cầm theo một thứ gì đó: đứa xách xô nhựa, đứa cầm rá, đứa ôm cái nơm cũ vá hai chỗ. Yến, con bé đã năm tuổi, được Sơn dắt lên bờ, cho ngồi trên một tảng đá phẳng, tay đưa cho nó cái giỏ tre rồi dặn:
-Em ngồi đây. Cá con bắt được thì bỏ vào giỏ, chị nghe chưa.
Yến gật gật cái đầu, mắt tròn xoe nhìn xuống nước, hai bàn chân nhỏ đung đưa trên thành đá như đánh nhịp cho bọn con trai dưới suối.
Ghềnh này chỗ hiểm nhất của khúc suối sau làng. Đá chồng lên đá, chỗ cao chỗ thấp, chỗ nước chỉ ngập mắt cá chân, chỗ sâu đến đùi. Dưới mấy khe đá có lỗ cho cá chui vào, người trong xóm gọi là “lỗ cá đồng”. Ai biết đường thì chỉ cần một rá một tay là đủ mang về cả bữa.
Thơ chọn cái vũng cạn đầu tiên, xắn quần lên đến háng, lội xuống, nước chỉ vừa quá đầu gối. Nó cúi người xuống, hai tay áp sát đáy, mắt dáo dác như mắt mèo. Bỗng một cái chạy bộ rất nhẹ, tay nó đập xuống, nước bắn tung tóe một khoảng nhỏ. Lúc ngẩng lên, tay nó đã có con cá niên dài cỡ hai ngón tay, mình vằn vện, đuôi vỗ phần phật.
-Đây rồi! Thơ reo lên, giọng khàn khàn vì ham.
Sơn nhìn mà ngứa cả tay. Nó cũng tụt xuống vũng bên cạnh, hét:
-Để tao thử một chỗ!
Vũng nước ấy có đáy là một phiến đá phẳng đã bị nước bào bóng nhẫy. Sơn cúi người, dồn hết sự tập trung vào một đám cá nhỏ đang lượn sát mép vũng. Nó bước một bước, rồi bước thêm một bước, hai tay run run đưa xuống mặt nước. Đúng cái lúc mười đầu ngón tay vừa chạm tới, một con cá niên phóng vụt đi, và chân trước của Sơn trượt xuống đá, đầu gối đập vào cạnh vũng, cả người đổ sấp xuống nước.
Nước chỉ ngập đến bụng, nhưng đủ để Sơn ướt từ mặt mũi đến vai, cổ áo dính đầy rêu xanh, miệng còn nếm được một vị tanh tanh của bùn đá. Nó lóp ngóp bò dậy, tóc tai ướt nhẹp, nước chảy ròng ròng từ tay xuống.
Cả bọn đứng im trong một giây. Rồi không biết đứa nào bụm miệng cười trước, cả vũng cá nổ tung thành một tràng cười ầm ĩ. Thằng Đực ôm cái xô nhựa, cười đến mức ngồi bệt xuống đá. Con bé Hoa cười quá, tuột tay làm con cá trong rá nhảy trở lại xuống nước. Yến ngồi trên bờ cũng vỗ tay cười khúc khích, hai chân đung đưa mạnh hơn.
Thơ không cười to như bọn kia. Nó lội nhanh lại, đưa tay kéo Sơn dậy, nhìn cậu bạn từ đầu đến chân rồi nói:
-Ấy, dân nhà ấy khác nhà đi cày. Bắt cá bằng tay không quen là phải rồi.
Nói thì nhẹ, nhưng khóe miệng nó giật giật, không giấu được. Sơn biết, đưa tay bẹo một cái vào bên hông nó:
-Mày cũng cười tao.
Thế là Thơ cười thật, cười đến nỗi hai mắt híp lại. Sơn cũng cười theo, ngồi bệt xuống cạnh vũng, cởi áo ra vắt cho ráo nước. Ánh nắng lúc này đã lên khỏi rặng tre, xiên qua khe đá làm mặt suối lấp lánh như ai đó rắc một lớp thiếc vụn xuống dưới.
Thơ đưa rá cho Sơn, nói:
-Mày giữ, tao bắt. Bắt được con nào tao chia đôi.
Thế rồi Thơ lội đi dọc mấy cái vũng, người cứ cúi cúi ngẩng ngẩng như người nhặt được vàng dưới nước. Cứ chỗ nào đá có lỗ là nó thò tay vào, có lần rút ra một con cá chạch trơn màu bùn, có lần được một con cua đá nhỏ bằng đầu ngón chân cái. Sơn ngồi trên đá, nhìn cái bóng dáng gầy gò của bạn mình dưới nước, tự nhiên trong đầu hiện lên hình ảnh sáng nay, lúc Thơ bón em út ăn khoai, nhường miếng ngon nhất cho em, còn mình ăn phần sát vỏ.
Thơ bắt cá thoăn thoắt thật. Đôi tay ấy chưa từng cầm bút sạch, nhưng quen với đá, với nước, với những con cá nhỏ vùng núi. Bàn tay ấy biết đường đi của từng con cá dưới đá như Sơn biết chữ trên bảng. Sơn học giỏi hơn Thơ, cả xóm đều biết, cô Nguyệt ở trường làng vẫn khen Sơn viết chữ đẹp. Nhưng ở đây, dưới con suối này, Sơn chỉ là một đứa vụng về, ướt cả người, ngồi nhìn bạn mình kiếm ăn.
