Finch bay tới trại chính của Liên Minh Du Mục khi mặt trời còn chưa lên quá một con sào.
Con chim nhỏ lông vàng nhạt lao thấp sát ngọn cỏ, cánh đập gấp gáp tới mức vài người chăn ngựa gần rìa trại phải ngẩng đầu nhìn theo, vì họ biết kiểu bay ấy, chỉ có đúng một nghĩa. Nó không hạ xuống vai bất kỳ ai khác ngoài Ryn, và khi Ryn còn đang ngồi ăn sáng cùng Whistle bên đống lửa gần chuồng ngựa, con chim sà thẳng xuống cánh tay cô, kêu lên hai tiếng ngắn, gấp, rồi lại vọt lên không, lượn một vòng hẹp trên đầu cô như thể chính nó cũng không đủ kiên nhẫn để chờ cô đọc hết tin.
Ryn không cần đọc hết. Cô đã đứng bật dậy trước khi mảnh giấy buộc ở chân Finch kịp rơi hẳn vào lòng bàn tay cô, bát cháo kê còn dở văng đổ xuống đất, Whistle chỉ kịp nhìn theo, đôi đũa gỗ còn cầm giữa hai ngón tay.
"Rạng Đông," Ryn nói, mắt cô lướt nhanh trên những dòng chữ nguệch ngoạc, nét bút của một trinh sát Du Mục cắm chốt gần phòng tuyến, viết vội tới mức vài chữ gần như không thể đọc nổi. "Đêm qua. Cái thứ dưới Vực Liệt trồi lên lần nữa, mạnh hơn tất cả những lần trước cộng lại." Cô ngẩng lên, và trong mắt cô, thứ ánh sáng thường trực của một người không bao giờ đứng yên quá vài phút giờ nhuốm thêm một vệt gì đó lạnh hơn. "Suýt nữa kéo chết bốn người."
Whistle không hỏi thêm. Cô đặt đũa xuống, đứng dậy, và Wick, đang nằm cuộn tròn dưới bóng một chiếc xe hàng gần đó, đã bật dậy theo cùng nhịp, tai dựng thẳng trước cả khi chủ nó kịp ra hiệu.
Họ tới lều nghiên cứu của Juno chưa đầy nửa khắc sau đó.
"Ta biết," Juno nói, không chờ Ryn kịp nói hết câu, tay cô đã đang lật nhanh qua từng trang trong cuốn sổ dày cộm luôn mang theo bên người. "Một trinh sát khác báo về cùng lúc, qua đường trạm phía tây. Cùng một đêm, cùng một sự kiện." Cô đẩy chiếc kính một tròng gắn thấu kính tự chế lên sát mắt hơn, giọng cô nhanh hơn cả bình thường, thứ chỉ xảy ra khi cô thật sự hoảng, dù gương mặt cô vẫn cố giữ một vẻ điềm tĩnh nghề nghiệp. "Ta đã tính lại đường cong suy giảm suốt cả đêm."
Cô trải một tấm bản đồ lớn hơn hẳn tấm bản đồ hai năm trước, phủ kín những đường viền mực đỏ đan chồng lên nhau, mỗi đường một lần đo đạc, mỗi lần đo đạc một mốc thời gian ghi nhỏ bên cạnh.
"Cha ta từng nói Vực Liệt không phải một vết thương cố định, mà đang trôi, chậm tới mức không ai trong một đời người có thể tự mình đo được," Juno nói, giọng cô chùng xuống một chút ở câu này, như vẫn luôn chùng xuống mỗi khi nhắc tới ông, dù cô đã học được cách không để nó kéo cô chậm lại quá lâu. "Người ta gọi đó là dị đoan, đuổi ông khỏi Rạng Đông vì nó. Nhưng đường cong này," cô gõ ngón tay lên đường mực đỏ mới nhất, dốc hơn hẳn tất cả những đường trước đó, "không còn là trôi chậm nữa. Nó đang tăng tốc. Nếu số lần Va Chạm Vực cứ tiếp tục tích lũy theo tốc độ này quanh Vực Liệt, con dấu sẽ không cầm cự nổi tới cuối mùa hạ."
"Vậy nghĩa là gì?" Odell hỏi, vẫn đang cố giữ chồng sổ mới nhất khỏi đổ sập lần nữa, giọng anh run nhẹ dù cố tỏ ra bình tĩnh.
