Đầu tháng Chín năm 2000, khi Sơn vừa bắt đầu lớp Năm ở trường mới, cậu qua cổng khu tập thể thì bác bảo vệ gọi lại. Bác ngồi trong buồng trực, trước mặt là cuốn sổ bìa cứng và chồng báo vừa được bưu tá mang tới. Bác rút từ giữa chồng giấy một phong bì hơi nhàu, đưa cho cậu.
“Thư của cháu đấy. Sáng người ta gửi tới, bác để trên bàn kẻo lẫn vào thư cơ quan.”
Sơn nhận bằng cả hai tay. Góc phong bì dán một con tem nhỏ, dấu bưu điện đóng đè lên mép giấy. Ở mặt trước là tên bố Toàn và số phòng 214, dãy B, còn tên người gửi nằm ở góc sau. Nét chữ tròn, đều, những chữ có nét móc được viết rất cẩn thận. Sơn nhìn là biết ngay chữ Thơ.
Cậu cảm ơn bác rồi chạy lên cầu thang. Đến tầng hai, Sơn ngồi xuống bậc chiếu nghỉ, đặt phong bì lên đầu gối, bóc từng chút ở đường dán. Tờ giấy bên trong xé từ vở ô ly, gấp làm tư. Vết gấp đã nhũn, góc dưới dính một chấm mực xanh.
“Sơn à. Tau viết thư ni cho mi. Mi xuống đó khỏe chứ? Có nhớ nhà không?”
Sơn phì cười. Cậu tưởng như nghe Thơ đứng bên kia phiến đá, một chân ngâm dưới suối, miệng hỏi mà mắt vẫn nhìn dòng nước. Chữ Thơ đẹp từ hồi cô Nguyệt còn dạy hai đứa ở trường làng. Nó học bài chậm, nhưng trang vở nào cũng sạch, hàng chữ đều đến mức Sơn từng mượn vở về chép lại.
Thơ kể nhà đã gặt xong đám lúa dưới chân dốc. Mấy bó rơm được phơi trước sân, gặp mưa lại phải chạy ra thu. Bố nó vẫn đi nương sớm, có hôm về muộn, Thơ vừa nấu cơm vừa trông hai đứa em. Đứa út dạo này nói được nhiều hơn, cứ thấy người quen đi ngang là hỏi anh Sơn đâu. Thơ còn kể con mèo mướp nhà bà Hợi đẻ ba con, bà giữ một con, hai con kia có người xin mất rồi.
Đến chuyện bà Hợi, nét chữ Thơ bỗng nhỏ hẳn:
“Bà hỏi thư mi suốt. Tau bảo chắc mi bận học. Có hôm bà còn hỏi ở dưới đó người ta có ăn khoai luộc không. Tau bảo chắc có, chợ thành phố cái chi cũng bán.”
Sơn đưa ngón tay miết lại chỗ tờ giấy cong lên. Hôm rời làng, bà Hợi đã chạy theo xe đưa cho cậu nắm xôi nóng. Cậu còn nhớ lớp lá chuối mềm đi trong lòng bàn tay, nhớ bà đứng nép bên cổng cho chiếc xe qua. Vậy mà suốt những tuần ở thành phố, cậu mới chỉ viết về bà trong cuốn vở của mình. Cậu định gửi thư cho Thơ mấy lần rồi lại để đó.
Thơ kể cây bàng đầu xóm mùa này bắt đầu rụng những chiếc lá già. Mấy đứa nhỏ lấy lá làm thuyền, đem thả xuống rãnh nước sau mưa. Phiến đá cạnh suối vẫn trơn, hôm nọ Thơ ra câu cá suýt trượt chân. Nó viết thêm một câu rằng nếu Sơn có về Tết thì hai đứa sẽ lại ra đó ngồi.
Đoạn cuối tờ giấy có vài chữ nghiêng hẳn sang phải:
“Mi xuống đó học cho tốt. Tau ở nhà còn phải lo cho hai đứa nhỏ, nhưng tau vẫn đi học. Mi gặp chuyện chi thì cứ viết về kể. Tau đọc được mà. Nhớ trả lời nghe.”
Sơn đọc lại câu cuối. Thơ đâu chỉ hỏi thành phố có đẹp, có đông người hay không. Nó hỏi cậu sống thế nào.