Gần trưa, giỏ cá đã được hơn nửa. Bọn trẻ kéo nhau lên bãi đá, nhóm lửa bằng cành khô nhặt dọc bờ. Sơn phơi cái áo ướt trên hòn đá đầu ghềnh, ngồi ngửi mùi khói, mùi cá nướng xém cạnh, mùi rêu bốc lên từ người mình. Yến chạy lại, dúi vào tay nó một con cá nướng còn đang nóng, miệng khoe:
-Anh Thơ cho em đấy!
Sơn nhận con cá, nhìn con bé cười. Nó thấy trong mắt em mình một thứ ánh sáng mà sau này nó sẽ nhớ mãi, một thứ ánh sáng rất trong, không có gì pha tạp.
Chiều hôm ấy, Sơn về đến nhà, người vẫn còn ướt và tanh mùi suối. Mẹ Dung nhìn áo quần nó rồi thở dài, bảo đi thay đồ. Trong bếp, bố Toàn ngồi bên bàn, tay cầm một tờ giấy, hình như giấy của cơ quan. Sơn nghe loáng thoáng hai chữ “xuống dưới ấy” nhưng không để ý, vì giỏ cá bên này còn chưa phân phần. Nó chạy xuống bếp, khoe mẹ con cá nướng còn nóng mà Yến đã ăn mất nửa bên, rồi quên luôn câu chuyện của người lớn.
Con suối sau làng nằm khuất dưới chân một vạt đồi thấp, nước chảy từ khe núi đá vôi xuống, quanh năm lạnh buốt dù trời tháng sáu có đổ lửa trên nương. Muốn tới đó phải băng qua một đoạn đường mòn lát đá cuội, hai bên là bụi sim và lau sậy cao quá đầu đứa trẻ. Bọn trẻ trong xóm đứa nào cũng thuộc con đường ấy như thuộc lòng bàn tay mình, bởi mùa hè nào cũng vậy, cứ quá trưa, khi nắng bắt đầu gay gắt trên mái lá, cả lũ lại rủ nhau ùa ra suối.
Sơn cởi chiếc áo may ô đã bạc màu, gấp gọn gàng đặt lên phiến đá phẳng. Mẹ Dung dặn hoài, áo quần dù rách cũng phải giữ cho sạch sẽ, người nghèo thì cái sự tề chỉnh là của cải duy nhất. Nó bước xuống bậc đá, nước ngập tới đầu gối, rồi tới bụng, và cái lạnh chạy dọc theo sống lưng khiến nó phải hít một hơi thật sâu. Phía trên, bọn nhỏ đã nô đùa từ bao giờ. Thằng bé nhà bác Thìn cầm cái rá tre úp xuống nước, hét lên mỗi lần vớt được con tép bạc. Con bé nhà bên ngồi trên tảng đá, hai chân đập xuống ào ào, nước bắn thành những tia trắng xóa lấp lánh dưới nắng. Tiếng cười nói vang động cả một khúc suối, dội vào vách đá rồi ngân ra xa.
-Sơn! Xuống đây coi! Có con cá chạch to bằng cổ tay!
Thơ đứng giữa dòng, nước chỉ tới ngực nó, hai tay chụm lại nâng niu như đang giữ một vật quý. Cái đầu tròn, mái tóc cắt ngắn lởm chởm vì bố nó cắt bằng kéo cùn, gương mặt đen nhẻm lem nhem bùn đất. Nó cười hở cả hàm răng sún, cái cười sáng bừng lên trong buổi trưa nắng chói.
Sơn lội tới. Con cá chạch nằm gọn trong lòng hai bàn tay Thơ, mình trơn nhẫy, uốn éo, cố vùng ra. Rồi nó tuột khỏi tay, rơi tõm xuống nước, biến mất sau một làn bùn loãng bốc lên mờ đục. Cả bọn cười òa. Thơ cười to nhất, cười đến nỗi phải ngồi bệt xuống, nước ngập tới cổ, suýt nữa thì trôi mất cái quần đùi rách.
-Để tao bắt cho! Sơn nói, giọng vẫn khô khốc như mọi khi.
Nó không phải đứa nhanh nhẩu. Trong xóm, người ta vẫn bảo thằng Sơn con ông Toàn có tính hay im, ngồi lâu hơn người khác. Nhưng dưới nước thì nó khác. Nó úp mặt xuống, mở mắt nhìn vào lòng suối trong vắt. Đá cuội nằm xếp lớp, màu nâu vàng và xám xanh, có con dế nước chạy thoăn thoắt trên mặt nước. Ở dưới đó, mọi thứ im lặng khác thường. Tiếng bọn trẻ la hét phía trên nghe xa xăm, méo mó như tiếng vọng từ một thế giới khác. Chỉ còn tiếng nước ù ù chảy qua tai.
