Hàng nghìn năm trước, khi nhẫn Elden còn nguyên, một người thợ đá bị giữ lại trước cánh cổng chính tay mình đã xây.
Người lính gác yêu cầu anh ngẩng mặt lên. Mới hôm qua người ấy còn nhờ anh sửa lại cái bậc cửa để mẹ mình khỏi vấp. Bây giờ anh phải đứng yên dưới bàn tay che nắng trước trán, nghe tiếng đục vẫn đều đều trên giàn giáo phía sau cổng.
“Nhìn sang bên này. Đừng nhìn ngọn đèn.”
Anh làm theo. Người lính kéo anh vào dưới mái vòm và đưa chiếc khiên đã đánh bóng lên trước mặt. Trên đồng hiện ra một gương mặt méo dài, tóc dính bụi trắng và đôi mắt nâu quá đỗi bình thường.
Anh nghiêng đầu tìm vệt vàng.
Từ nhỏ, nó đã nằm sâu trong mắt anh, mảnh như một đường lửa bao quanh con ngươi. Những ngày ốm nằm trong phòng tối vẫn có thể thấy được nó. Anh từng tưởng tất cả mọi người đều như vậy, cho tới lần đầu gặp đoàn người bị áp giải xuống bến biển.
“Có khi do ánh sáng thôi. Đưa cao lên chút nữa… Phải, chỗ ấy.”
Chiếc khiên được nâng lên. Mắt anh vẫn không đổi.
Ngoài mái vòm, tán cây Erdtree trải vàng khắp bầu trời. Các tháp chuông trước thân cây chỉ giống những chiếc đinh cắm dọc đường chân trời. Ánh sáng phủ lên mái nhà và đọng trong mắt người lính gác. Kể cả lúc người ấy bước hẳn vào bóng râm, vệt vàng vẫn còn.
“Ân Sủng đã rời ngươi.” Người lính hạ khiên. “Ta phải ghi tên.”
Nước từ máng rơi xuống chân người thợ. Anh đã định chèn lại chỗ rò sau khi làm xong vòm cổng. Đứa học việc còn đang gõ đục bên ấy, chưa biết anh đứng ngay dưới mình.
“Thì cứ ghi. Nhưng cho ta làm hết cái vòm đã, nó chưa chịu lực được đâu. Thằng bé mới học còn chưa biết tháo chống.”
“Ngươi không được vào nữa.”
Qua vai người lính là hình nhẫn Elden chạm trên mặt cổng. Người thợ đã mất nhiều ngày sửa những vòng phù văn giao nhau để khi nắng đổi hướng, bóng không làm một đường trông như bị đứt.
Hình khắc chỉ mô phỏng thứ được phụng thờ ở kinh đô: nhẫn Elden, những phù văn quyền năng gắn với nhau thành trật tự chi phối Vùng Đất Trung Gian. Sự sống được ban phúc, đường đi của cái chết, chỗ đứng của mỗi sinh linh đều nằm trong trật tự ấy. Từ bé anh đã nghe người ta gọi nó là Trật Tự Hoàng Kim. Anh không biết ai đã đặt mình ra ngoài từ đêm qua.
Người ghi sổ được gọi tới. Ông hỏi tên, nơi ở và có bao nhiêu người sống cùng. Đến câu cuối người thợ mới thôi nhìn lên vòm cổng.
“Ta sống một mình. Nhà ở cuối đường có lò bánh, cửa xanh. Nếu cần tìm thì…”
Ông đã viết xong trước khi anh nói hết. Bên cạnh tên anh là một chữ được đóng cùng dấu với những hàng phía trên.
Tarnished.
Anh nhìn xuống quần áo mình. Chiếc áo vẫn là chiếc áo hôm qua; vết bỏng trên cổ tay vẫn đang lên da non. Chỉ thứ ánh sáng anh chưa từng phải xin mới biến mất, và thế là anh phải rời quê hương cùng những người không còn được Ân Sủng thừa nhận.
Tới xế chiều, đoàn người được đưa xuống bến. Người thợ chỉ kịp về lấy áo ấm và một cái bát. Túi dụng cụ còn trên giàn giáo; tới bậc cuối cùng anh vẫn đưa tay sờ bên hông dù biết nó chưa được trả lại.
Người lính gác đuổi kịp anh ngay trước cầu ván. Một chiếc đục được luồn qua khe giữa hai tấm khiên.