Tiếng bước chân dội lên cầu thang. Yến từ phòng 214 chạy ra, tóc buộc lệch một bên, tay còn cầm mẩu bút chì.
“Anh Sơn, mẹ gọi ăn cơm. Anh đọc gì thế?”
“Thư của Thơ.”
“Anh Thơ ở quê à?” Yến ghé sát nhìn nét chữ. “Anh ấy hỏi em không?”
“Có. Nó hỏi cả nhà.”
“Vậy anh bảo anh Thơ em biết tô con mèo rồi nhé.”
Sơn gấp thư theo nếp cũ, đứng dậy. Yến chạy trước, vừa vào nhà đã khoe với mẹ rằng anh Sơn nhận được thư tận ngoài làng gửi xuống. Mẹ Dung đang gắp cá vào đĩa, nghe vậy liền hỏi thăm bố con Thơ. Sơn đọc cho mẹ nghe mấy đoạn. Đến câu bà Hợi hỏi chuyện ăn khoai, mẹ cười, bảo hôm nào ra chợ mua mấy củ về luộc, rồi chợt hỏi:
“Con trả lời bạn đi. Để nó còn biết con vẫn nhớ.”
“Vâng ạ.”
Sơn đem phong bì cất vào ngăn bàn, cạnh con dế gỗ Thơ gọt tặng hôm chia tay. Trong ngăn còn cuốn vở cậu đã viết mấy trang về vòi nước chung, sân bóng, những lần Hưng rủ đi chơi. Sơn lấy vở ra, đọc lại, rồi đóng vào. Cậu cần một lá thư khác, ngắn hơn và gửi được qua bưu điện.
Mấy hôm sau, chú Bảy Hùng ngồi sửa chiếc quạt điện ở phòng tầng một. Sơn mang tờ giấy viết dở xuống, định nhờ chú xem giúp cách ghi địa chỉ. Cửa phòng mở hé. Bên trong, những cánh quạt được tháo ra, xếp trên tấm bìa cạnh hộp dụng cụ. Chú Bảy đang dùng giẻ lau lớp bụi bám trong lồng quạt. Đèn bàn sáng một góc nhà, mùi dầu máy quen thuộc lẫn với mùi nước chè để nguội.
“Vào đi cháu. Ngồi tránh chỗ ốc vít, rơi mất chú lại phải tìm.”
Sơn ngồi lên ghế đẩu, chờ chú đặt chiếc tua vít xuống mới đưa tờ giấy. Chú Bảy nhìn địa chỉ viết ở đầu trang, bảo Sơn ghi thêm tên xã, huyện để thư về đúng bưu cục. Bố Toàn có thể giúp cậu điền những dòng còn thiếu.
“Thư cho thằng Thơ à?” Chú hỏi.
“Dạ. Bạn cháu ở quê.”
“Thế viết được mấy trang rồi?”
“Một trang. Nhưng cháu gạch gần hết.”
Chú Bảy đặt tờ giấy lên bàn. Phía trên là hai dòng Sơn viết về Hưng, về những dãy nhà cao và cái tivi màu cậu được xem ở nhà bạn. Phía dưới, cậu mới viết được mấy chữ ở đây cũng vui rồi bỏ dở.
“Có chuyện khó kể hả?”
Sơn gật đầu, mắt nhìn đống cánh quạt trên sàn.
“Cháu kể thành phố nhiều thứ quá, sợ nó nghĩ cháu khoe. Mà kể chuyện bị bọn trẻ trêu, nó lại lo.”
“Cháu cứ viết như lúc nói chuyện với nó.” Chú Bảy lấy nắp hộp dụng cụ đậy lên mấy con ốc. “Hai đứa từng đi học với nhau, chắc nó biết cháu nói khoác hay nói thật.”
Sơn cúi xuống trang giấy. Cậu nhớ cuộc xô xát với Long trên sân bóng, hôm Long sút quả bóng trúng mũi khiến cậu chảy máu. Nếu kể thật, Thơ thế nào cũng hỏi thêm. Cậu còn muốn kể chuyện Hưng đã đứng về phía mình lúc mấy đứa khác nhại giọng quê. Nhưng những chuyện ấy viết ra sao cho giống một buổi hai đứa ngồi bên suối thì Sơn chịu.
