Phải qua thêm hai ngày sau đêm cả xóm chạy lên đồi, mưa mới ngớt hẳn. Nước suối rút chậm, để lại những đám bùn đỏ quánh bên đường và rác mắc đầy các bụi tre. Sáng hôm ấy, mặt trời lên khỏi núi, rọi xuống lớp bùn còn ướt một màu vàng óng. Từ chỗ trú trên đất cao, người làng bắt đầu xuống xem nhà cửa, ai nấy cầm theo cuốc, xẻng hoặc một cây gậy để dò đường.
Bố Toàn bảo Sơn đi cùng. Mẹ Dung ở lại với Yến thêm một buổi, đợi bố xem lối về đã an toàn chưa. Sơn xắn quần, theo bố xuống con dốc đất đỏ. Con đường cậu vẫn đạp xe qua mỗi sáng giờ lổn nhổn đá cuội, có chỗ bùn ngập quá mắt cá. Bố lấy đầu gậy thử từng bước rồi mới cho cậu đi theo.
Qua một khúc cua, Sơn trông thấy vạt ngô nhà chú Bảy Lâm. Những cây ngô mấy hôm trước còn đứng thành hàng giờ đổ rạp, lá quấn vào nhau, bắp non dính đầy bùn. Có cây bị bật cả rễ, nằm vắt ngang bờ ruộng. Bố dừng lại, cúi nhặt một bắp lên xem, bóc thử lớp vỏ đã ngấm nước rồi đặt xuống.
“Vạt này coi như mất rồi,” bố nói.
Sơn nhớ chú Bảy đứng dưới tấm bạt trên đồi, nhìn hàng rào nứa bị nước cuốn. Hôm ấy chú chỉ nói vài câu, giọng khàn đặc. Sơn hỏi bố:
“Thế chú lấy gì ăn hả bố?”
“Còn bà con trong xóm. Trước mắt phải xem nhà chú hỏng đến đâu đã.”
Hai bố con đi tiếp. Càng xuống cuối dốc, bùn càng sâu. Mấy người đàn ông đang xúc đất khỏi một đoạn đường bị sạt, thấy bố Toàn thì gọi với, nhắc đi sát phía trên. Bố gật đầu, dẫn Sơn vòng qua một khoảnh vườn chuối.
Nhà chú Bảy Lâm hiện ra sau bụi cây gãy. Đêm chạy lũ, từ trên đồi Sơn còn thấy được mái rơm, còn thấy hàng rào nứa trước sân. Nước đã ngâm quanh nhà suốt mấy ngày, khoét sâu vào chân cột. Giờ hàng rào mất hẳn. Một mảng mái rơm bị giật tung, những tấm phên nứa bung ra, để trơ bộ khung xiêu vẹo. Cửa gỗ nằm nghiêng trong bùn, cạnh đó là cái cối xay đã đổ. Chiếc radio cũ chú từng hẹn cho Sơn mở ra xem cũng chẳng biết trôi về đâu.
Sơn đứng sững ở ngoài sân. Chú Bảy thường ngồi ngay chỗ ấy, kê ghế sát vách để sửa đồ. Có bận cậu với Thơ đến chơi, chú tháo mấy con ốc nhỏ khỏi cái đài hỏng, đặt vào chiếc bát men sứt rồi bảo hai đứa nhìn cho kỹ, kẻo tí nữa lắp lại thiếu. Cái ghế gỗ giờ chỉ còn một chân nhô lên dưới lớp bùn.
Bố chống gậy nhìn quanh, bảo:
“Vợ con chú đang ở nhờ gian nhà văn hóa trên chỗ cao. Chú đi với mấy người tìm tre rồi. Trước mắt phải chống lại mấy cây cột, mái để sau.”
“Mình giúp chú được không bố?”
“Được chứ. Cả xóm sẽ cùng làm. Hôm nay phải dọn đường trước đã.”
