Ba tuần đã trôi qua kể từ đêm đoàn người Ashfall được đưa qua khỏi khu vực nguy hiểm nhất quanh Vực Liệt, và trong ba tuần ấy, mùa xuân cuối cùng cũng chịu nhường chỗ cho những ngày đầu hạ đầu tiên.
Không phải một sự chuyển mùa êm đềm như những năm trước. Cỏ trên các cao nguyên bờ Tây vẫn xanh, nhưng xanh theo kiểu bị giẫm nát rồi mọc lại vội vã dưới bánh xe của hàng trăm cỗ xe tải lương; hoa dại ven những con đường cổ vẫn nở, nhưng chen giữa những vệt bùn in dấu móng ngựa của quân đội đang hành quân về phía đông. Tin tức về một đội quân chưa từng có tiền lệ, gồm cả ba Thành lớn, cả những kỵ binh mang lá cờ vật tổ Du Mục, đang tập kết dọc rìa Vực Liệt, đã lan xa hơn bất kỳ tin đồn nào trong nhiều năm trở lại đây. Nó lan qua các phiên chợ, qua miệng những người bán hàng rong, qua thư từ được chuyển đi vội vã giữa các Thành, cho tới khi nó chạm tới đúng cái ngã ba đường nơi ba con lộ cổ gặp nhau, nơi một tấm biển gỗ mòn chữ vẫn còn treo trên mái hiên một quán trọ nhỏ.
Bà Mộc nghe tin ấy từ một người đánh xe hàng dừng chân đổi ngựa, một buổi chiều cách đây năm ngày. Ông ta kể, giữa hai ngụm cháo, rằng con đường phía đông đang bắt đầu bị quân đội kiểm soát từng đoạn, rằng chẳng bao lâu nữa, có lẽ chỉ vài tuần, việc đi lại tự do giữa ba Thành sẽ không còn dễ dàng như trước, và rằng, theo lời một người lính trẻ ông ta nghe lỏm được ở một trạm gác, "cái gì dưới Vực Liệt cũng sắp không còn chờ được nữa."
Bà không hỏi thêm. Bà không cần hỏi thêm.
Đêm đó, sau khi người đánh xe đã lên đường, Bà Mộc đứng một mình giữa gian bếp trống, nhìn cái nồi lớn vẫn treo trên bếp lửa, cái nồi đã múc ra hàng nghìn bát cháo cho hàng nghìn người khách qua đường suốt bốn mươi năm, và bà làm một phép tính mà bà chưa từng cho phép mình làm rõ ràng đến vậy trước đây: bao nhiêu trong số hai mươi gương mặt trẻ tuổi từng ngồi ở những chiếc bàn gỗ này, ăn cháo của bà, ngủ trên gác xép của bà, sẽ còn quay lại được sau mùa hạ này.
Bà không có câu trả lời. Không ai có.
Nhưng bà biết một điều: nếu đây thật sự có thể là lần cuối, bà sẽ không để nó trôi qua như một ngày bình thường.
Sáng hôm sau, Bà Mộc dậy sớm hơn thường lệ, khi trời còn chưa hửng hẳn, và bắt đầu nấu.
Bà không nấu như mọi khi, từng nồi nhỏ theo nhu cầu khách vãng lai. Bà dựng thêm một cái bếp dã chiến ngoài sân, mượn của người hàng xóm xa nhất mà bà còn quen biết, và bắt đầu ninh một nồi hầm lớn đủ cho vài chục người, thứ mà một quán trọ nhỏ giữa ngã ba đường trung lập chưa từng cần chuẩn bị trong suốt bốn mươi năm bà đứng bếp. Bà cử người mang thư đi, không phải thư trang trọng gì, chỉ là những mảnh giấy viết vội bằng nét chữ nguệch ngoạc của một bà lão ít khi cầm bút: Ai còn ghé qua được, ghé qua đi. Cháo đã sẵn.
Bà không viết tên riêng ai. Bà không cần. Trong ba tuần qua, gần như mọi tuyến đường quân sự mới mở đều đi ngang qua hoặc gần đủ ngã ba này, và tin tức về một bữa ăn ở Lò Sưởi Cũ, dù chẳng ai nói thẳng ra tại sao nó lại quan trọng đến vậy, đã tự nó lan đi nhanh hơn bất kỳ lá thư nào bà kịp gửi.
Kael và Yumi tới đầu tiên, ngay khi mặt trời mới lên quá đỉnh núi phía đông, tay Kael còn dính bụi đường từ chuyến đi ngựa suốt đêm từ khu doanh trại gần phòng tuyến.
"Bà không cần làm thế này đâu," Yumi nói, khi cô bước qua ngưỡng cửa và nhìn thấy quy mô của việc chuẩn bị, những rổ rau, những bao bột, những vại nước tương đã được mở sẵn, nhiều hơn hẳn một bữa ăn thường ngày. "Với tất cả những người sẽ tới."