“Ta không tìm thấy cái túi. Thằng bé bảo ngươi dùng cái này nhiều nhất nên…”
Anh nhận lấy. Đầu cán gỗ có vết răng của chính mình từ lần phải ngậm nó để trèo giàn. Anh miết ngón tay lên đó rồi quấn chiếc đục vào áo.
“Bảo nó đừng tháo cây chống giữa. Còn phải chờ vữa khô thêm hai ngày.”
Người lính gật đầu, nhưng chưa quay về. Đến khi người phía sau giục bước, người thợ mới đi xuống thuyền. Trên mặt nước tối dần, ánh Erdtree vẫn kéo một dải vàng tới tận mạn gỗ. Anh cúi thử nhìn bóng mình trong đó trước khi con thuyền tách bến.
*
Hơn một trăm năm trước thời Jack, những con thuyền đã đưa người lưu đày trở lại qua biển sương mù. Nhẫn Elden khi ấy đã vỡ.
Người đàn bà nghe tin ấy trên một con thuyền đầy nước. Những người cùng bến kể các bán thần đã giành lấy những mảnh vỡ rồi đem quân đánh nhau. Một người hứa về đưa cả gia đình sang chỉ mang lại được chiếc áo của con. Chẳng ai hỏi ông có tìm được nhà không nữa.
Bọc lúa mì bà mua trước lúc xuống thuyền chỉ còn một nắm dưới đáy túi. Những hạt khác đã được nhai sống trên đường qua các cánh đồng không ai gặt. Bà vẫn mang theo chiếc liềm cùn dù chưa một lần tháo nó khỏi lưng.
Một vệt Ân Sủng từng dẫn bà tới đường lớn, nơi người ta dựng bảng gọi Tarnished đi tìm Đại Ấn. Ai khôi phục được nhẫn Elden sẽ có đường tới ngôi vị Chúa tể Elden. Bà nhìn những người đang tranh nhau ghi tên rồi rẽ khỏi hàng. Bầu nước đã cạn mà chẳng ai chịu chỉ cho bà chỗ lấy.
Tới rìa Limgrave, bà nhìn thấy một tán cây sáng bạc giữa vùng đất sẫm.
Ban đầu bà nghĩ là sương đọng trên cành. Nhưng đi hết sườn dốc, ánh sáng vẫn không tan. Từ những nhánh lớn cong ra hai bên, vô số lá nhỏ phủ xuống gần đất thành một vòm rộng. Gió ngoài đồng đủ mạnh để giật chiếc túi khỏi vai bà, còn dưới tán chỉ có cỏ lay nhẹ. Bà nhìn rất lâu chỗ hai luồng gió gặp nhau trước khi bước tới.
Tiếng rít quanh tai ngừng ngay khi bà qua ranh giới. Bà phải lùi lại một bước rồi tiến vào lần nữa mới tin mình không vừa điếc đi. Mùi đất ẩm thay cho bụi khét đã bám trong hơi thở suốt quãng đường.
Có người đang đào một rãnh nước dưới gốc cây. Lưỡi kiếm cắm trong đất thay cho chiếc thuổng; chủ nó quỳ cạnh rãnh, cố vớt những mẩu vỏ cây ra khỏi dòng nước đục.
“Nước ấy uống được à?”
“Lấy ở trên kia thì được. Chờ chút, đừng múc chỗ ta vừa đạp xuống.” Ông đứng lên và phải vịn cây kiếm vì chân tê. “Cái bát cạnh hòn đá ấy, nếu bà không ngại dùng chung. Ta chưa tìm ra thứ gì sạch hơn để đựng.”
Bà uống chậm lúc đầu. Nước không có mùi sắt. Tới ngụm thứ ba, bà không còn giữ được tay khỏi run nên phải ngồi xuống ngay bên dòng nhỏ. Người đàn ông đợi bà uống xong mới kéo cái bát về rửa đất ở miệng.
Phía xa có tiếng ai gọi xin thêm dây. Bà nhìn thấy mấy tấm áo choàng được căng giữa các cành thấp, bên dưới là những bọc đồ và một đôi giày phơi ngược. Không có cờ treo trên cây.
“Các ông ở đây bao lâu rồi?”
“Ta mới tới được mấy ngày. Có người lâu hơn, nhưng chẳng ai nhận đã trồng cái cây cả.” Ông bật cười khi thấy bà nhìn những nhát kiếm trong rãnh đất. “Ta định vét cho nước chảy thẳng. Cứ tưởng dễ lắm, ai ngờ nó toàn chảy qua chỗ ta nằm.”