Sơn cúi nhìn một dấu chân người lớn in sâu bên mép sân. Cậu đặt thử chân mình bên cạnh, thấy bàn chân nhỏ thó chìm xuống lớp đất nhão. Khi rút chân lên, chiếc dép mắc lại. Bố quay sang kéo giúp, cả hai loay hoay một lúc mới lấy được. Sơn bật cười vì cái chân lấm lem đến tận gối, rồi nhìn sang căn nhà xiêu vẹo, tiếng cười tự nhiên nhỏ xuống.
Trên đường trở về, hai bố con gặp người làng mang rổ ra nhặt những thứ còn dùng được. Có nhà tìm được cái nồi trôi sang vườn bên cạnh, có người nhặt được mấy thanh củi mắc trên hàng rào. Ai cũng hỏi nhau nhà nào đã về được, nhà nào còn ở trên đồi. Những câu trả lời nối nhau dọc con đường bùn, lúc gần lúc xa.
Nhà Sơn ở chỗ cao hơn nên nền gian chính đã ráo, chỉ còn vệt nước đọng sát bậc cửa. Mái ngói vẫn đứng, chái bếp lợp lá bị gió tốc một khoảng. Bố mở cửa cho gió lùa vào, kê lại chiếc tủ gỗ rồi bảo chiều sẽ đón mẹ và Yến xuống. Sơn lấy chổi quét bùn ở thềm, hết một xô nước bẩn lại đổ thêm xô khác. Cậu vừa quét vừa nhớ chiếc bát đựng ốc của chú Bảy. Chắc khi dọn nhà, chú sẽ còn phải tìm nhiều thứ như thế.
Đến chiều, mẹ Dung đưa Yến trở về. Con bé vừa bước tới cổng đã kêu lên khi thấy đôi dép của mình nằm lẫn trong đống lá mục. Nó nhặt lên, xách bằng hai ngón tay, chạy đi khoe mẹ. Mẹ bảo đem rửa sạch rồi phơi nắng, còn Sơn được sai mang chiếu ra hiên giũ. Căn nhà dần có tiếng bát chạm nhau, tiếng nước dội xuống sân, tiếng Yến hỏi hết thứ này đến thứ khác. Bố ngồi bên bậc cửa, nhìn mảng mái chái bếp bị tốc, tính xem sáng mai phải kiếm bao nhiêu lá để lợp lại.
Sáng hôm sau, bố Toàn đi từ sớm. Ông bảo Sơn mang đôi dép cũ, xuống giúp mọi người che lại mái nhà Thơ trước. Nhà Thơ ở gần suối, nước đã làm sạt một góc vách; hai đứa em còn nhỏ, cả nhà phải ở tạm bên nhà hàng xóm mấy đêm liền.
Ở đầu xóm, mấy người đàn ông đang buộc tre thành bó. Bác Tư mang rựa, bác Kiên vác một cây đòn dài, chú Thoảng đeo cuộn dây thừng. Người góp tre, người góp phên, người đem mấy tấm lá cọ còn lành từ kho củi. Bà Hợi ngồi bên hiên, tước lạt, xếp từng bó gọn vào cái rổ tre. Bà thấy Sơn thì gọi lại, dúi cho cậu một đoạn dây vừa cuốn tròn.
“Mang xuống cho bố cháu. Nhớ bước trên lối đất cao, bùn bên suối còn sâu lắm.”
Sơn cầm dây chạy theo đoàn người. Nhà Thơ nằm cuối xóm, mái bị cuốn mất gần nửa, vách phía sau nghiêng ra ngoài. Bố Thơ đứng trước sân, tay cầm cuốc, còn Thơ đang xếp những thanh củi ướt thành đống. Đứa em nhỡ ngồi trên cái chõng kê tạm, ôm đứa út vào lòng, hai đứa nhìn những người lớn kéo tới mà mắt tròn xoe.
Bác Tư đặt bó tre xuống, vỗ vai bố Thơ:
“Ông đứng ngắm nữa thì đến tối vẫn phải ngủ nhờ. Lại đây phụ chúng tôi dựng cột.”