"Ta cần," Bà Mộc đáp, không ngẩng lên khỏi thớt thái hành. "Mấy chục năm nay ta chỉ nấu cho từng người một, hai người một, những kẻ ghé qua rồi đi, ta chẳng bao giờ biết họ sẽ ra sao sau khi rời cửa quán này. Lần này ta biết trước, ít nhất một phần, chuyện gì đang chờ ngoài kia. Nếu ta biết trước mà vẫn để mọi thứ trôi qua như một ngày bình thường, thì ta cũng chẳng khác gì những sử quan viết dối trong sách sử của họ."
Yumi và Kael trao nhau một ánh mắt, không hiểu hết câu nói cuối, nhưng cả hai đều đủ tinh tế để không hỏi thêm.
"Cần chúng con giúp gì không?" Kael hỏi, đã bắt đầu xắn tay áo lên, một cử chỉ hoàn toàn tự nhiên anh sẽ không bao giờ nghĩ mình sẽ làm mười năm trước, khi hai bàn tay này chỉ được huấn luyện để cầm dao.
"Có," Bà Mộc nói, đẩy về phía anh một rổ khoai lang chưa gọt. "Ngồi xuống đó, gọt hết chỗ này, và đừng có gọt đẹp như đang khắc gỗ. Ta cần khoai để nấu, không phải để triển lãm."
Kael khẽ nhếch môi, thứ gần với một nụ cười anh không còn phải cố gắng che giấu nữa, và ngồi xuống bên bậu cửa sổ bếp, bắt đầu công việc.
Boran, Halvor, Elowen và Petra tới cùng nhau ngay trước giờ ngọ, cưỡi trên bốn con ngựa còn phủ đầy bụi từ công trường phòng tuyến, nơi cả bốn người đã dành ba tuần qua gia cố từng đoạn tường đá quanh miệng Vực Liệt.
Boran, dù vết thương vẫn chưa lành hẳn, xuống ngựa với một sự cẩn trọng không giấu nổi, một tay đặt lên hông như đang tự nhắc mình đừng vặn người quá mạnh. Halvor, đi ngay bên cạnh, không nói gì về chuyện đó, chỉ lặng lẽ đưa tay đỡ khi Boran hơi loạng choạng bước cuối cùng xuống đất, một cử chỉ nhỏ đến mức gần như không ai để ý, ngoại trừ việc cả hai đã lặp lại nó không biết bao nhiêu lần trong ba tuần qua, tới mức nó không còn cần một lời cảm ơn nào nữa.
"Mùi gì thơm vậy," Halvor nói lớn, giọng ông vang khắp cả sân trước quán, như thể ông chưa bao giờ học được cách nói nhỏ hơn kể cả trong những khoảnh khắc yên bình nhất. "Bà Mộc, nếu bà nấu ngon như mọi khi, tôi thề tôi sẽ ở lại đây thay vì quay về phòng tuyến."
"Vậy thì ai dựng phòng tuyến cho ta trốn khi Vực Thẳm tới gõ cửa," Bà Mộc đáp trả không chút do dự, khiến Halvor bật cười thành tiếng, một tràng cười thật sự hiếm khi vang lên trong ba tuần đầy căng thẳng vừa qua.
Elowen bước tới bên Bà Mộc ngay sau đó, không phải để hỏi han, mà để đặt xuống bàn bếp một giỏ nhỏ đựng vài loại thảo dược cô mang theo từ Minh Đài. "Con nghĩ bà có thể cần thêm ít gừng và bạc hà," cô nói, "cho những ai tới đây với vết thương chưa lành hẳn." Ánh mắt cô lướt nhẹ qua Boran một thoáng, không đủ lâu để trở thành một sự nhắc nhở công khai, chỉ đủ để Bà Mộc hiểu.
Petra, đi cuối cùng, dừng lại ở ngưỡng cửa một lúc lâu hơn những người khác, nhìn khung cửa gỗ cũ, nhìn cái mái hiên đã sờn màu vì mưa nắng bốn mươi năm. Là kiến trúc sư, cô không thể không đánh giá một công trình, dù chỉ là một quán trọ nhỏ giữa ngã ba đường.
"Cái mái hiên này cần được gia cố lại trước mùa mưa tới," cô nói, gần như bâng quơ, rồi khựng lại, nhận ra mình vừa nói về "mùa mưa tới" như thể đó là điều hiển nhiên sẽ đến, như thể tất cả bọn họ chắc chắn sẽ còn ở đây để chứng kiến nó.
Không ai sửa lại lời cô. Nhưng có một khoảng lặng ngắn, đủ để mọi người trong tầm nghe hiểu rằng câu nói ấy mang nặng hơn ý nghĩa bề mặt của nó.
Draven tới một mình, cưỡi con ngựa vay mượn từ trại lính tình nguyện, và trước khi bước vào, anh dừng lại ngoài sân, nhìn quanh, nhận ra vài gương mặt đã có mặt qua ô cửa sổ mở.
Anh chưa từng thật sự là khách quen của Lò Sưởi Cũ, không theo cách những người khác đã có, nhưng anh cũng không hoàn toàn xa lạ, đủ số lần ghé qua giữa các trận đấu trong Đại Tranh Kế Vực để Bà Mộc nhớ mặt.
