Mười ngày.
Mười ngày kể từ đêm Kael rời Minh Dạ mang theo một cái tên, một địa chỉ gấp cẩn thận trong túi hồ sơ trơn không huy hiệu, và một chiếc ấn đồng đen khắc hình mặt trăng khuyết áp lên lòng bàn tay như một lời thề câm lặng. Mười ngày, và không một dòng tin nào trở về.
Vares ngồi sau chiếc bàn gỗ sồi cũ trong căn phòng đá đen không cửa sổ, hai ngọn đèn dầu hắt thứ ánh sáng vàng đục quen thuộc lên những nếp nhăn trên mặt ông, không phải nếp nhăn của tuổi già, mà của hai mươi năm giữ một biểu cảm không đổi trước những cuộc mặc cả mà một sơ hở nhỏ cũng có thể mất mạng. Trước mặt ông là một cuốn sổ da mỏng, gáy đã sờn, bên trong ghi lại từng nhiệm vụ ông từng giao cho từng người trong Hắc Nguyệt Môn suốt hơn hai thập kỷ làm Môn chủ, ngày giao việc, ngày dự kiến hoàn thành, ngày báo cáo thực tế. Với Kael, cột cuối cùng ấy chưa từng để trống quá bốn ngày trong suốt mười năm.
Ông lật lại trang ghi nhiệm vụ đêm hôm ấy, nhìn chằm chằm vào khoảng trống bên dưới dòng chữ Lời Thì Thầm Của Đông, Vô danh, Cần biến mất trước khai mạc. Khoảng trống ấy, giờ đã kéo dài gấp hai lần rưỡi bất kỳ khoảng trống nào khác từng xuất hiện trong cuốn sổ.
Có ba khả năng, và Vares đã xoay đi xoay lại cả ba trong đầu đủ lâu để biết mình ghét cả ba như nhau. Một: Kael đã chết, bị chính mục tiêu hạ, điều gần như không thể, nhưng không phải không thể, vì ông chưa từng cho Kael một đối thủ nào thật sự nguy hiểm để đo lường giới hạn của anh. Hai: Kael đã hoàn thành nhiệm vụ nhưng cố tình không báo cáo, một hành vi chưa từng có tiền lệ, và vì thế đáng sợ hơn cả cái chết, vì nó có nghĩa là mười năm huấn luyện tuyệt đối trung thành đã có một vết nứt Vares chưa từng nhìn thấy. Ba, và đây là khả năng khiến quai hàm ông siết lại mỗi lần nghĩ tới, Kael đã đọc quá sâu vào những gì lẽ ra không nên đọc, và giờ đang ở đâu đó ngoài kia, mang theo một mảnh sự thật có thể lần ngược về chính căn phòng này.
Vares gấp cuốn sổ lại, gọi kẻ hầu cận đứng chờ ngoài cửa.
"Cho gọi Sable. Và Nyx."
Họ tới cách nhau đúng một khắc, như thể đã hẹn nhau ở hành lang trước khi bước vào, dù kỳ thực cả hai đều bị triệu tập riêng rẽ, không biết người kia cũng được gọi cho tới khi cùng đứng trước cánh cửa gỗ sồi nhỏ ấy.
Sable bước vào trước, tà áo gỗ sồi tối màu thêu chỉ đỏ-đen kiểu bàn cờ khẽ sột soạt theo từng bước, con rối nhỏ làm bùa hộ mệnh nơi thắt lưng lắc lư theo nhịp đi quen thuộc đến mức bà không còn để ý tới nó nữa. Ngón tay bà, như mọi khi, vẫn còn vương một vệt phấn gỗ mờ, bà vừa rời xưởng, nơi bà đang khắc dở một con rối mới, việc duy nhất giữ cho tay bà bận rộn đủ để không nghĩ tới mười ngày im lặng vừa qua.
Nyx theo sau, gần như không phát ra tiếng động nào trên nền đá, bộ trang phục đá đen-đá vỏ chai ánh tím của cô hòa gần như trọn vẹn vào bóng tối hành lang phía sau, tới mức có một thoáng Sable ngờ mình đang bước vào một mình cho tới khi liếc lại và thấy đôi mắt hai màu ấy đã ở ngay sau vai bà.