Nó ngụp xuống, rồi lại ngụp xuống, mỗi lần lâu hơn một chút. Mùi bùn non thấm vào da thịt, thơm một cách lạ lùng, cái mùi đất ẩm ướt trộn với rêu đá và lá mục mà bất cứ đứa trẻ nào ở đây cũng thuộc. Nó biết mùi này sẽ bám trên tóc nó đến tận tối, khi mẹ Dung cầm lược chải cho nó bên hiên nhà, vừa chải vừa mắng yêu: "Đi tắm suối về không gội đầu cho sạch, bọ chét nó tha mất xác con." Nhưng nó thích cái mùi ấy. Nó thích cảm giác da mình vừa lạnh vừa ửng lên khi bước ra khỏi nước, gió đồng thổi qua làm nổi gai ốc khắp cánh tay.
Có đứa té nước vào mặt nó. Nó mở mắt, thấy Yến đứng trên bờ, tay ôm cái gàu nhựa, chân đất lấm bùn, đang nhìn anh với vẻ mặt vừa ham vừa sợ. Con bé mới năm tuổi, mẹ không cho xuống nước vì sợ trượt đá.
-Anh Sơn ơi, cho em xuống với!
-Không được. Mẹ đánh đòn.
-Em không nói với mẹ đâu!
Sơn lội vào bờ, bế con bé lên tảng đá, cho nó ngồi chỗ khô nhất. Rồi nó vốc một vốc nước, xoa lên cái đầu nóng hổi của em, vốc thêm một vốc rửa sạch vết bùn dính trên má nó.
-Ngồi yên đây, tao bắt được cá tao cho.
Con bé reo lên, hai chân đập xuống đá. Thơ từ dưới vẫy tay:
-Sơn! Xuống nữa đi! Nước chỗ kia sâu lắm, sâu tới cổ tao luôn!
Lũ trẻ lại kéo nhau ra giữa dòng, chỗ có hõm đá sâu. Nước ở đó xanh biếc, nhìn xuống thấy đáy, thấy cả đàn cá lòng tong thả những vệt bạc. Sơn bơi ra, tay quơ đều, rồi nó thả người xuống, để mặc nước ôm lấy mình. Cái lạnh quấn quanh ngực, bụng, đầu gối, chảy vào tận kẽ ngón chân. Nó nằm ngửa, mắt nhìn lên khoảng trời bị vòm lá xanh cắt thành những mảnh hình dáng kỳ lạ. Mây trắng trôi chậm như đàn trâu trên đỉnh núi. Xa xa, có tiếng chuông chùa vọng lại, mỏng manh, chìm ngay vào tiếng suối.
Nó không nghĩ ngợi gì nhiều. Ở tuổi ấy, không ai trong bọn chúng biết rằng mọi thứ đang dần qua đi. Rằng chỉ vài năm nữa thôi, con suối này vẫn chảy, vạt lau vẫn cao, nhưng sẽ không còn đủ chỗ cho nó nằm ngửa nhìn mây. Nhưng lúc ấy, trong buổi trưa tháng sáu, dưới làn nước mát lạnh như tiết trời đầu đông, Sơn chỉ cảm nhận được một điều duy nhất: mùi đất bùn, và cảm giác mình thuộc về nơi này, thuộc về khúc suối nhỏ sau làng, thuộc về những buổi chiều la hét đến khản cả cổ cùng bọn trẻ. Nó ngụp xuống một lần nữa, lần nữa, lần nữa, cho đến khi hai tai ù đi, cho đến khi phổi nóng ran lên đòi không khí. Khi nó trồi lên, đầu tóc rũ nước, cả bọn đã tụm lại một chỗ, đang tranh nhau cái rá tre. Thơ đứng bên ngoài, tay cầm con dao rựa nhỏ, đang cắt một khúc tre làm ống thổi.
-Mai tao với mày đi câu nhé? Suối trên bản có chỗ cá nhiều lắm, Thơ nói.
-Ừ.
-Mày mang theo cái lưỡi câu hôm bữa tao cho, đừng có mà làm mất.
-Ừ.
Trời vừa sập tối, mùi khói bếp còn vương trong ngõ thì bọn trẻ trong xóm đã rủ nhau ra suối. Suối sau làng chảy từ khe núi xuống, mùa khô nước chỉ ngang đầu gối, nhưng quanh năm không cạn, và cái chỗ bọn trẻ thích nhất là phiến đá lớn nằm chồm ra mặt nước, phẳng như cái sân đình thu nhỏ, giữa lòng có một vết lõm tròn như dấu chén ai đó để quên từ đời nào.
Sơn theo Thơ ra trước. Hai đứa ngồi xếp bằng trên phiến đá, nghe hơi lạnh từ nước thấm ngược lên đùi. Mấy đứa nhỏ trong xóm lục tục kéo đến sau, đứa vác theo bó rơm khô để đuổi muỗi, đứa cầm củ khoai nướng còn nóng ran tay. Yến bám theo anh, được mẹ cho đi cùng với điều kiện là ngồi sát mép trong, không được thò chân xuống nước. Bà Hợi cho Sơn mấy củ khoai lang và hai nắm xôi nhỏ từ trưa; Sơn để dành, giờ dúi cho em một nắm, còn lại nhét trong túi áo, chưa buồn ăn.
Ngồi được một lát, đứa nào cũng nhìn về phía Thơ. Trong xóm, Thơ kể chuyện ma có tiếng. Cái tiếng ấy không phải vì Thơ kể hay, mà vì Thơ kể chậm, kể như thể chính nó đã ở trong câu chuyện, đã nhìn thấy tận mắt.