"Ta không nghĩ con sẽ tới," bà nói, khi anh bước qua cửa, giọng bà không hề trách móc, chỉ là một sự ngạc nhiên thành thật.
"Tôi cũng không chắc mình nên tới," Draven đáp, nụ cười quen thuộc của anh có phần gượng gạo hơn mọi khi. "Nhưng rồi tôi nghĩ, nếu đây thật sự là dịp cuối cùng trước khi mọi thứ trở nên tồi tệ, tôi không muốn là kẻ duy nhất ngồi một mình bên đống lửa trại, tự hỏi liệu mình có nên ở đây hay không."
Bà Mộc không nói gì thêm, chỉ múc cho anh một bát đầy hơn bát của người khác, không phải vì thiên vị, mà vì bà đã sống đủ lâu để nhận ra ai trong số những vị khách của mình mang một cơn đói khác, thứ đói không thể lấp đầy chỉ bằng thức ăn, nhưng ít nhất một bữa no có thể làm dịu nó đi trong chốc lát.
Đoàn người từ Ashfall tới muộn hơn, gần giờ chiều, và sự xuất hiện của họ khiến không khí trong quán khẽ chững lại một nhịp, không phải vì thù địch, mà vì đây là lần đầu tiên kể từ khi Bà Mộc mở cửa quán này, một nhóm người mang danh Ashfall bước qua ngưỡng cửa cùng lúc với những người mang huy hiệu Thất Trụ.
Doran đi đầu, tay dắt Tiểu Vy, khăn che nửa mặt vẫn quấn kín như mọi khi, ánh mắt anh quét nhanh qua căn phòng theo phản xạ cũ, tìm kiếm lối thoát trước khi tìm kiếm chỗ ngồi. Vess theo sau, mái tóc đỏ sẫm rối bù buộc gọn hơn bình thường, và Corvin, cao lớn trong chiếc áo choàng xám tro, bước chậm rãi như đang đo từng bước chân trên một nền đất chưa quen. Ashen đi cuối cùng, và bất cứ ai từng thấy anh ở thể Than Hồng đều nhận ra ngay: đôi mắt anh dịu lại thành màu xám tro, bước chân anh nhẹ gần như rón rén, thứ trạng thái hiếm hoi anh chỉ để lộ ra khi thật sự cảm thấy an toàn.
Bà Mộc, không do dự một giây, bước ra khỏi bếp, lau tay vào tạp dề, và đi thẳng tới chỗ họ đứng.
"Vào đi," bà nói, đúng câu bà đã nói với hàng nghìn vị khách khác trong bốn mươi năm qua, không thêm bớt một chữ. "Đứng đó gió lùa hết nhiệt trong quán ta rồi."
Doran khựng lại một nhịp, ánh mắt anh phía trên tấm khăn che mặt lộ ra một sự bất ngờ trần trụi, thứ bất ngờ của một người đã quá quen với việc bị nhìn bằng ánh mắt dò xét hoặc sợ hãi trước khi được nhìn bằng bất cứ điều gì khác.
"Bà không hỏi chúng tôi từ đâu tới sao?" anh hỏi, giọng anh khàn hơn bình thường.
"Ta không hỏi lý lịch khách," Bà Mộc đáp, đúng câu nói bà đã dùng để trả lời chính câu hỏi ấy, dưới những hình thức khác nhau, không biết bao nhiêu lần trước đó. "Ta chỉ hỏi họ có đói không thôi."
Tiểu Vy, đứng nép sau chân Doran, ngước nhìn Bà Mộc với đôi mắt to tròn, rồi nhìn quanh căn phòng, nơi những gương mặt xa lạ đang ngồi quanh những chiếc bàn gỗ, ánh lửa từ lò sưởi hắt lên mọi thứ một màu vàng ấm áp cô bé chưa từng thấy trong những đường hang tối của quê nhà.
"Chỗ này đẹp quá," cô bé thì thầm, đủ nhỏ để chỉ Vess nghe thấy.
Vess đặt một tay lên vai cô bé, dẫn cô vào trong, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, gương mặt gầy gò thường trực vẻ cảnh giác của cô mềm đi một chút.
Sable và Nyx tới cuối cùng trong số những vị khách chính, mang theo tin từ Minh Dạ: Thrax vẫn đang bận rộn với việc cải tổ Hắc Nguyệt Môn thành một cơ quan có trật tự pháp lý rõ ràng hơn, không thể rời đi, nhưng đã dặn hai người, nếu có dịp, hãy uống một bát cháo thay phần anh.
"Anh ấy nói vậy sao?" Kael hỏi, ngẩng lên khỏi rổ khoai đã gọt gần xong, một chút ngạc nhiên hiện trên gương mặt vốn ít biểu cảm của anh. Với Kael, Thrax vẫn luôn là hình ảnh của một sư huynh nghiêm khắc, ít khi để lộ ra những cử chỉ gần gũi kiểu này.
"Không hẳn dùng đúng những từ đó," Nyx đáp, đôi mắt hai màu của cô ánh lên một chút hài hước hiếm hoi. "Nhưng đó là điều anh ấy muốn nói, chỉ là không biết cách nói ra."