"Ngồi," Vares nói, đúng một từ, đúng giọng điệu ông vẫn dùng cho mọi cuộc gặp trong căn phòng này.
Không ai ngồi. Cả hai đều biết, dù không ai từng nói thành lời, rằng khi Vares triệu tập cùng lúc hai người vào căn phòng này, đứng luôn là lựa chọn an toàn hơn.
Vares không tỏ ra khó chịu vì điều đó. Ông đẩy cuốn sổ da sang một bên, hai tay đan vào nhau trên mặt bàn, và nhìn thẳng vào cả hai, không phải ánh mắt sắc như dao, mà thứ bình thản kỳ lạ của một người đã học cách nhìn máu như một khoản chi phí trong sổ sách.
"Mười ngày trước," ông nói, "ta giao cho Kael một nhiệm vụ đơn lẻ, cô lập hoàn toàn khỏi cả hai người. Một Vực Chủ vô danh, cần biến mất trước khi Đại Tranh Kế Vực khai mạc. Nhiệm vụ ấy, theo mọi tiêu chuẩn ta từng đặt ra cho nó trong mười năm, lẽ ra phải kết thúc trong vòng bốn ngày."
Một khoảng dừng, đủ dài để cả căn phòng chỉ còn tiếng lách tách khe khẽ của hai ngọn đèn dầu.
"Không có báo cáo. Không có dấu vết. Không một ai trong mạng lưới của ta, từ bến cảng tới vùng giáp ranh phía bắc, từng trông thấy hắn kể từ đêm hôm đó."
Sable cảm nhận được câu nói ấy lún sâu vào ngực mình như một mũi dao rất mỏng, đủ mỏng để không gây ra vết thương ngay lập tức, chỉ để lại một cơn đau âm ỉ chờ được nhận ra sau đó. Bà đã tự hỏi câu hỏi này trong chín ngày qua, mỗi đêm trước khi ngủ, mỗi lần tay bà lướt qua con rối nhỏ nơi thắt lưng, nó còn sống không? Nó đã làm gì ngoài kia mà im lặng lâu đến vậy?
Nhưng gương mặt bà, khi Vares nói xong, không hề đổi. Đó là kỹ năng đầu tiên bà học được ở Hắc Nguyệt Môn, sớm hơn cả kỹ năng điều khiển những con rối gỗ, cách giữ một biểu cảm không đổi trong khi bên dưới, mọi thứ đang sụp xuống. Bà đã dạy chính kỹ năng ấy cho Kael, năm nó mười hai tuổi, bằng những con rối gỗ diễn lại từng cảm xúc nó đã đánh mất trong đêm xưởng rèn cháy, không ngờ có ngày bà phải quay lại dùng chính bài học ấy để giấu nỗi sợ của mình trước mặt người đã dạy bà cách giấu nó.
"Có thể hắn gặp kháng cự mạnh hơn dự tính," bà nói, giọng phẳng lặng đúng mức cần thiết, không quá bình thản để trông như đang cố tỏ ra bình thản, không quá lo lắng để trông như đang che giấu điều gì. "Mục tiêu là một Vực Chủ, dù vô danh. Có Vực nghĩa là có khả năng."
"Ta đã nghĩ tới điều đó," Vares đáp. "Và ta đã gạt nó đi, vì hồ sơ ta có về mục tiêu này không đủ để giải thích mười ngày im lặng cho một sát thủ có kinh nghiệm như Kael. Trừ khi mục tiêu ấy không đơn giản như hồ sơ thể hiện. Hoặc trừ khi chính Kael, vì một lý do nào đó, đã chọn không hoàn thành nhiệm vụ."
Ông để câu nói ấy treo lơ lửng trong không khí đủ lâu để cả Sable lẫn Nyx đều hiểu ông đang chờ xem ai phản ứng trước.
Nyx không nói gì.