Thơ bắt đầu:
-Hồi đó có một bà cụ đi hái măng, về tối ngang khúc suối này…
Giọng nó trầm xuống, đều đều, hòa lẫn với tiếng nước. Thơ kể chuyện bà cụ gặp một người đàn bà ngồi bên suối, tóc xõa dài, tay bồng con nhỏ, mà mãi không thấy mặt. Ai đi qua hỏi gì cũng chỉ nghe tiếng nước reo, reo như tiếng người ta khóc nén trong cổ. Mấy đứa nhỏ ríu vào nhau. Có đứa vừa nhắm mắt vừa hỏi lại: “Rồi sao nữa, rồi sao nữa?”, nhưng giọng đã run, tay thì bám chặt lấy vạt áo bạn.
Sơn không hỏi. Nó ngồi im như mọi khi, hai tay chống sau lưng, ngửa mặt nhìn trời. Trên đầu, mây mỏng kéo qua trăng, ánh sáng nhợt nhạt rơi xuống mặt suối rồi vỡ ra thành từng mảnh bạc. Nó nghe tiếng nước chảy quanh phiến đá. Nghe lớp nước ngoài cùng vỗ nhẹ, nghe dòng nước dưới vực sâu thì thầm, nghe ở đâu đó xa hơn, phía đầu nguồn, nước đổ xuống một cái ghềnh nhỏ, ùng ục như đang kể lể.
Sơn nghe tiếng nước ấy mà nhớ tiếng mẹ đong gạo. Chiều nào cũng vậy, mẹ cúi xuống chum sành sứt miệng, tay cầm lon sữa bò đã mòn, xúc một lon đầy rồi gạt ngang, gạo rơi lả tả xuống nia. Tiếng gạo rơi nghe khô, mà lần nào nó cũng nghe ra được cái nghèo đang đếm trong đó. Tiếng nước dưới vực thì khác: tiếng nước không đếm gì cả, chỉ reo suông. Reo như tiếng bà Hợi gánh nước về trước hiên, thùng nước va vào thành gỗ kêu cộc một cái rồi im. Reo như tiếng mẹ Thơ ngày xưa, cái ngày còn đi giặt áo ở khúc suối trên. Sơn không nhớ mặt mẹ Thơ rõ lắm, chỉ nhớ một buổi chiều hai đứa đứng chờ bên bờ, còn cái bóng người vục áo xuống nước, sóng sánh tới lui.
Thế nên Sơn mới tin rằng con suối này biết chuyện của làng. Đá núi và cây rừng kể chuyện bằng mùi, bằng bóng, còn con suối thì kể chuyện bằng tiếng. Ai chịu ngồi lâu lâu một chút là nghe được. Còn ai chỉ vừa tới đã hỏi sao, sao nữa thì chỉ nghe được tiếng mình.
Thơ kể tới đoạn bà cụ về nhà, mở gói măng ra, thấy trong đó có một sợi tóc dài. Bọn nhỏ la lên một tiếng rồi bụm miệng. Thơ cười, lộ hai cái răng cửa hơi khểnh:
-Tao cậy chuyện đó, chứ không phải tao bịa. Bà Hợi kể cho tao, bà bảo bà nghe chính bà cụ ấy kể lại.
-Bà Hợi nói gì cũng có. Đứa ngồi ngoài cùng phản đối.
-Ừ thì bà có. Nhưng lần này bà nói chắc.
Cả bọn cười, cái cười rì rầm như nước thủy triều lùi. Yến ngồi bên Sơn, mắt mở to, nhưng vì được anh cho nắm xôi nên chưa kịp sợ. Thơ kể tiếp chuyện con ma ở khúc suối sâu, chỗ nước xoáy, mà chuyện thứ hai dở hơn chuyện thứ nhất, nên bọn nhỏ bắt đầu nhấp nhổm. Có đứa xin về trước, đi một mình không dám, bèn rủ thêm hai đứa nữa. Rồi đứa nọ kéo đứa kia, phiến đá cứ vãn dần. Cuối cùng chỉ còn Thơ và Sơn, với Yến ngủ gà ngủ gật trên vai anh.
Thơ im. Nó cúi xuống, hai ngón tay vẽ vẽ lên mặt đá một hình gì đó, một con gà, một cái nhà, rồi xóa đi.
-Mày ít nói quá, Sơn.
-Tao nghe.
-Nghe gì?
-Nghe nước.
Thơ ngẩng lên, nhìn con suối đen thẫm đang chảy, nghiêng đầu như thể nghe theo. Một lúc lâu nó nói:
-Cô Nguyệt bảo tao chữ tao xấu, chép bài cho mày thì chép được, mà tự làm thì sai chính tả. Năm sau thi chuyển cấp…
Nó bỏ lửng câu. Sơn hiểu. Nhà Thơ đông miệng ăn, bố đi nương từ sáng tinh mơ đến tối mịt, bà ngoại ở bản trên thỉnh thoảng mới xuống, có xuống thì cũng chỉ để dành gạo nếp cho cháu. Học tiếp hay không, không phải cái Thơ chọn một mình.