Sable bước tới chỗ Kael đang ngồi, nhìn rổ khoai anh vừa gọt xong, rồi nhìn anh, một nụ cười chậm rãi nở trên môi bà.
"Con còn nhớ," bà nói, "lần đầu ta bảo con gọt khoai giúp ta trong tổng đàn, con đã gọt tới mức chẳng còn gì ngoài lõi, vì con nghĩ đó là cách làm đúng chuẩn xác nhất?"
"Con vẫn nghĩ đó là cách làm đúng," Kael đáp, giọng anh nghiêm túc đến mức Sable phải bật cười, và ngay sau đó, một nụ cười thật sự, hiếm hoi, cũng kéo khóe môi Kael lên theo.
Nhưng nụ cười ấy chỉ kéo dài một nhịp thở. Sable, trong khi đưa tay nhận lại rổ khoai đã gọt xong từ Kael, lướt một ánh mắt nhanh về phía Nyx, và Nyx, hiểu ngay, khẽ gật đầu, một cái gật đầu gần như vô hình nhưng đủ để Kael, người đã sống trong thế giới của những tín hiệu không lời suốt mười năm, nhận ra có điều gì đó đang được giấu sau lớp vỏ bình thản của hai người phụ nữ này.
"Con có muốn ra ngoài một lát không?" Sable hỏi, giọng bà đã mất đi vẻ vui đùa ban nãy, trở lại với một sự trầm lặng Kael nhận ra ngay là giọng của một người sắp nói điều gì đó nặng hơn vẻ ngoài của nó.
Kael nhìn Yumi, và Yumi, không cần hỏi, đã đứng dậy cùng anh, cả ba người bước ra khỏi quán, ra khoảng sân trước nơi ánh đèn từ cửa sổ chỉ hắt tới một quãng ngắn, đủ để nhìn rõ mặt nhau dưới ánh trăng đầu hạ.
Nyx đứng cách một bước, canh chừng lối vào, không phải vì sợ ai nghe trộm, mà vì bản năng cũ của một người từng sống trong bóng tối vẫn chưa bao giờ thật sự tắt hẳn.
Sable không vòng vo.
"Vares đã chết," bà nói, giọng bà trầm, đều, như đang đọc một dòng trong một báo cáo cũ hơn là thông báo một cái chết. "Thrax là người ra tay. Ngay giữa phiên họp Hội Đồng"
Kael đứng yên. Không phải một phản xạ né tránh hay chuẩn bị cho một đòn tấn công, chỉ đơn giản là đứng yên, như thể cơ thể anh đang cần một khoảng lặng trước khi bộ não kịp xử lý những gì vừa nghe.
"Sao?" cuối cùng anh hỏi, một từ duy nhất.
"Bằng chứng," Sable nói. "Thrax đã thu thập đủ từ nhiều tháng trước. Hồ sơ bán tin của Vares về Đền Băng. Lệnh ám sát của ông ta với con. Và những sự thật ta nghĩ không nên tiếp tục đào sâu." Bà dừng lại một chút, như đang cân nhắc có nên nói phần còn lại hay không. "Thrax không cho ông ta cơ hội để biện minh. Ông ta chỉ đứng đó, nghe hết, và khi Hội Đồng định trì hoãn để xem xét thêm, Thrax đã không chờ."
Yumi, đứng bên cạnh Kael, cảm nhận được sự căng cứng trong vai anh, không phải sự căng thẳng của một người sắp bùng nổ, mà là sự căng thẳng của một người đang cố gồng mình để không vỡ ra. Cô đưa tay ra, nhẹ nhàng, không nắm lấy tay anh, chỉ đặt lên cánh tay anh, đủ để anh biết cô vẫn ở đó.
"Anh ổn chứ?" cô hỏi, giọng nhẹ hơn thường lệ.
Kael không trả lời ngay. Anh nhìn ra phía xa, về hướng con đường tối đen dẫn tới Rạng Đông, nơi một người đàn ông đã kết thúc cuộc đời mình giữa một căn phòng đầy những người quyền lực nhất lục địa, và anh, đứng đây, chỉ mới biết được điều đó.
"Anh không biết nữa," anh nói cuối cùng, giọng anh không phẳng lặng như mọi khi, mà có một sự gãy khúc nhỏ, khó nhận ra nếu không phải là người đã nghe anh nói hàng trăm đêm như Yumi. "Suốt mười năm, anh đã tưởng tượng khoảnh khắc này. Cách nó sẽ cảm thấy khi ông ta kết thúc. Nhưng giờ nó xảy ra, anh... không cảm thấy gì cả. Chỉ là một khoảng trống."
"Không cảm thấy gì," Yumi lặp lại, không phải một câu hỏi, mà một sự xác nhận, để anh biết cô đang nghe.
"Anh đã dùng quá nhiều thời gian để ghét ông ta," Kael nói, giọng chậm hơn, như đang tự nói với chính mình, "và giờ ông ta không còn nữa, anh không biết phải đặt cảm xúc của mình vào đâu. Như thể anh đã xây một bức tường suốt mười năm để chống lại ông ta, và giờ bức tường đó không còn lý do để tồn tại nữa."