Cô đứng gần cửa hơn, một thói quen cũ từ những năm huấn luyện phân thân, luôn giữ một lối thoát trong tầm mắt, dù chính cô cũng không chắc mình đang chuẩn bị thoát khỏi điều gì. Đôi mắt hai màu của cô lướt một vòng quanh căn phòng, như cô vẫn làm mỗi lần bước vào không gian này, và dừng lại đúng một nhịp thở lâu hơn cần thiết ở góc kệ thấp bên trái bàn Vares, nơi treo, giữa vài cuộn hồ sơ cũ và một chiếc cân đồng nhỏ dùng để cân thuốc độc, một tấm thẻ gỗ mỏng khắc chân dung: mỗi thành viên chính thức của Hắc Nguyệt Môn, khi hoàn thành lễ nhập môn, đều được khắc lại gương mặt mình lên một tấm thẻ như vậy, giữ trong hồ sơ riêng của Môn chủ như một cách để ông luôn nhớ chính xác mình đang nắm giữ mạng sống của bao nhiêu người, và những gương mặt ấy trông ra sao trước khi bóng tối và nhiệm vụ định hình lại chúng.
Tấm thẻ của Kael đã cũ, khắc từ năm anh mười lăm tuổi, gương mặt trên gỗ vẫn còn nét tròn trịa chưa hoàn toàn mất đi của một thiếu niên, đôi mắt xám tro chưa học được cách không đổi biểu cảm. Không giống gương mặt Nyx vẫn thấy mỗi ngày trong hành lang Môn suốt mười năm qua.
Cô nhìn nó đúng một nhịp thở lâu hơn cần thiết, rồi ánh mắt cô lại phẳng lặng như chưa từng dừng ở đâu cả.
Nếu Vares để ý, ông không nói gì về điều đó. Nhưng ông không phải người duy nhất trong phòng biết quan sát những khoảng lặng.
"Dù là lý do gì," Vares nói, đứng dậy khỏi ghế lần đầu tiên kể từ khi hai người bước vào, "ta không thể để mười ngày trở thành hai mươi. Đại Tranh Kế Vực sắp khai mạc. Minh Dạ có bốn Vực Chủ đăng ký tranh tài dưới danh nghĩa của mình, các ngươi, Thrax, và Kael. Nếu Kael đã chết mà không ai xác nhận, hắn vẫn nằm trong danh sách, và một cái tên chết trên bảng đấu là thứ Hội Đồng sẽ dùng để đặt câu hỏi về năng lực kiểm soát nội bộ của Minh Dạ ngay trước mắt cả bảy Thành. Nếu hắn còn sống mà không báo cáo, đó là một vết nứt lòng trung thành ta không thể để tồn tại công khai một ngày nào lâu hơn cần thiết, không phải vì ta sợ một mình hắn, mà vì mọi kẻ khác trong Môn đang nhìn xem im lặng có được dung thứ hay không."
Ông bước vòng qua bàn, dừng lại trước mặt Sable, gần hơn cần thiết cho một mệnh lệnh thông thường.
"Ngươi tìm thấy nó ngoài đống tro tàn xưởng rèn năm nó mười hai tuổi. Ngươi nuôi nó lớn. Ngươi dạy nó mọi thứ nó biết, trước cả khi Thrax dạy nó cách g-iết người mà không để lại dấu vết." Giọng ông không hề nâng lên, nhưng mỗi từ đều được đặt xuống chính xác như một quân cờ. "Nếu có ai trong Môn này đủ tư cách xác nhận liệu Kael còn trung thành hay đã phản bội, đó là ngươi. Và nếu có ai đủ tư cách để là người kết thúc chuyện này một cách sạch sẽ nhất có thể, cũng là ngươi."
Đó không phải một mệnh lệnh trần trụi. Đó là một phép thử, được gói trong lớp vỏ của một sự tin tưởng, và cả ba người trong phòng đều hiểu rõ điều đó, kể cả Vares, người đặt ra nó.