Sơn muốn nói điều gì đó. Nó hé miệng, rồi lại thôi. Trong túi áo, mấy củ khoai lang của bà Hợi vẫn còn ấm. Nó bẻ một củ, chia đôi, đưa Thơ nửa to hơn. Thơ không khách sáo, cắn một miếng, nhai chậm rãi, mắt vẫn nhìn mặt nước.
Đêm từ từ đặc lại. Bên kia suối, đom đóm lên vài con, sáng rồi tắt, sáng rồi tắt, thưa thớt như đèn nhà ai ngoài ngõ. Từ trong làng vẳng ra tiếng ai gọi con về ngủ, tiếng chó sủa một hồi rồi thôi. Sương xuống, mặt đá lạnh thêm. Sơn ngồi thêm một lát nữa, cố nghe cho hết câu chuyện dài của con suối. Nhưng nước thì thầm mãi, không có chỗ nào dừng lại mà kể hết.
Lúc hai anh em đứng dậy, Sơn đỡ Yến ngủ say, để em gục đầu lên vai mình mà đi. Qua khỏi bụi dứa dại, đường về vòng ngang gốc bàng đầu làng, tán lá dày đen in một mảng tối trên nền trời. Nó ngoái lại một lần. Phiến đá vẫn nằm đó, chồm ra mặt nước, một bên hứng trăng một bên chìm trong bóng. Nghe như nước đang reo riêng cho nó một câu gì đó, mà nó chưa kịp nghe rõ.
Bố vẫn chưa ngủ. Đèn dầu còn leo lét sau bếp. Sơn bước vào nhà, thấy trên bàn có tờ giấy, bố ngồi bên, đọc rồi lại gấp, gấp rồi lại mở. Mẹ đứng sau, tay cầm cái khăn vừa giặt, không lau gì cả. Sơn không hỏi. Nó chỉ nghe, như nghe con suối, cái tiếng gì đó đang đổi dòng trong nhà mình.
Con suối sau làng chảy ra từ một khe núi đá vôi, nước trong đến mức nhìn thấy từng viên sỏi nằm nghiêng dưới đáy, xanh rêu và vàng nhạt như những hạt ngô hạt đỗ ai đó đánh rơi từ đời nào. Mùa hè, mặt nước mát rượi, lũ trẻ trong xóm kéo nhau ra đó từ lúc mặt trời còn chưa lên khỏi rặng tre, đứa nào cũng chỉ mặc độc cái quần đùi cũ, chân trần chạy trên con đường đất đỏ bụi mù. Con suối ấy là của chung. Không ai nói thế, nhưng ai cũng biết.
Chiều hôm đó, đám trẻ tụi nó vừa bắt được một giỏ cá suối nhỏ xíu, loại cá bống loang lổ đen vàng mà người lớn hay kho mặn với rau rừng. Thơ nhóm bếp bằng lá khô và cành khô, còn Sơn lấy con dao nhỏ trong túi ra, cạo vảy từng con cá một. Tay nó thoăn thoắt, mắt thì lim dim vì nắng. Bọn trẻ khác ngồi vòng quanh, mỗi đứa góp một nắm khoai lang, một trái bắp vừa hái trộm trong nương. Khói bếp cay xộc lên mắt, quyện với mùi khoai nướng cháy cạnh, mùi cá vừa bắt còn tanh mùi bùn. Đó là mùi của tuổi thơ, thứ mùi sau này đi đâu Sơn cũng không gặp lại được, dù có đứng giữa bếp than hoa của thành phố.
Đang ăn, thằng Cún, con nhà dưới xóm, mồm lúc nào cũng nhốm nhoàm, nói:
-Dì Hai bảo năm sau chỗ tao làm đường lớn, xe chở gỗ đi qua đây, suối này bị lấp mất.
Cả bọn im một lát. Con Nhàn cắn một miếng khoai, ngồi nghĩ ngợi, rồi hỏi lại:
-Lấp mất thật à?
-Ừ. Người ta đổ đá xuống.
Không ai nói gì nữa. Đứa nào cũng cúi xuống nhìn dòng nước đang lặng lẽ trôi qua chân mình, ánh sáng lấp loá trên mặt nước như có ai đó rắc một nắm bạc vụn. Sơn thấy trong ngực nó dâng lên một cái gì nghèn nghẹn, khó gọi tên. Nó vốn là đứa hay im. Càng lớn tính càng vậy. Bố nó thường bảo, thằng này không nói ra nhưng trong bụng nặng lắm. Nhưng lần đó, Sơn bỏ con cá còn nướng dở xuống lá chuối, đứng dậy. Chân nó trần, dính đầy bùn đất, đứng trên phiến đá phẳng ngay mép suối, bóng nó ngả dài xuống mặt nước. Nó đứng đó, tai còn nghe tiếng nước chảy róc rách và tiếng ve kêu rộn cả buổi chiều tà.
-Tao thề, nó nói, giọng không to, mà tự nhiên rõ từng tiếng. Tao thề với tụi bây, cả đời tao sẽ không quên con suối này. Đi đâu cũng không quên. Làm gì cũng không quên.