Sable nhìn anh, và trong ánh mắt bà, có một điều gì đó vừa là sự thấu hiểu của một người đã từng là mẹ nuôi anh, vừa là sự tôn trọng của một người đang nhìn thấy đứa trẻ mình nuôi lớn lần đầu tiên thật sự đứng trước câu hỏi về chính mình.
"Con không cần phải cảm thấy một điều gì đó ngay bây giờ," bà nói. "Cái chết của ông ta không xóa đi những gì ông ta đã làm. Nhưng nó cũng không bắt buộc con phải vui mừng. Con có thể chỉ đơn giản là để nó ở đó, và thời gian sẽ cho con biết con cảm thấy gì."
Nyx, vẫn đứng canh chừng, lặng lẽ thêm vào, giọng cô nhẹ hơn hẳn vẻ lạnh lùng thường ngày: "Thrax không làm điều đó cho con. Anh ấy làm điều đó cho chính mình. Nhưng anh ấy muốn con biết, và muốn con biết rằng, từ giờ, con không còn phải chạy trốn khỏi bóng tối của Vares nữa."
Kael gật đầu, một cái gật đầu chậm, như đang để những lời vừa nói thấm vào một nơi nào đó sâu trong anh.
"Cảm ơn," anh nói với Sable và Nyx, rồi quay sang Yumi, ánh mắt họ gặp nhau trong ánh trăng đầu hạ mờ nhạt. "Anh cần một lát."
Yumi gật đầu. "Em biết."
Cô không hỏi anh muốn đi đâu. Cô chỉ đứng đó, để Sable và Nyx quay vào quán trước, và cùng anh bước vài bước ra xa hơn, ra khỏi vòng sáng của cửa sổ, vào bóng tối nhạt nơi chỉ còn tiếng gió và những vì sao lặng lẽ nhìn xuống.
Họ đứng đó một lúc, không nói gì, vai chạm vai như đã trở thành thói quen của họ. Cuối cùng, Kael nói, giọng anh nhỏ hơn, gần như chỉ đủ cho Yumi nghe thấy:
"Anh vẫn còn câu hỏi anh muốn hỏi ông ta. Không phải để trách móc. Chỉ để hiểu."
"Anh sẽ không bao giờ có câu trả lời," Yumi nói, giọng cô không hề phán xét, chỉ là một sự thật cô đã học được từ lâu. "Nhưng có lẽ đó cũng là một câu trả lời."
Kael im lặng một lúc lâu, rồi gật đầu. Không phải một cái gật đầu của sự đồng ý, mà của sự chấp nhận, một sự chấp nhận chậm rãi, nặng nề, nhưng thật.
"Chúng ta nên quay vào," anh cuối cùng nói. "Họ vẫn đang chờ."
Yumi không đáp, chỉ khẽ siết tay anh, và cả hai cùng quay về phía cánh cửa sáng ánh đèn, nơi bên trong, bữa ăn vẫn đang chờ được tiếp tục, và những người khác vẫn đang trò chuyện, không biết rằng ngoài kia, dưới ánh trăng, một mảnh quá khứ vừa được khép lại cho một trong số họ.
Tới khi gần như mọi chiếc bàn trong quán đều đã có người ngồi, và Bà Mộc, thay vì để mọi người tự chia thành từng nhóm theo Thành, theo phe, đã tự tay sắp xếp chỗ ngồi theo một logic chỉ riêng bà hiểu: người cần được nghỉ ngơi ngồi gần lò sưởi nhất, người còn trẻ ngồi gần những người lớn tuổi hơn, những ai bà cảm nhận được cần một khoảng lặng riêng thì được sắp một góc yên tĩnh hơn.
Bà chia khẩu phần không theo huy hiệu trên áo ai, mà theo số người ngồi ở mỗi bàn, theo việc ai vừa trải qua một chặng đường dài hơn, ai có vẻ đói hơn những người còn lại. Boran, vẫn còn dưỡng thương, được một phần thịt hầm mềm hơn hẳn, dễ nhai hơn, không cần ai yêu cầu. Tiểu Vy được một bát nhỏ hơn nhưng đầy ắp bánh mì bẻ vụn ngâm trong nước hầm, đúng kiểu trẻ con thích. Draven, người tới một mình, được ngồi cạnh Doran và Vess, không phải một sự sắp đặt tình cờ, mà là một quyết định lặng lẽ của Bà Mộc, người đã nhận ra từ lâu ánh mắt Draven mỗi khi nhắc tới Ashfall, và có lẽ nghĩ rằng đã đến lúc anh ngồi cạnh những con người thật sự thuộc về nơi đó, thay vì chỉ mang một món nợ trừu tượng trong lòng.
"Cô để phần thức ăn dư ra kia," Petra nhận xét, nhìn thấy vài phần được Bà Mộc múc ra để riêng trên một góc bàn, không ai động tới, "cho ai vậy?"