“Chú có viết thư về nhà hồi đi bộ đội không ạ?”
“Có chứ.” Chú Bảy lau tay. “Hồi ấy còn phải xin giấy của anh em cùng đơn vị. Chú viết cho mẹ chú. Kể bữa ăn, kể hôm trời mưa, kể cả chuyện cái võng mắc thấp quá, nằm xuống chạm đất.”
“Chú kể hết mọi chuyện à?”
“Cũng có chuyện để sau. Mẹ chú đọc thư là biết thằng con còn khỏe, vậy là mừng.”
Chú Bảy lấy trong hộp ra một bộ phận nhỏ, đưa lên ánh đèn xem, rồi đặt xuống. Một lát, chú nói thêm rằng mẹ chú mất khi chú còn ở đơn vị. Lá thư cuối cùng bà gửi có nhắc mua giúp một chiếc lược. Đến ngày về phép, chú mang chiếc lược về thì nhà đã làm xong tuần cúng.
Sơn nhìn chú. Chú nói bình thản, nhưng sau câu ấy lại cặm cụi với con ốc lâu hơn thường lệ. Sơn hỏi chiếc quạt hỏng ở đâu. Chú chỉ chỗ bạc trục bị khô dầu, bảo phải kiểm tra thêm rồi mới lắp lại. Chú luôn rút điện trước khi mở quạt; hôm nay chú cũng nhắc Sơn tránh đụng vào dây và những chỗ đang tháo dở.
“Cháu nhớ nhất ở quê cái gì?” Chú Bảy hỏi khi cất bộ tua vít.
“Con suối ạ. Với chữ của thằng Thơ. Nó viết đẹp lắm.”
“Thế kể cho nó nghe chuyện cháu nhớ suối. Nó biết suối ở đâu rồi.”
Sơn bật cười. Cậu cầm bút viết ở mặt sau tờ giấy một câu: Thơ, hôm trước tao đá bóng xong lại nhớ con suối sau làng. Viết tới đó, Sơn ngừng. Câu này cậu muốn giữ lại.
Chú Bảy gom đồ nghề vào hộp. Ngoài cửa, tiếng Hưng gọi Sơn xuống sân vọng lên hai lần. Sơn đáp chờ một chút, lấy tờ giấy kẹp vào cuốn vở, cảm ơn chú rồi lên nhà. Chú Bảy còn dặn với theo rằng khi nào viết xong nhớ hỏi bố địa chỉ, kẻo phong bì đi lòng vòng.
Chiều chủ nhật, Sơn ngồi vào bàn cạnh cửa sổ, lấy một trang vở mới. Lá thư Thơ gửi đặt ngay trước mặt. Cậu đã thuộc mấy câu đầu, vậy mà vẫn mở ra đọc. Bên dưới cửa sổ, hai đứa nhỏ đang chơi bi, có tiếng viên bi va vào nền xi măng lách cách. Thỉnh thoảng người ta đi qua hành lang, ghé cửa hỏi mẹ Dung chuyện trường lớp. Căn phòng 214 hôm ấy có nắng, vàng một dải trên mặt bàn.
Sơn viết:
“Thơ à, tao nhận được thư mày rồi. Cả nhà tao vẫn khỏe. Yến bảo tao khoe với mày là nó đã tô được con mèo. Mẹ tao hỏi thăm bố mày và hai đứa nhỏ.”
Cậu đọc lại, thấy vừa ý, viết tiếp:
“Ở đây nhà tao ở tầng hai. Sáng xuống lấy nước phải nhớ giờ, tới lượt thì mới hứng. Bố đã sửa cái xe đạp mang từ quê xuống. Tao biết đi xe từ trước, nhưng đi ngoài phố đông người cũng khó, hôm nọ suýt va vào xe máy. May bố đi ngay bên cạnh.”
Sơn dừng bút, ngó ra ngoài. Dưới sân, Hưng vừa chạy qua, quả bóng nhựa kẹp một bên hông. Nó đã quen sang phòng 214 gọi Sơn, có lần còn ngồi giúp Yến làm con diều giấy. Sơn cười rồi viết thêm:
“Tao quen thằng Hưng cùng khu, ở tầng ba. Nó nói nhiều và biết đủ đường đi. Có hôm tao bị đám trẻ trêu giọng quê, nó đứng ra nói giúp. Bọn tao hay đá bóng ở sân, nhưng mỗi lần đá xong tao lại nhớ chỗ hai đứa mình ra suối tắm.”