Cả bọn ngẩng lên nhìn nó. Trong lũ trẻ ấy, Sơn là đứa con nhà công chức, mỗi bữa cơm độn ngô nhưng vẫn có trứng tráng, có cá khô nướng, có rau lang luộc và cà muối; được mẹ mua cho cái cặp sách mới vào đầu năm học; được bố dạy học từng buổi tối bên ngọn đèn dầu. Nó là đứa khác nhất trong bọn, người ta nhìn nó mà biết nó sẽ có tương lai khác. Nhưng lúc ấy, đứng bên suối, nó với bọn chúng không khác gì nhau. Bùn trên chân nó cũng bùn ấy. Nắng trên mặt nó cũng nắng ấy.
Thơ đứng dậy sau cùng. Thơ nhìn Sơn một lúc lâu, đôi mắt đen như hòn sỏi suối, rồi cúi xuống nhặt một viên đá cuội trắng, thả xuống nước. Viên đá chìm, mặt nước loang ra mấy vòng tròn nhỏ, quay cuồng rồi tan dần.
-Mai mốt mày đi rồi, mày quên hết, Thơ nói, giọng nửa đùa nửa thật.
-Tao không quên, Sơn đáp. Tao thề rồi mà.
-Thề thì lấy gì làm tin?
-Tao lấy con suối này làm tin.
Cả bọn cười ồ. Tiếng cười trẻ con vỡ ra trong buổi chiều, bay lên theo khói bếp, tan vào rừng. Con Nhàn ném cho Sơn một củ khoai nướng cháy cạnh, nói rằng thề rồi thì phải ăn phần to, không ai giành. Thằng Cún lấy que vạch một vòng tròn trên đất cát ngay mép suối, khoanh chỗ Sơn đứng, bảo rằng từ nay chỗ đó là chỗ của lời thề. Đứa nào lớn lên quên chỗ này thì bị trời phạt. Lũ trẻ tin lắm. Tin vào vòng tròn, tin vào lời thề, tin vào con suối đang trôi kia, như tin vào một điều gì đó lớn hơn cả mình.
Sơn ngồi xuống lại trên phiến đá. Nó nhìn dòng nước một lần nữa rất lâu. Nước cứ chảy, chảy mãi, không bao giờ chảy lại. Nó bỗng nghĩ, mình ngồi đây, mình thề đây, mà suối đã trôi qua mình rồi, cái nước đang chảy qua chân mình bây giờ thì khoảnh khắc sau nó đã ở chỗ khác. Hình như ai đó nói câu ấy để đời: không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Sơn không nhớ nổi ai nói, chỉ nhớ mình đã đọc ở đâu đó, trong một trang sách mọt, khi ngồi đợi mẹ nấu cơm. Nó im lặng nhìn con nước, tai nghe tiếng bọn bạn vẫn còn cười nói sau lưng, tiếng khoai nướng nổ lép bép trong bếp lá, và một cơn gió chiều thổi qua làm rặng tre bên bờ kêu lao xao.
Tối hôm đó, khi về đến nhà, mẹ Dung đang ngồi bên bếp lửa, đong gạo bằng lon sữa bò đã mòn. Bố Sơn đi họp trên huyện, chưa về. Bên mâm cơm độn ngô, mẹ nhìn Sơn ăn một lúc, rồi hỏi:
-Đi đâu về mà tóc tai ướt hết vậy?
Trời đổ bóng xuống con suối nhanh đến mức lũ trẻ không kịp cãi nhau thêm câu nào. Mới lúc trước, mặt nước còn ánh lên cái thứ vàng nhợt nhạt của nắng muộn, vậy mà chỉ vài nhịp thở, màu ấy đã rút lên ngọn tre, ngọn vối, rồi tắt hẳn, để lại một dòng nước đen thẫm, lạnh, vẫn lặng lẽ chảy về xuôi như chưa từng có đứa nào nô đùa trên đó.
-Về thôi! Không về thì mẹ đánh chết. Thơ đứng trên bờ, hai tay vẫn ôm khư khư cái chai nhựa đựng mấy con cá rô nhỏ, cái chai đã bị mòn một bên hông vì lăn lóc quá nhiều lần.
Lũ trẻ rục rịch. Đứa lớn nhất trong bọn nhặt cái ống quần còn ướt sũng, vắt nước rồi quấn vội lên đầu gối, đứa bé hơn thì cứ chạy chân đất lên bờ đê, vừa chạy vừa hét tên nhau, tiếng hét vang lên rồi rơi tõm xuống thung lũng phía dưới. Không ai bơi nữa. Con suối đã trở về với đêm, và mỗi đứa phải trở về với cái ngõ nhà mình, cái bếp nhà mình, cái nồi cơm đang sôi lục bục trên bếp củi.
Sơn bước lên bờ sau cùng. Cậu líu ríu kéo cái gấu quần, nước chảy xuống mắt cá chân, lạnh buốt. Thơ ngoái lại chờ, như mọi lần, như thể hai đứa đã có một giao ước ngầm nào đó chẳng bao giờ nói thành lời.
-Mày cầm chai cá về không? Thơ hỏi.
-Thôi, mày mang về cho hai đứa em mày. Tao có rồi.