"Cho những kẻ phải lên đường trước bình minh," Bà Mộc đáp, không ngẩng lên. "Ta không hỏi ai còn sống được bao lâu, con gái ạ. Ta chỉ hỏi ai còn phải đi sớm."
Câu trả lời ấy, giản dị như mọi câu trả lời khác của bà, khiến cả bàn im lặng một lúc, không phải vì nặng nề, mà vì mỗi người trong số họ đều tự hiểu, theo cách riêng của mình, rằng đó chính là câu hỏi thật sự đang lơ lửng trên đầu tất cả, dù không ai muốn nói to.
Bữa ăn diễn ra chậm rãi, không vội vã, dù mọi người trong phòng đều biết rằng ngoài kia, cách đó không xa, các tuyến đường đang bắt đầu đóng lại, các đội quân đang tiếp tục tập kết, và mỗi giờ trôi qua đều đưa họ gần hơn tới thứ đang chờ dưới lòng Vực Liệt.
Không ai nói về chiến thuật. Không ai nhắc tới Đại Tranh Kế Vực đã bị đình chỉ, tới quyền chủ tọa còn bỏ trống, tới việc Hội Đồng vẫn đang tranh cãi cách chính thức hóa liên minh với Du Mục mà không làm mất lòng bốn Thành nhỏ vốn e ngại mọi thay đổi lớn. Những chuyện đó vẫn tồn tại, vẫn đang diễn ra ở đâu đó, trong những căn phòng họp kín ở Rạng Đông, nhưng ở đây, dưới mái nhà nhỏ này, chúng bị bỏ lại ngoài cửa, như những đôi giày lấm bùn.
Thay vào đó, họ nói về những điều nhỏ. Halvor kể một câu chuyện cũ về lần ông làm rơi cả khiên của mình xuống một cái giếng trong lúc huấn luyện tân binh, khiến cả bàn cười ồ lên, kể cả Corvin, người hiếm khi để lộ một biểu cảm nào ngoài vẻ trầm mặc quen thuộc. Elowen hỏi Vess về loại thảo dược nào Ashfall dùng để cầm máu trong những đường hang thiếu ánh sáng, một cuộc trò chuyện bắt đầu bằng sự tò mò nghề nghiệp nhưng dần trở thành một sự trao đổi thật sự, hai người phụ nữ từ hai thế giới tưởng như không thể chung một bàn, giờ đang so sánh những gì họ học được để giữ người khác sống sót.
Boran và Doran, ngồi gần nhau hơn dự tính ban đầu, nói chuyện ít hơn cả hai người kia, nhưng có một khoảnh khắc, khi Boran với tay lấy thêm bánh mì và vô tình để lộ vết sẹo dài trên cánh tay, Doran nhìn nó một lúc rồi hỏi, giọng anh nhỏ, gần như ngại ngùng:
"Trận nào vậy?"
"Mười năm trước," Boran đáp, không giấu diếm, xoay cánh tay để Doran thấy rõ hơn. "Một trận phục kích. Tôi chậm một bước, và bạn tôi chết ngay trước mắt tôi."
Doran gật đầu chậm rãi, không nói lời an ủi sáo rỗng nào, chỉ kéo khăn che mặt xuống một chút, để lộ một vệt sẹo cũ khác trên má, thứ anh luôn giấu kỹ trước người lạ.
"Cái này không phải từ trận đánh nào cả," anh nói. "Chỉ là chính người của tôi, khi họ còn sợ tôi hơn sợ bệnh dịch."
Không ai trong hai người nói thêm gì về chuyện đó, nhưng từ khoảnh khắc ấy, có một điều gì đó giữa họ, không hẳn là tình bạn, nhưng là một sự công nhận lặng lẽ rằng cả hai đều mang những vết sẹo mà thế giới bên ngoài chưa từng hỏi tới nguồn gốc thật sự.
Giữa bữa ăn, cánh cửa gỗ lại kêu cọt kẹt một lần nữa, và một ông lão gầy gò, lưng hơi còng, mặc áo choàng học giả sờn cũ của Thư viện Rạng Đông, bước vào, tay ôm một cuốn sổ dày đã sờn góc.
"Ông Rasten," Kael nói, đứng dậy khỏi ghế, một sự tôn trọng tự nhiên trong cách anh gọi tên ông, thứ chỉ hình thành sau nhiều tháng cùng nhau lần theo từng manh mối về Đền Băng.
"Ta nghe tin có một bữa ăn ở đây," Rasten nói, giọng ông khàn vì tuổi tác nhưng vẫn giữ được sự sắc sảo quen thuộc của một sử quan đã dành cả đời quan sát con người. "Ta nghĩ, nếu đây thật sự là điều ta nghĩ nó là, ta nên có mặt."
Bà Mộc, không hỏi thêm, múc cho ông một bát đầy, và Rasten ngồi xuống ở một góc bàn gần cửa sổ, nơi ánh sáng cuối ngày còn đủ để ông có thể viết nếu cần.