Bố Thơ cười gượng, đặt cuốc sang một bên rồi xắn tay áo. Mấy người đàn ông chia việc ngay. Hai bác cắt lại đầu những cây tre còn dùng được, nhóm khác chằng khung mái và đóng thêm cọc chống. Người khỏe ra chỗ đất cao lấy lá cọ, người ở lại nhặt phên nứa còn lành. Sơn với Thơ được giao chuyển những bó lạt, những tấm phên nhỏ và gom rơm khô đem về chỗ lợp mái.
Hai đứa đi cạnh nhau trên lối bùn, mỗi đứa ôm một bó rơm.
“Mi mệt chưa?” Sơn hỏi.
“Có chút. Sáng ni tau ăn mỗi củ khoai.”
“Trưa mẹ tau mang cơm xuống. Ráng thêm một chuyến nữa.”
Thơ gật đầu. Nó bước nhanh hơn, tới chân dốc thì ngoái lại giục Sơn đi kịp. Đôi dép nhựa của Sơn lún sâu xuống đất, suýt tuột lần nữa. Thơ phải đặt bó rơm xuống kéo giúp, miệng cười:
“Mi xuống phố rồi chắc nhớ cái bùn ni lắm.”
Sơn kéo lại quai dép, đáp:
“Nhớ thì tau về.”
Thơ cúi xuống nhấc bó rơm. Hai đứa tiếp tục đi, tiếng dép lép nhép trên đất ướt.
Đến trưa, mái đã lợp được hơn nửa. Mẹ Dung cùng mấy người phụ nữ mang cơm độn ngô, rau luộc và một nồi canh nóng tới. Người làm ngồi dọc bậc đá, rửa tay qua loa rồi bưng bát ăn. Bà Hợi mang thêm mấy củ khoai luộc, đặt cạnh mâm cho bọn trẻ. Thơ đang ăn dở đã đứng lên chạy lại chỗ hai em, bẻ một củ khoai đưa cho đứa nhỡ, rồi bóc phần còn lại cho thằng út.
Sơn nhìn bố đang ngồi cùng bố Thơ phía bên kia sân. Hai người vừa ăn vừa chỉ lên một chỗ mái còn hở, bàn xem chiều nay nên chằng thêm thanh nứa nào. Cách đó, bác Tư vẫn tranh thủ vót cọc. Mỗi người một việc, đến mức cả bữa cơm cũng có tiếng dao, tiếng gõ tre xen vào.
Chiều xuống, mái nhà Thơ được che kín. Những tấm lá cọ mới còn xanh chen cùng lớp lá cũ sẫm màu. Vách sau đã có thêm hai cây chống, nền đất được đào rãnh để nước lần sau chảy ra vườn. Mấy người đàn ông đứng lùi lại nhìn, bác Tư đưa tay đẩy thử một cây cột, gật gù bảo đủ chắc để qua mùa mưa, khi khô ráo sẽ sửa kỹ hơn.
Bố Thơ chắp hai tay cảm ơn. Bác Kiên khoát tay:
“Mai còn xuống nhà chú Bảy Lâm. Ông khỏe thì sang phụ một tay, coi như trả công cho chúng tôi.”
“Có mặt từ sớm,” bố Thơ đáp.
Mọi người bật cười. Thơ đứng sát cửa, tay ôm đứa em út, nhìn những chiếc lá cọ rung nhẹ trên mái. Sơn đến bên, huých vai bạn một cái.
“Đêm ni ngủ nhà được rồi.”
“Ừ. Mai tau lại đi giúp nhà chú Bảy.”
“Tau cũng đi.”
Tối ấy, nhà Sơn ăn cơm muộn. Bố Toàn mỏi vai vì cả ngày buộc tre, ăn xong ngồi tựa lưng vào cột hiên. Mẹ Dung xoa ít dầu vào chỗ vai đau cho bố, còn Yến cứ bắt anh kể chuyện dựng mái. Sơn kể vụ chiếc dép mắc trong bùn, kể Thơ kéo mạnh quá làm cậu ngồi phịch xuống đất. Yến cười đến nghiêng người, bắt anh diễn lại một lần nữa.