Cậu chần chừ trước chuyện Long. Mũi cậu đã lành. Cả đám vẫn gặp nhau dưới sân, Long lâu lâu còn kiếm chuyện, nhưng Sơn cũng đã biết cách giữ phần sân của mình. Cậu viết thêm một câu ngắn rằng có đứa đá bóng rất mạnh, cậu đã bị trúng mặt một lần, rồi thôi. Kể đúng như đã xảy ra là đủ.
Sơn nghĩ đến lời chú Bảy, viết tiếp:
“Tao vẫn học. Cô giáo ở đây khác cô Nguyệt nhưng cũng hiền. Có bài khó, tao phải hỏi lại. Mày nhớ giữ vở cẩn thận, đừng cho em út vẽ bậy lên. Chữ mày đẹp, ở đây tao vẫn khoe với mẹ tao như vậy.”
Đến cuối trang, Sơn cầm bút khá lâu. Cậu muốn hỏi bố Thơ có khỏe hơn chưa, muốn nhắc Thơ ăn cơm đúng bữa, đừng nhường hết phần ngon cho em. Cậu viết hết những điều ấy rồi đặt bút xuống. Nhìn trang giấy kín chữ, Sơn hơi ngượng. Thơ vốn nói ngắn, đọc lá thư dài thế này chắc lại cười. Cậu gấp thử, thấy vừa phong bì.
Mẹ Dung gọi hai anh em ra ăn cơm. Sơn đặt bản thư dưới cuốn sách Tiếng Việt, định tối sẽ chép sạch rồi nhờ bố ghi địa chỉ. Nhưng tối ấy Hưng gọi ra chơi, hôm sau ở lớp có bài tập mới, còn bức thư cứ nằm trong ngăn bàn. Mỗi lần mở ngăn lấy vở, Sơn lại nhìn thấy góc giấy trắng chìa ra. Cậu đã viết xong, chỉ còn chép lại và gửi đi. Việc ấy lần nào cũng được cậu hẹn sang hôm sau.
Những tuần đầu của lớp Năm trôi qua bằng những chuyện nhỏ. Sơn quen với tiếng trống vào lớp, với chiếc bảng có một góc sơn tróc và con đường từ khu tập thể qua ngã tư. Những buổi đầu, cậu thường ngồi im khi bạn bè nói chuyện. Cô giáo chủ nhiệm biết Sơn chuyển trường từ miền núi xuống, cho cậu thêm thời gian làm quen với cách học và những bạn mới. Có hôm cậu giải nhanh một bài toán, mấy đứa bàn bên sang hỏi cách làm. Sơn kéo vở lại giữa bàn, chỉ cho chúng từng bước.
Hưng học cùng khối nhưng khác lớp. Hai đứa gặp nhau ở cổng trường hoặc dưới sân khu tập thể. Hưng biết chỗ nào bán bánh mì rẻ, biết hôm nào sân bóng có người lớn mượn để họp tổ. Sơn theo bạn một thời gian rồi cũng thuộc đường. Có sáng cậu tự đạp chiếc xe của bố ra con phố nhỏ, bố đi bộ theo một đoạn mới quay về. Đến chiều, Sơn giúp mẹ mang chậu nước lên tầng hai, nghe Yến líu lo kể chuyện lớp mẫu giáo. Cuộc sống ở phòng 214 có thêm những việc phải làm, những người để gặp và những chỗ để đi.
Sang cuối năm 2000, trời trở lạnh. Mẹ đem áo len của hai anh em ra phơi, bố thay sợi dây phanh đã sờn trên chiếc xe Thống Nhất. Sơn vẫn để lá thư viết dở trong ngăn bàn, cạnh con dế gỗ. Có lần mẹ hỏi, cậu bảo mai sẽ nhờ bố mua tem. Rồi cả nhà bận chuẩn bị Tết.