Ông không ăn ngay. Ông ngồi đó một lúc, nhìn quanh căn phòng, nhìn Boran và Doran đang trò chuyện, nhìn Elowen và Vess so sánh những vết sẹo cũ như đang so sánh những tấm huân chương, nhìn Tiểu Vy đang cố dạy Wick, con sói của Whistle vừa lẻn vào theo mùi thức ăn, cách "bắt tay" bằng một chiếc bánh mì vụn, nhìn Kael và Yumi ngồi cạnh nhau, vai chạm vai, không nói gì nhiều nhưng cũng không cần nói gì.
Rồi, chậm rãi, ông mở cuốn sổ, chấm bút, và bắt đầu viết.
Ông không viết về chính trị. Ông không viết về Đại Tranh Kế Vực, về quyền chủ tọa, về những gì Hội Đồng đang tranh cãi ở Rạng Đông. Ông viết về căn phòng này, về ánh lửa hắt lên những gương mặt từ bảy phe phái khác nhau đang cùng ngồi ăn dưới một mái nhà, về một bà lão chia thức ăn không theo huy hiệu mà theo cơn đói của từng người, về một đứa trẻ Ashfall đang cười với một con sói Du Mục.
Đêm nay, tại một quán trọ nhỏ giữa ngã ba đường không thuộc về Thành nào, hai mươi con người, hoặc gần như thế, đã ngồi ăn cùng nhau, không phải vì một hiệp ước nào được ký, không phải vì một mệnh lệnh nào từ Hội Đồng, mà vì một bà lão nấu cháo đã quyết định rằng, nếu ngày mai mang tới điều tồi tệ nhất, ít nhất đêm nay sẽ không trôi qua như thể không có sự kiện đáng ghi.
Ông dừng bút, đọc lại câu mình vừa viết, và lần đầu tiên trong năm mươi năm làm sử quan, bàn tay ông không run. Không phải vì ông không sợ những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Mà vì, sau cùng, sau tất cả những năm tháng học cách viết vừa đủ sự thật để không trở thành kẻ nói dối hoàn toàn, ông đang viết xuống một câu ông biết chắc, rõ ràng như biết mặt trời mọc ở đằng đông, là đúng sự thật.
Ryn, Whistle và Juno ghé qua ngắn ngủi vào lúc chạng vạng, trên đường tuần tra dọc tuyến đường mới, và dù không thể ở lại lâu, cả ba vẫn kịp ngồi xuống húp vội một bát cháo nóng, Wick nằm cuộn tròn dưới chân Whistle, đuôi nó khẽ đập xuống sàn mỗi khi có ai đó thả rơi một miếng bánh mì.
"Chúng tôi không thể ở lại," Ryn nói, giọng cô vẫn mang theo hơi thở dốc quen thuộc của một người không bao giờ đứng yên quá lâu, "còn phải kiểm tra hết tuyến trước khi trời tối hẳn. Nhưng khi nghe tin về bữa ăn này, chúng tôi nghĩ ít nhất phải ghé qua."
"Ghé qua là đủ rồi," Bà Mộc nói, đưa cho cả ba một túi bánh mì gói sẵn để mang theo. "Đường còn dài, ăn dọc đường."
Juno, trước khi rời đi, dừng lại một chút bên bàn nơi Rasten đang ngồi viết, liếc nhìn trang giấy ông vừa viết xong với sự tò mò của một học giả không kìm được bản năng nghề nghiệp.
"Ông đang ghi lại điều này sao?" cô hỏi.
"Ta đang ghi lại điều đáng được ghi lại," Rasten đáp, gấp cuốn sổ lại, "một điều hiếm hoi trong nghề của ta."
Juno gật đầu, không hỏi thêm, và rời đi cùng Ryn và Whistle, ba bóng người khuất dần vào ánh chạng vạng đang buông xuống ngoài kia, nơi tuyến đường tuần tra hỗn hợp đầu tiên trong lịch sử Veylorn vẫn đang tiếp tục công việc canh gác không ngừng nghỉ của nó.
Khi màn đêm buông xuống hẳn, và ngọn lửa trong lò sưởi đã cháy xuống thành than hồng dịu, những cuộc trò chuyện trong quán cũng dần lắng lại, không phải vì cạn lời, mà vì một sự mệt mỏi ấm áp đã bắt đầu len vào từng người, thứ mệt mỏi chỉ tới sau một bữa ăn no và một khoảng thời gian được phép quên đi, dù chỉ trong chốc lát, mọi thứ đang chờ ngoài kia.
Halvor, trước khi mọi người tản ra nghỉ ngơi, đứng dậy, một tay đặt lên bàn để giữ thăng bằng, và từ trong túi áo, lấy ra một chiếc còi đồng nhỏ, đã cũ, mặt kim loại xỉn màu vì mồ hôi và thời gian.
"Của Rafe," ông nói, giọng ông trầm hơn thường lệ, không còn chút vang dội quen thuộc. "Cậu lính trẻ nhất trong đội tôi, mười tám tuổi, ngã xuống khi chúng tôi dựng đoạn tường phía bắc phòng tuyến, hai tuần trước. Cậu ấy chưa từng kịp thổi cái còi này trong một trận đánh thật sự, chỉ tập luyện với nó suốt mấy tháng huấn luyện."