Bà đưa tay miết vỏ cây. Bên dưới lớp vỏ mới còn những hốc đen khô mục, sâu tới mức lọt cả bàn tay. Một bộ rễ đã nứt làm hai, nhưng chồi non vẫn mọc dọc mép nứt và rễ nhỏ đang tìm đường bám trở lại xuống đất.
Giữa những thớ gỗ có một nét sáng cong lộ ra dưới lớp đất vừa bị nước cuốn. Bà cúi xuống, tưởng mình nhặt được một miếng kim loại. Khi kéo nhánh rễ chắn trước nó, bà thấy ánh bạc trên cỏ gần tay khẽ run.
“Khoan đã.” Người đàn ông giữ rễ lại. “Đừng bới chỗ ấy. Ta thấy nó từ hôm đầu rồi, nhưng đào tới đâu thì lá phía trên rũ xuống tới đó.”
Bà buông tay. Nét sáng chìm dưới làn nước mỏng, vẫn hiện rõ dù chẳng có mặt kim loại nào phản lại bóng bà.
“Một Đại Ấn,” ông nói. “Mảnh của nhẫn Elden đấy. Ta đã chép hình các phù văn ấy trên khiên bao nhiêu năm, thấy một đoạn cũng còn nhận được. Nhưng cái này làm được gì thì… bà nhìn quanh đi, ta chỉ biết trước khi vào đây mình đã tính nằm lại ngoài dốc.”
Bà ngước lên theo thân cây. Mỗi tầng lá lại mở ra xa hơn tầm bà vừa nhìn tới. Chỉ một mảnh vỡ của nhẫn Elden đã đủ cho rễ khô uống nước và cỏ mọc qua lớp đất chết.
“Ngoài đường họ trả thưởng cho người mang những mảnh ấy về.”
Người đàn ông cúi đặt nhánh rễ vào chỗ cũ. Ông chưa đáp. Qua khoảng hở giữa hai cành, bà thấy ngọn cỏ bên ngoài vòm bị gió ép rạp xuống đất trong khi những giọt nước trên tay mình vẫn nằm yên.
“Nếu nhấc nó lên,” bà nói tiếp, “chỗ này có còn được như vậy không?”
“Ta không biết. Bà muốn thử thì ít nhất chờ những người kia ra khỏi đây đã.”
Bà nhìn ông. Ông vẫn quỳ bên rễ với cái bát úp trong lòng bàn tay, chờ câu trả lời. Bà đành tháo túi khỏi vai và đặt xuống chỗ đất khô.
“Tôi chỉ hỏi thôi. Cho tôi ở lại đêm nay được không? Còn nước của các ông, tôi có thể đi lấy củi đổi, nếu ở đây có…”
“Đừng đổi nước.” Ông nhường chỗ bên rãnh. “Bà cứ uống đi. Củi thì lát nữa ai còn sức cũng phải nhặt, trời tối tới nơi rồi.”
Tối ấy bà giúp kéo một tấm vải lên khỏi chỗ nằm của người bị thương. Cọc chống cứ trượt trong đất mềm nên hai người phải đào lại ba lần, vừa làm vừa nghe ông ta phàn nàn mái đã thấp mà họ còn kéo thấp thêm. Khi tấm vải đứng được, người đàn bà lùi ra ngắm. Bà chợt muốn sáng mai sửa phía cửa cho cao hơn một chút.
Ý nghĩ ấy theo bà tới bên bếp lửa. Trong lúc một người đếm các chiếc bát, bà mở túi lấy nắm lúa mì cuối cùng. Có thể đổ cả vào nồi; nước nóng sẽ làm chúng nở ra, ăn đỡ đau răng hơn những ngày qua.
Bà giữ lại một phần trong lòng tay.
Một người định nhích nồi tới gần, tưởng bà chưa với được. Bà lắc đầu và gói số hạt ấy vào góc vải còn khô.
“Để sáng tôi thử gieo. Chỗ gần rãnh nước ấy… các ông chưa định dựng gì ở đó chứ?”
Họ bàn thêm về chỗ dựng mái cho tới khi cháo khê dưới đáy. Người đàn bà ăn phần được chia, thỉnh thoảng sờ góc túi để chắc những hạt giống chưa lọt qua lỗ thủng. Phía trên bà, một nhánh bạc thấp đến mức chỉ cần đứng dậy là chạm được.
Về sau, người ta gọi chỗ ấy là Aethel.