Tết năm 2001, gia đình về làng mấy ngày. Bố Toàn xin nghỉ được một quãng ngắn, mẹ Dung gói quần áo và ít quà bánh vào hai chiếc túi vải. Yến giữ khư khư con búp bê mới, nhất quyết đem theo. Xe khách thả họ ở đầu đường lớn. Từ đó, cả nhà đi bộ lên con dốc đất đỏ. Sơn bước nhanh hơn bố mẹ, qua đoạn đường lổn nhổn đá rồi chậm lại khi nhìn thấy mái nhà cũ.
Nhà cũ nay đã có người ở. Trên dây phơi trước sân là quần áo của gia đình khác. Một chiếc chổi tre dựng ở bên trái cửa, chỗ trước kia mẹ Dung đặt cái chum nhỏ. Sơn đứng lại nhìn. Mẹ gọi con đi tiếp, cả nhà sẽ ở nhà bác cả trong những ngày Tết. Bác đã trải thêm chiếu ở gian giữa, cạnh tủ chè. Tối hôm đó, nghe tiếng chày giã gạo ở nhà bên, Sơn nằm mãi mới ngủ. Cậu cứ tưởng sáng mai thức dậy sẽ phải xách nước xuống dưới chân cầu thang tầng một.
Sáng mồng hai, Sơn tìm Thơ. Nó đang ngồi chẻ củi cạnh bếp, thấy Sơn bước vào thì đặt dao xuống. Hai đứa nhìn nhau một lúc. Thơ cao hơn hôm chia tay một chút, tay có thêm mấy vết xước do làm nương.
“Tao tưởng mày quên đường về rồi,” Thơ nói.
“Quên sao được.” Sơn đặt túi bánh mẹ gửi lên chõng. “Bố mày có nhà không?”
“Đi sang bác họ. Trưa mới về. Ra suối chơi không?”
Hai đứa đi qua vườn sau, men theo lối xuống bờ nước. Phiến đá vẫn ở đó, phần rêu bên mép đậm hơn trước. Nước mùa đông chảy thấp, để lộ một dãy cuội trắng. Thơ ném một hòn xuống vũng sâu rồi hỏi trường mới có đông học sinh không. Sơn kể lớp mình đông hơn lớp ở làng, kể chuyện Hưng và trận bóng với Long. Thơ nghe, thỉnh thoảng hỏi lại một câu. Đến chuyện bị trêu giọng, nó nhíu mày.
“Mày cứ nói như ở nhà. Có chi mà phải sửa.”
“Tao vẫn nói thế.”
“Vậy được rồi.” Thơ cúi xuống nhặt hòn cuội khác, chợt hỏi: “Mà thư tau gửi, mi nhận được chứ?”
“Nhận được.”
“Răng mi chưa viết lại?”
Sơn đưa tay gãi gáy. “Tao viết rồi, để trong bàn. Định chép sạch mà cứ quên.”
“Viết rồi thì đưa đại cho bưu điện. Chữ xấu tau cũng đọc được.”
Sơn bật cười. Cậu kể mình gạch xóa nhiều chỗ, không biết nên kể chuyện gì trước. Thơ nhìn cậu một lát rồi bảo:
“Chuyện chi cũng được. Mi kể chuyện dưới đó cho tau nghe. Tau chưa được xuống phố bao giờ.”
Sơn gật đầu. Có khi Thơ chỉ muốn biết cậu có còn nhớ tới nó. Viết vài trang rồi cất trong ngăn kéo, chuyện ấy Thơ làm sao biết được.
Trên đường về, hai đứa ghé nhà bà Hợi. Bà đang ngồi lựa khoai cạnh chõng tre, thấy Sơn thì nhổm dậy, gọi to từ trong sân. Bà sờ vai cậu, bảo mới có mấy tháng mà trông lớn hơn trước. Sơn ngồi xuống bậc cửa, bóc củ khoai vừa luộc. Bà hỏi bố Toàn có bận công tác, mẹ Dung đã quen trường mới, Yến ở dưới phố có ăn được cơm không. Hỏi xong bà đưa thêm một củ, dặn mang về cho em gái.
Bà vẫn gọi Sơn bằng cái giọng cũ. Chừng ấy thôi mà cậu thấy dễ chịu, ngồi thêm một lúc đến khi Thơ nhắc phải về nhóm bếp cho hai em.