Bàn tay Sable, giấu sau lưng áo, siết chặt lại quanh con rối nhỏ nơi thắt lưng tới mức các khớp gỗ nhỏ xíu của nó kêu lên một tiếng lách cách khẽ khàng, gần như không nghe thấy được. Bà nhớ tới đêm bà tìm thấy Kael giữa đống tro tàn, một đứa trẻ câm lặng hơn cả những con rối gỗ trên tay bà, đôi mắt nhìn thẳng vào khoảng không như đã ngừng chờ đợi bất cứ điều gì tốt đẹp từ thế giới. Bà đã nghĩ, khi ấy, rằng mình đang cứu một đứa trẻ. Chỉ nhiều năm sau, khi tự nhìn lại, bà mới hiểu mình cũng đang cứu chính mình, tìm một sinh mệnh bà có thể dạy dỗ, chăm sóc, biến thành thứ gần nhất với một đứa con mà một con rối gỗ, dù được yêu thương tới đâu, không bao giờ có thể trở thành.
Và giờ, người đàn ông đã mua đứt gánh hát của gia đình bà, đã biến bà thành thứ bà đang là, đang đứng trước mặt bà, yêu cầu bà chọn giữa việc bảo vệ đứa con duy nhất bà từng có và việc giữ vững vị trí, có lẽ cả tính mạng, của chính mình trong Môn.
"Tôi hiểu," bà nói. Chỉ hai từ. Không hứa hẹn gì hơn, không từ chối gì cả, đủ mơ hồ để không ai có thể quy trách nhiệm cho bà vì bất cứ điều gì xảy ra sau đó, nhưng đủ dứt khoát để Vares không có lý do ngay lập tức để nghi ngờ.
Đó là lần đầu tiên trong hai mươi năm phục vụ Hắc Nguyệt Môn, Sable nói dối trước mặt Môn chủ mà không cần mở miệng nói một lời dối trá nào.
"Còn ngươi," Vares nói, quay sang Nyx, "sẽ đi cùng Sable. Không phải vì ta không tin bà ấy đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ một mình, mà vì nếu Kael thật sự đã phản bội, ta không thể chắc chắn liệu tình cảm nuôi dưỡng nhiều năm có làm chậm tay bà ấy đúng một nhịp cần thiết hay không. Ngươi không có ràng buộc ấy."
Nyx nghiêng đầu một chút, đúng góc độ trung lập bà vẫn dùng để nhận mọi mệnh lệnh, dù nội dung của nó là gì. "Ông muốn tôi giám sát bà Sable, hay giám sát Kael?"
"Ta muốn ngươi đảm bảo nhiệm vụ được hoàn thành," Vares đáp, không trả lời trực tiếp câu hỏi, điều mà cả hai người phụ nữ trong phòng đều nhận ra chính là câu trả lời thật.
"Nếu xác nhận được hắn còn sống, tình trạng của hắn thế nào mới đủ để coi là phản bội?" Nyx hỏi tiếp, giọng cô vẫn phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng, như thể đây chỉ là một câu hỏi kỹ thuật thông thường cần làm rõ trước khi lên đường, không ai trong phòng, kể cả Vares, đủ tinh ý để nhận ra bà đang cố kéo dài cuộc gặp thêm vài câu, cố nắm càng nhiều chi tiết càng tốt, trước khi tự mình phải quyết định phải làm gì với chúng.
"Nếu hắn vẫn đang cố hoàn thành nhiệm vụ, dù chậm trễ, hãy để hắn hoàn thành và trở về báo cáo trực tiếp với ta," Vares nói. "Nếu hắn đã bỏ mục tiêu, đã để lộ thân phận Môn, hoặc, tệ hơn cả, đang giúp mục tiêu chạy trốn, thì hắn không còn là người của Hắc Nguyệt Môn nữa, bất kể ai đã nuôi hắn lớn."