Ông đặt chiếc còi xuống giữa bàn, nhẹ nhàng, như đang đặt xuống một thứ dễ vỡ hơn hẳn kim loại thật của nó.
"Tôi không muốn cậu ấy chỉ còn là một cái tên trong danh sách tử trận," Halvor nói. "Tôi muốn, ít nhất đêm nay, cậu ấy cũng có một chỗ ở bàn ăn này."
Không ai nói gì thêm. Không cần phải nói gì thêm. Corvin, ngồi gần đó, chỉ khẽ gật đầu, một sự công nhận từ người vẫn luôn nghĩ rằng bị lãng quên còn đáng sợ hơn cái chết, và trong một khoảnh khắc, cả căn phòng, dù đông người, chìm vào một sự im lặng chung, không nặng nề, mà đầy đặn, như một khoảng lặng người ta giữ lại có chủ đích trước khi một bản nhạc kết thúc.
Chiếc còi đồng nhỏ nằm đó, giữa những bát đĩa đã vơi, ánh lửa từ lò sưởi hắt lên nó những vệt sáng cam nhạt, và không ai chạm vào nó thêm lần nào nữa trong suốt buổi tối, như thể tất cả đều ngầm hiểu, đó là chỗ ngồi của một người sẽ không bao giờ tới muộn nữa, nhưng cũng sẽ không bao giờ vắng mặt khỏi ký ức của những người còn ở lại.
Yumi, ngồi cạnh Kael, mắt cô dõi theo chiếc còi đồng nằm im giữa bàn, rồi lướt qua từng gương mặt quanh phòng, những gương mặt đến từ bảy phe phái khác nhau, giờ đây mềm đi dưới ánh lửa, không còn giữ vẻ cảnh giác thường trực họ mang theo ngoài kia.
"Em không nghĩ," cô nói khẽ, đủ nhỏ để chỉ Kael nghe thấy, "mình sẽ từng thấy một cảnh tượng như thế này. Không phải trong một hiệp ước, không phải trong một phiên họp Hội Đồng. Chỉ là một bữa ăn."
"Có lẽ đó là lý do nó có ý nghĩa," Kael đáp, giọng anh nhỏ, chân thành. "Không ai ép buộc điều này xảy ra. Nó chỉ xảy ra, vì một bà lão quyết định nó nên xảy ra."
Yumi im lặng một lúc, tay cô tìm tay anh dưới gầm bàn, một cử chỉ đã trở nên tự nhiên tới mức không ai trong hai người còn cần suy nghĩ trước khi làm điều đó nữa.
"Nếu ngày mai mọi thứ tồi tệ như em nghĩ," cô nói, "em muốn nhớ đêm nay đúng như thế này. Không phải một lời tạm biệt. Chỉ là một bữa ăn."
Kael siết nhẹ tay cô, không hứa hẹn điều gì anh không chắc mình có thể giữ, chỉ để sự im lặng giữa hai người mang trọn vẹn điều cả hai đều cảm nhận được.
Không ai trong căn phòng nói ra thành lời rằng đây có thể là bữa ăn cuối cùng tất cả bọn họ còn được ngồi chung một bàn. Không cần phải nói ra. Nó nằm trong cách Bà Mộc múc thêm một bát nữa cho bất kỳ ai vừa ăn xong, như thể đang cố kéo dài buổi tối thêm một chút nữa bằng chính đôi tay chai sạn của mình. Nó nằm trong cách Kael và Yumi ngồi sát nhau hơn cần thiết, vai chạm vai, không nói gì nhiều nhưng bình yên. Nó nằm trong cách Doran để Tiểu Vy ngủ gục trên đùi mình, một tay khẽ vuốt tóc cô bé, ánh mắt anh phía trên tấm khăn che mặt dõi ra ngoài cửa sổ, về phía con đường tối đen dẫn về Vực Liệt. Nó nằm trong chiếc còi đồng nhỏ vẫn nằm im giữa bàn, chưa ai dọn đi, và có lẽ sẽ không ai dọn đi cho tới khi buổi tối này thật sự kết thúc.
Ngoài kia, xa hơn ánh đèn ấm áp hắt ra từ ô cửa sổ của Lò Sưởi Cũ, những tuyến đường quanh Vực Liệt tiếp tục đóng lại từng đoạn một, những đội quân tiếp tục tập kết trong bóng tối, và một cuộc chiến mà không ai trong căn phòng này thật sự biết mình sẽ sống sót qua nó hay không, tiếp tục đến gần hơn với mỗi giờ trôi qua.
Nhưng trong căn phòng nhỏ ấy, dưới ánh lửa lò sưởi đang cháy xuống thành than hồng, hai mươi con người, hoặc gần như thế, vẫn ngồi lại thêm một lúc nữa, không ai vội rời đi, không ai muốn là người đầu tiên đứng dậy và khiến buổi tối này thật sự kết thúc.
Bởi vì một khi nó kết thúc, tất cả bọn họ đều biết, dù không ai nói ra, ngày mai sẽ tới, và ngày mai sẽ không còn chỗ cho những bữa ăn không ai dám gọi tên.