Chiều mồng ba, gia đình trở lại thành phố. Sơn mang theo con dế gỗ từ phòng 214 về làng rồi lại cất vào túi áo đem xuống. Trên xe, Yến ngủ tựa vào vai mẹ, bố Toàn cầm túi quà đặt dưới chân. Sơn nhìn con đường lùi dần qua cửa kính. Cậu nghĩ đến lá thư đã viết ở nhà. Thơ đang chờ một câu trả lời, còn cậu thì đã đem những điều muốn kể nói hết bên bờ suối.
Ngày trở lại phòng 214, Sơn lôi bản thư trong ngăn kéo ra. Cậu chép lại lên tờ giấy sạch, giữ nguyên chuyện Hưng bênh mình, chuyện đi xe đạp giữa đường phố, cả câu nhớ con suối sau làng. Mẹ giúp cậu ghi đủ tên xã, huyện trên phong bì. Hôm sau, bố Toàn dẫn Sơn đến bưu điện gần cơ quan. Cậu tự mua tem, dán lên góc phong bì rồi đưa thư cho người nhận. Lúc bước ra, Sơn hỏi bố gửi từ thành phố về làng mất mấy ngày. Bố bảo tùy chuyến thư, rồi xoa đầu cậu: “Con gửi rồi, giờ để bạn nhận.”
Học kỳ hai trôi nhanh hơn những tháng đầu. Sơn quen cách cô giáo hỏi bài, quen đám bạn cùng lớp và những trận đá bóng sau giờ học. Có hôm nhận điểm tốt, cậu đem vở về đưa bố xem. Có bài làm sai, cậu mang xuống hỏi Hưng rồi hai đứa tranh luận đến khi mẹ gọi ăn cơm. Trên kệ sách, những quyển vở lớp Năm xếp chồng dày dần. Trong ngăn bàn, Sơn giữ lại bản nháp lá thư, những chữ gạch xóa nằm xen giữa chuyện sân bóng, vòi nước và con dốc ở làng. Từ ngày gửi thư, mỗi lần qua buồng bảo vệ, cậu lại liếc nhìn chồng thư trên bàn. Sơn mong có thư Thơ, nhưng vẫn còn bao việc trước mắt: bài kiểm tra cuối năm và những buổi tập đi xe cùng bố.
Cuối tháng Năm năm 2001, Sơn hoàn thành lớp Năm và chương trình tiểu học. Hè này cậu sẽ nghỉ học, còn tháng Chín mới vào lớp Sáu. Hôm đem giấy chứng nhận về, cậu đặt trước mặt bố Toàn, đứng chờ trong khi bố đọc từng dòng. Bố lấy chiếc bìa hồ sơ, lồng tờ giấy vào rồi bảo:
“Sang cấp hai, con tự lo lấy sách vở và thời khóa biểu nhé. Bố mẹ vẫn nhắc, nhưng con phải nhớ phần việc của mình.”
“Vâng ạ.”
Ngoài sân, Hưng đang gọi chia đội đá bóng. Yến đứng bên cửa, ôm con búp bê, giục anh xuống nhanh kẻo hết chỗ. Sơn xếp cặp vào góc bàn, lấy đôi dép rồi chạy ra hành lang. Đến chiếu nghỉ, cậu sực nhớ cửa ngăn bàn còn mở. Sơn quay lại, đẩy ngăn kéo vào. Lá thư gửi Thơ vẫn nằm đó, bên cạnh phong bì có địa chỉ đang chờ dán tem.
Bên ngoài, Hưng gọi chia đội đá bóng lần nữa. Yến chạy trước xuống cầu thang, miệng giục anh mau lên. Sơn cất tờ giấy chứng nhận vào cặp rồi mở ngăn bàn, chạm tay lên bản nháp lá thư đã gửi hồi sau Tết. Giữa mấy tờ giấy học sinh, con dế gỗ của Thơ vẫn nằm yên. Cậu đặt nó ngay ngắn lại, đóng ngăn bàn rồi chạy theo em.
Kỳ nghỉ hè sau lớp Năm bắt đầu bằng tiếng bóng nảy ngoài sân khu tập thể. Đến tháng Chín, Sơn sẽ bước vào một ngôi trường khác.