Bố nghe, bật cười theo. Một lát sau ông nói:
“Mai nhà chú Bảy còn nhiều việc. Con giúp được chừng nào thì giúp, nhớ nghe lời người lớn.”
Sơn gật đầu. Cậu nhìn những vết bùn khô còn bám trên cổ tay, tự dưng thấy vui vì sáng mai lại có việc để làm.
Những ngày sau đó, người làng thay nhau dọn bùn và dựng lại chỗ ở cho những nhà bị hư hại nặng. Chú Bảy Lâm cùng mấy bác dựng lại khung vách trước, lấy bạt che mưa chờ thêm rơm lợp mái. Bố Toàn tranh thủ lúc nghỉ việc cơ quan sang phụ đóng cọc. Sơn đi theo khi được phép, khiêng tre nhỏ, nhặt đinh và gom dây thừa. Mỗi chiều về, bố lại ngồi tính những khoản phải chi trước ngày chuyển xuống phố. Chiếc cặp giấy tờ vẫn đặt trên mặt tủ, bên cạnh đống quần áo mẹ đang xếp dở.
Một buổi sáng, Sơn thấy mẹ Dung mở bao gạo trong buồng. Gạo còn chừng nửa bao, miệng buộc bằng dây lạt, kê cao trên hai thanh gỗ để tránh ẩm. Trên nắp chum sành đặt cái lon sữa bò mép đã móp, thứ mẹ vẫn dùng đong gạo mỗi bữa. Mẹ múc một lon, gạt ngang, rồi ngồi xuống tính nhẩm. Trên gác bếp chỉ còn ít ngô khô, ngoài sân mấy luống rau sau lũ đang bắt đầu hồi lại.
Bà Hợi đến khi mẹ còn ngồi bên bao gạo. Bà chống gậy đứng ngoài cửa, giọng khàn đi vì mấy ngày chạy ngược chạy xuôi:
“Dung ơi, nhà con Thập ở xóm trên mất cả sân phơi. Gạo vừa phơi bị nước cuốn hết. Hôm qua vợ chồng nó sang hỏi bà còn được lon nào cho vay trước bữa.”
Mẹ Dung mời bà ngồi, rót chén nước rồi quay vào buồng. Sơn bước theo. Mẹ cầm lon sữa bò, xúc từng lon gạo vào túi vải. Lon thứ nhất, lon thứ hai. Sang lon thứ ba, mẹ dừng lại, nhìn xuống miệng bao. Sơn biết cuối tuần sau bố mới lĩnh lương, còn cả nhà vẫn phải ăn trong những ngày chờ chuyển đi.
Mẹ xúc thêm lon thứ tư, buộc túi lại.
“Sơn, con lấy cho mẹ sợi lạt ở chỗ bếp.”
Cậu chạy đi lấy rồi đưa mẹ. Bàn tay mẹ giữ miệng túi gạo, buộc nút rất chặt. Lúc bước ra đưa túi cho bà Hợi, mẹ chỉ dặn:
“Bà mang sang giúp con. Nhà con còn ngô để độn, để các cháu bên ấy có cơm ăn mấy bữa.”
Bà Hợi đỡ túi, nhìn mẹ Dung rồi nhìn vào buồng trong:
“Nhà con cũng còn bao việc.”
“Vâng. Qua đợt này rồi tính tiếp bà ạ.”
Bà gật đầu, cắp túi gạo đi về phía xóm trên. Sơn đứng ở thềm nhìn theo đến khi bóng bà khuất sau hàng chuối. Mẹ quay vào, đậy nắp chum, kéo bao gạo sát chân tường rồi phủ tấm vải sạch lên trên.
Buổi trưa, mẹ lại đong một phần gạo nhỏ, trộn thêm chút nếp còn để trong hũ, gói vào túi khác. Sơn vừa trông thấy đã biết mẹ tính mang sang nhà Thơ. Cậu hỏi:
“Để con mang cho Thơ nhé mẹ?”
Mẹ gật đầu.
“Ừ. Hai đứa em nó còn nhỏ. Con gửi rồi về ăn cơm. Chiều bố còn nhờ con ra nhặt tre.”