Thơ gật gù, không hỏi gì thêm. Cả hai đều biết trong cái chai cá kia sẽ có con béo cho con em út, con vừa cho thằng em giữa, còn Thơ thì gắp cọng rau, ăn nước. Không ai bảo ai điều gì. Đó là thứ luật ngầm của con nhà nghèo, giống như việc Thơ luôn để phần khoai ngon nhất cho em, còn mình ăn phần sát vỏ lấm cát.
Bọn trẻ rẽ về các ngả. Một vài đứa đi lên bản trên, men theo con đường mòn xi măng đã bạc màu, chỗ đám cỏ tranh mọc cao đến đầu gối, tối nào cũng nghe mùi khói bếp theo gió bay xuống. Một vài đứa rẽ xuống dốc, nơi ánh đèn dầu hắt ra từ khe liếp nhà ai đó, vàng vọt như một hạt đậu phộng nằm lăn. Con đường đất dưới chân bọn trẻ vừa lổn nhổn đá, vừa mấp mô ổ gà, vậy mà đi quen rồi thì chẳng ai vấp. Cái quen ấy đến từ những buổi chiều nào, không nhớ nổi, chỉ nhớ rằng mẹ đã dặn: trời tối là phải về.
Sơn và Thơ đi chung một đoạn. Đến ngã ba cây bàng, nơi thân bàng già nghiêng hẳn ra đường vì mấy chục năm gió núi day, thì Thơ dừng lại.
-Tao về hướng này.
-Ừ.
-Mai đi học nhớ chờ tao.
-Ừ.
Thơ xách chai cá đi, bóng nó đổ dài, ngắn, dài rồi ngắn theo từng bước, cuối cùng trộn lẫn với bóng cây bàng và mất hút. Sơn đứng lại một mình. Bỗng nhiên cậu thấy lạ. Cậu đã đi qua cái ngã ba này bao nhiêu lần, đã nhìn cây bàng này vào biết bao buổi chiều, đã thấy những bóng người tan vào bóng tối trước mắt mình không biết bao nhiêu lần, vậy mà tối nay lại có cái gì khác đi. Như thể trong lòng mình có một sợi dây vừa khẽ đứt, đứt lặng lẽ đến mức phải một lúc sau mới nghe tiếng đứt.
Sơn quay đầu lại, ngoái nhìn con suối một lần nữa. Nó nằm dưới kia, hiền như một con trâu già đang ngủ, chỉ còn nghe tiếng nước rì rào va vào mấy tảng đá. Chỗ cát bọn trẻ vừa giẫm lên vẫn còn mấy vết chân, mai mưa xuống là xóa sạch, như chưa từng có đứa nào ở đó, chưa từng có chai nhựa đựng cá rô, chưa từng có những tiếng cười vỡ ra giữa trưa nắng. Tự nhiên Sơn thấy nghẹn trong cổ, dù chẳng vì cái gì cụ thể. Cậu hay im. Mẹ vẫn bảo nó giống bố, buồn vui gì cũng nén lại trong lồng ngực, chỉ ngồi nhìn, chỉ đứng nghe, rồi thôi. Nhưng cái cảm giác này khác. Nó không phải buồn, không phải vui, chỉ là nao nao như thể có một cái gì đó đang thay đổi, ở đâu đó, không phải ở con suối, không phải ở ngọn núi, mà chính ở chỗ cậu đang đứng.
Mấy con đom đóm bắt đầu lên đèn dọc bờ rào. Xa xa, đèn nhà ai thắp sáng lên một khoảnh khắc, rồi mờ đi vì hạt mưa đêm nay chưa xuống nhưng mây đã kéo về đầy đầu núi. Dưới chân, con đường mòn dẫn về nhà mình, ngắn lắm, độ một con dốc nhỏ nữa thôi, mà sao tối nay Sơn thấy nó dài.
Nhà Sơn nằm ngay cuối làng đó, thế nào cũng có bếp lửa reo, thế nào cũng có mẹ Dung đang đong gạo bằng cái lon sữa bò đã mòn, rót ra chum sành sứt miệng. Thế nào cũng có Yến chạy ra sân đón anh. Sơn biết chắc như vậy. Vậy mà cậu vẫn đứng thêm một lúc, nhìn lại con suối một lần cuối, như thể đang chào một cái gì đó mà mình chưa kịp gọi tên.
Sơn về đến nhà khi trời vừa sập tối, tóc còn ẩm vì tắm suối. Con suối sau làng mùa hè nước cạn, chỉ ngập tới đầu gối, đám trẻ con trong xóm cứ tắm tới khi mẹ gọi mới về. Sơn vừa đi vừa nghe tiếng dế rỉ rả hai bên đường đất, tiếng chó nhà ai sủa vọng qua mấy rặng tre.
Cửa nhà mở hé. Gian giữa tối om, chỉ có gian buồng bên phải hắt ra một quầng sáng vàng đục. Sơn đứng lại ở ngạch cửa, bàn chân đất níu lấy ngưỡng gỗ. Cái quầng sáng ấy chiếu lên bức vách đất nện, in hình bố ngồi bên bàn giấy, lưng hơi còng xuống. Chiếc đèn bàn bằng tôn, chụp xanh, bóng vàng, để đã lâu năm nên trên chụp có một vết móp nhỏ. Bố vẫn ngồi đó mỗi tối, ghi chép sổ sách hay xem giấy tờ, nhưng tối nay bố không viết gì cả. Bố chỉ ngồi, hai tay đặt lên một tờ giấy trắng, ngón trỏ gõ nhẹ xuống mép giấy.