Khi cả hai rời khỏi căn phòng đá đen, Vares rút từ ngăn kéo ra chiếc ấn đồng đen khắc hình mặt trăng khuyết, không phải chiếc ông từng đưa Kael mười ngày trước, mà một chiếc khác, giữ riêng cho những mệnh lệnh cần được xác nhận là đến trực tiếp từ Môn chủ, không qua trung gian nào. Ông ấn nó xuống một tờ giấy trơn, để lại một vệt mực đen bóng hình lưỡi liềm nhỏ ở góc dưới, dấu hiệu cho bất kỳ ai trong Môn nhìn thấy tờ giấy này rằng mệnh lệnh trên đó không thể bị chất vấn, không thể bị trì hoãn, và không có chỗ cho sai sót.
Ông không biết, vì đây là phần duy nhất của toàn bộ sự việc mà ông thực sự không biết, dù đã đứng ở trung tâm của gần như mọi bí mật khác, rằng lệnh truy sát ông vừa ban ra không phải điểm khởi đầu của một cuộc thanh trừng nội bộ. Ông chỉ là một mắt xích bán tin trong một mạng lưới lớn hơn nhiều, một mạng lưới đã âm thầm định hình số phận của Kael từ trước khi cậu bé ấy đủ lớn để cầm dao găm, và giờ, không hề hay biết, chính ông đang buộc hai người phụ nữ trung thành nhất còn lại của mình phải lựa chọn đứng về phía nào của một sự thật ông chưa từng chạm tới toàn bộ.
Ngoài hành lang, dưới ánh đuốc mờ hắt lên những bức tường đá đen ẩm hơi sương từ bến cảng, Sable và Nyx bước đi cạnh nhau trong im lặng một quãng dài, đủ xa khỏi cánh cửa gỗ sồi để không còn ai có thể nghe thấy dù chỉ một tiếng thì thầm.
"Bà tin hắn còn sống," Nyx nói, không phải một câu hỏi.
Sable không trả lời ngay. Ngón tay bà lại tìm tới con rối nhỏ nơi thắt lưng, xoay nhẹ nó giữa các ngón tay theo một thói quen có từ khi bà còn là một đứa trẻ trong gánh hát rối lưu động, trước khi Hắc Nguyệt Môn "chiêu mộ", từ mà cả Môn vẫn dùng, dù cả bà lẫn mọi người khác đều biết đó chỉ là một cách gọi lịch sự hơn cho việc bị bán đi để trả một món nợ không bao giờ trả nổi.
"Tôi tin," bà nói cuối cùng, "rằng nếu nó đã chết, đây không phải cách nó chết. Nó không bao giờ để mình bị hạ bởi một mục tiêu vô danh mà không để lại ít nhất một dấu vết cho ta tìm thấy. Mười năm ta dạy nó, nó luôn để lại dấu vết, ngay cả khi nó không muốn ai tìm thấy, một phần trong nó vẫn luôn để lại một điều gì đó, như thể không thể chịu nổi ý nghĩ biến mất hoàn toàn không dấu tích, như chính cha mẹ nó đã từng."
"Vậy bà nghĩ nó đã chọn không quay về."
"Tôi nghĩ," Sable nói, chậm rãi, như đang tự thuyết phục chính mình trong lúc nói ra thành lời, "nó đã tìm thấy một điều gì đó khiến việc quay về trở thành lựa chọn tồi tệ hơn việc không quay về. Và tôi nghĩ, dù Vares không nói ra, ông ta cũng sợ đúng điều đó hơn cả việc nó đã chết."
Nyx không nói gì thêm trong một lúc lâu. Bàn tay cô, thứ hiếm khi để lộ bất cứ điều gì, khẽ siết lại quanh mép áo choàng của chính mình, không đủ để Sable nhận ra trong ánh đuốc lờ mờ, nhưng đủ để chính Nyx cảm nhận được nhịp tim mình đang nhanh hơn một chút so với mức bình thường cô vẫn cố giữ.
Họ chia tay ở ngã ba hành lang dẫn về hai khu nhà riêng, Sable rẽ về hướng xưởng rối, Nyx rẽ về hướng ngược lại, về căn phòng nhỏ gần như trống rỗng cô vẫn gọi là nơi ở của mình, không có gì trên tường, không có vật kỷ niệm nào, chỉ một tấm gương nhỏ cô hiếm khi soi vào, vì mỗi lần soi, cô lại phải tự hỏi phiên bản nào của mình đang nhìn lại.