Sơn cầm túi gạo đi xuống cuối xóm. Trời đã nắng mấy hôm, mặt đường se lại nhưng dưới chân vẫn có những khoảng bùn nhão. Qua nhà bà Hợi, cậu thấy mấy chiếc chiếu được phơi trên hàng rào, cạnh đó là một đống củi gãy người làng vớt về. Đến ngã rẽ, Sơn nhìn về phía nhà chú Bảy Lâm. Bộ khung mới đang đứng lên trên nền đất cũ, tấm bạt xanh che tạm một nửa mái. Cậu đứng nhìn một lát rồi tiếp tục tới nhà Thơ.
Thơ đang ngồi trên chõng tre vá chiếc cặp sách rách quai. Đứa em nhỡ xếp đá cuội thành hàng dưới sân, còn thằng út bám chân chõng, nhìn anh khâu từng mũi. Sau mấy ngày được dọn dẹp, sân đã quét sạch bùn, những tấm vách mới còn sáng màu dưới nắng.
“Thơ,” Sơn gọi.
Thơ ngẩng lên, cười rồi đặt chiếc cặp xuống.
“Vô đây. Bữa ni mi được nghỉ phụ dựng nhà à?”
“Mẹ sai tao mang cái này sang.”
Sơn đặt túi gạo lên chõng. Thơ nhìn túi vải, chậm rãi kéo lại gần, rồi ngước lên:
“Gạo à?”
“Ừ. Có cả chút nếp. Mẹ tao bảo nấu cháo cho mấy đứa nhỏ.”
Thơ mân mê nút buộc, đẩy túi về phía bạn.
“Nhà mi cũng đang thiếu. Mấy bữa ni cả xóm giúp nhà tau nhiều rồi.”
“Mẹ tao gói riêng phần này.”
“Tau biết. Nhưng nhận hoài, tau ngại.”
Sơn ngồi xuống mép chõng. Cậu nhìn sang hai đứa nhỏ đang chơi ngoài sân. Thằng út trông thấy túi gạo thì chạy lại hỏi anh hôm nay có được ăn cơm trắng không. Thơ vuốt tóc em, bảo chờ bố về rồi nấu.
“Mi cứ để phần cho em,” Sơn nói. “Khi nào có ngô thì mang sang trả mẹ tao một ít cũng được.”
Thơ nhìn bạn:
“Thiệt à?”
“Ừ. Mẹ tao bảo cả xóm cùng giúp nhau mà.”
Thơ ngồi lặng, ngón tay vẫn giữ đầu dây buộc túi. Rồi nó kéo gói gạo vào trong, đặt cạnh chiếc cặp sách. Sơn thấy vậy liền đứng dậy, phủi bùn ở ống quần.
“Tao về đây. Chiều còn ra phụ bố.”
Sơn đi tới cổng thì nghe Thơ gọi. Cậu quay lại. Thơ đang đứng ở thềm, tay vẫn nắm miệng túi gạo.
“Bữa mô mi qua, tau luộc khoai cho. Củ ngon nhất tau để phần mi.”
Sơn bật cười.
“Nhớ đấy.”
Cậu đi lên con dốc đất đỏ. Nắng chiều hong dần những vệt bùn trên đường, mỗi bước chân để lại một dấu dép nhạt màu. Qua đầu xóm, Sơn nghe tiếng người đóng cọc ở nhà chú Bảy Lâm, nghe tiếng bác Tư gọi xin thêm một sợi dây lạt. Cậu ghé vào, đặt chiếc cặp xuống bậc đá rồi chạy lại phụ chuyền tre.
Ở cuối xóm, mái nhà Thơ đã đứng vững trong nắng. Còn trên nền đất nhà chú Bảy, những thanh nứa mới đang lần lượt được buộc vào khung cột. Công việc vẫn còn nhiều, Sơn chỉ cần đưa từng bó lạt đúng lúc người lớn gọi. Cậu cúi xuống nhặt một đoạn dây rơi trong bùn, lau qua rồi chuyền lên cho bố.