Bố không hút thuốc. Điếu thuốc lá để trong gạt tàn, chỉ cháy dở. Chén nước chè cũng nguội, lá chè lắng xuống đáy. Sơn nhìn thấy những thứ quen thuộc ấy mà tự nhiên thấy lạ, như nhìn một người khác ngồi trong hình dáng bố mình.
Mẹ ngồi trên giường, quay lưng lại với bố, đang gấp quần áo.
Cái giường tre mùa hè vẫn trải chiếu cói. Trên chiếu là một đống quần áo. Mẹ gấp từng cái một, chậm rãi, sống áo vuốt thẳng, gấp đôi, gấp ba, rồi xếp chồng ngay ngắn. Quần áo trong nhà đã gấp hết từ đời nào. Mẹ gấp lại. Cái áo sơ mi cũ màu cỏ úa của bố, cái quần vải xanh của Sơn, hai cái váy hoa của Yến, rồi lại đến lượt cái áo cỏ úa của bố. Gấp xong chồng này, mẹ day sang chồng khác.
Sơn đứng ở ngạch cửa một lúc lâu. Không ai nói gì. Tiếng vải sột soạt nghe rõ mồn một, rõ hơn cả tiếng dế ngoài kia. Trong bếp, cái chạn để trống, nhưng Sơn biết bữa tối đã dọn rồi: cơm độn ngô, cá khô nướng, trứng tráng, rau lang luộc, cà muối. Yến ăn xong chắc đã sang nhà bà Hợi chơi.
Sơn bước vào, đi nhẹ như đi qua chỗ người ta đang ngủ. Cậu đến bên chum sành, cái chum sứt miệng đựng gạo, vốc nước từ gáo dừa rửa mặt. Nước mát chảy xuống cổ, ướt cả vai áo. Cậu vắt khăn lên dây, rồi đứng lại nhìn cái lon sữa bò đã mòn nằm trên nắp chum , dụng cụ đong gạo của mẹ, mà mỗi lần đong, mẹ lại bốc bớt đi một nắm.
Sực nhớ ra, Sơn quay lại nhìn bố.
Tờ giấy trắng trên bàn giấy không phải giấy trắng. Có mấy dòng chữ in, một cái dấu đỏ tròn, và mấy chữ ký ngoằn ngoèo ở dưới cùng. Sơn đọc thấy ba chữ in hoa ở tiêu đề, đọc được hai tiếng “điều động”, rồi tới mấy chữ nữa mà cậu không hiểu. Nhưng cậu hiểu chữ “đi”. Ở trong trường, cô Nguyệt vẫn dạy mấy đứa học trò làng: chữ nào cũng có nghĩa, đọc không hiểu thì đừng đọc liều. Sơn đứng im, không đọc nữa.
Bố ngẩng lên nhìn Sơn. Bình thường bố hay hỏi: “Học bài chưa con?” Tối nay bố chỉ nhìn, rồi gật đầu một cái. Cái gật đầu ấy làm Sơn thấy trong ngực có gì đó hơi nghẹn, như hạt cơm lẫn sạn, không đau mà biết là có.
Con Yến từ ngoài chạy vào, tay còn cầm miếng xôi của bà Hợi, áo rơi mất một cái cúc, nói oang oang:
-Bố ơi, ba tháng nữa là Tết Đoan Ngọ hả bố? Bà Hợi nói Đoan Ngọ có bánh ú tro.
Bố Toàn ừ một tiếng. Mẹ Dung vẫn không quay lại, tay vẫn gấp áo, giọng mẹ bình thường đến lạ:
-Tháng này mỗi bữa bớt một nắm gạo, đến cuối tháng mua thêm cho hai chị em ăn tết Đoan Ngọ. Con đừng hỏi nhiều.
-Con ăn ít thôi cũng được, con bé vừa nói vừa nhai.
Sơn ngồi xuống cạnh em, kéo vạt áo nó che cái chỗ rơi cúc. Cửa buồng vẫn hé, ánh đèn bàn giấy hắt ra một vệt dài trên nền đất, chạy từ bàn chân bố đến chân giường, rồi tắt ở đó. Sơn nhìn theo vệt sáng ấy.
Hồi chiều, lúc còn ngồi trên bờ suối, Sơn có nghe ông Tư đầu xóm nói chuyện với ai đó: “Dưới ấy sắp đổi hết.” Sơn không để ý. Bây giờ cậu nhớ ra, và tự dưng thấy câu nói ấy nặng hơn cả buổi chiều.
Sơn đứng dậy, đi ra hiên. Ngoài kia tối đen, tre sau nhà khua lá xào xạc. Mùi khói bếp còn vương lại trong sân. Cậu nhìn về phía con suối sau làng, chỗ đầu hôm cậu còn ngồi, chỉ thấy một vệt nước nhạt mờ dưới ánh sao.
Mùa hè này, Sơn mười tuổi. Cậu chưa biết gì cả. Cậu chỉ biết trong nhà, có một người ngồi im trước tờ giấy, một người gấp mãi quần áo, và ngọn đèn bàn giấy đêm nay sáng lâu hơn mọi đêm.