Một mình, cô lấy ra một mảnh giấy nhỏ, gần như trong suốt, loại giấy các điệp viên Hắc Nguyệt Môn dùng để ghi những thông tin không bao giờ được phép tìm thấy trên người họ nếu bị bắt, có thể nuốt trọn trong một nhịp thở, tan rã trong nước bọt trước khi bất kỳ chữ nào kịp bị đọc ra. Bằng nét chữ nhỏ, cô ghi lại, không phải toàn bộ mệnh lệnh, mà chỉ vài chi tiết cốt lõi: ngày giờ, nội dung chính xác của lệnh truy sát, và một dòng cuối cùng: Vares ra lệnh trực tiếp, không qua trung gian, dấu ấn riêng.
Đây không phải hành động của một kẻ phản bội, dù nếu bị phát hiện, nó sẽ trông chính xác như vậy. Đó là bản năng của một đứa trẻ từng bị buộc đóng quá nhiều vai trong quá nhiều năm, tới mức học được rằng thứ duy nhất giữ cho một người không bị chính hệ thống của mình nuốt chửng là một mảnh sự thật không ai khác có thể xóa đi hay viết lại. Nếu Sable chọn không giết Kael, điều Nyx, dù không nói ra, đã ngờ ngợ nhận ra ngay từ khoảnh khắc nhìn thấy ngón tay bà siết chặt quanh con rối nhỏ nơi thắt lưng, thì sẽ cần một ai đó có thể chứng minh rằng mệnh lệnh ban đầu, ít nhất, đã được tuân theo tới mức có thể.
Cô gấp mảnh giấy lại nhỏ nhất có thể, giấu nó vào một khe hở trong đế giày, nơi ngay cả một cuộc lục soát kỹ lưỡng cũng khó lòng tìm ra, và ngồi xuống bên mép giường, nhìn chằm chằm vào khoảng tối trước mặt.
Nếu bà ấy chọn phản bội, Nyx nghĩ, ta sẽ không phải là người kéo bà ấy xuống cùng.
Nhưng cô cũng không chắc, ngồi đó một mình giữa căn phòng trống rỗng của chính mình, liệu câu ấy là một lời hứa cô đang giữ cho Sable, hay chỉ là một cách khác để nói rằng cô, cũng như Sable, đã không còn thật lòng tin vào mệnh lệnh mình vừa nhận.
Đêm xuống nhanh hơn họ dự tính.
Kael kiểm tra con đường phía trước lần thứ ba, rồi quay lại nhìn Yumi. Cô đang ngồi bên mép đá, lặng lẽ kiểm tra lại phần băng quấn quanh cổ tay.
Không ai hỏi người kia có còn muốn tiếp tục hay không. Họ đều biết câu trả lời.
Tại một nơi khác của Minh Dạ, tờ giấy mang dấu mực đen hình lưỡi liềm được cất vào hồ sơ lưu trữ chính thức của Hắc Nguyệt Môn, xếp cạnh hàng trăm mệnh lệnh khác đã ban ra trong suốt hai mươi năm Vares làm Môn chủ, chỉ khác, lần này, người ký tên dưới lệnh truy sát không biết mình vừa buộc hai trong số những sát thủ trung thành nhất của mình phải lựa chọn, lần đầu tiên trong đời họ, giữa lòng trung thành với Môn và một điều gì đó họ chưa từng cho phép mình gọi tên.
Kể từ ấy, sự sống hay cái chết của Kael không còn là chuyện riêng của một Vực Chủ vô danh nào đó ngoài kia, cũng không còn là chuyện riêng của Vares. Nó đã trở thành một sợi chỉ mỏng, gần như vô hình, buộc chặt số phận của ba con người lại với nhau, và bất kể sợi chỉ ấy đứt theo cách nào, sẽ có ít nhất một trong số họ không còn đứng vững được ở vị trí cũ trong Hắc Nguyệt Môn nữa.