"Nghĩa là thứ dưới đó không còn thăm dò nữa," Juno đáp. "Nó đang thử sức."
Whistle bước ra khỏi lều một lúc, và khi cô quay lại, Wick theo sát gót, bộ lông xám bạc của con sói dựng đứng dọc sống lưng dù không có ai đe dọa nó trong bán kính nhiều dặm.
"Không phải chỉ Wick," cô nói, giọng cô trầm và ngắn như mọi khi, chỉ nói vừa đủ để truyền đạt, không thừa một chữ. "Cả bầy hươu phía nam cũng bỏ đồng cỏ quen thuộc đêm qua, chạy xa hơn ba lần khoảng cách chúng từng chạy trước đây. Chim cũng vậy. Cả một khu tổ chim én bỏ trống chỉ trong một đêm, không phải vì mùa, không đúng mùa để chúng di cư." Cô nhìn xuống Wick, bàn tay đặt nhẹ lên đầu con sói. "Nó không sợ người. Không sợ lửa. Chỉ sợ đúng một thứ trong đời, và tối qua, lần đầu tiên, cả một vùng đất rộng hơn hẳn phạm vi Vực Liệt cũng sợ giống nó."
Không ai trong lều cần Juno diễn giải thêm bằng số liệu. Thứ Whistle vừa mô tả, bằng thứ ngôn ngữ chưa từng nói dối cô, đã đủ rõ ràng hơn bất kỳ đường mực đỏ nào trên tấm bản đồ.
Hội đồng trưởng lão họp lại trước giờ ngọ, sớm hơn bất kỳ phiên họp khẩn cấp nào trong trí nhớ của Ryn, tại lều lớn giữa trại, nơi ánh nắng ban ngày lọt qua khe vải thay cho ánh lửa đêm thường lệ.
Người trưởng lão già nhất, tóc trắng bạc buộc thành búi cao gài đầy lông chim, ngồi ở vị trí trung tâm như mọi lần, nhưng lần này ông không im lặng lắng nghe theo cách thong thả quen thuộc. Ông hỏi dồn dập, ngắt lời Juno hai lần để hỏi lại những con số, một điều ông hiếm khi làm.
"Ba tuần trước ta đã nói, chưa phải lúc này," ông nói, khi Juno trình bày xong, giọng ông không còn chút chắc chắn nào của lần trước. "Nhưng ta cũng nói điều đó suốt hai mươi năm, mỗi lần có tin xấu từ bảy Thành, và mỗi lần Liên Minh đều sống sót nhờ chính sự thận trọng ấy." Ông nhìn quanh vòng tròn những gương mặt khắc khổ vì nắng gió, rồi dừng lại ở Ryn. "Con nghĩ lần này khác thế nào?"
"Vì lần trước, thứ đang tới chỉ đe dọa bảy Thành," Ryn đáp, không do dự dù giọng cô vẫn còn hơi thở dốc vì cả buổi sáng chưa kịp nghỉ. "Lần này nó không phân biệt ai có tường thành, ai không. Ashfall sống ngay trong lòng Vực Liệt còn không kiểm soát nổi thứ họ đánh thức. Chúng ta không có tường thành, không có quân đội thường trực. Nếu Vực Liệt vỡ hẳn, đồng cỏ này sẽ là nơi đầu tiên không còn chỗ nào để chạy tới, vì sẽ không còn Thành nào đứng vững để chúng ta trốn sau lưng."
Một trưởng lão khác, người phụ nữ có gương mặt hằn đầy nếp nhăn vì nắng, lên tiếng phản đối, giọng bà gay gắt hơn hẳn. "Trăm năm nay ta không đổ máu con cháu mình cho những cuộc chiến của bảy Thành. Ông cố của ta từng cảnh báo: một khi Liên Minh chọn phe, chúng ta sẽ mãi mãi bị kéo vào chính trị của họ, dù thắng hay thua trận này." Bà nhìn thẳng vào Ryn. "Con còn quá trẻ để nhớ, nhưng có những thế hệ trước ta từng thử tin tưởng bảy Thành, và cái giá phải trả không bao giờ được họ hoàn lại đủ."
"Ta không đề nghị chọn phe," Juno chen vào, giọng cô lấy lại vẻ hệ thống, mạch lạc, phiên bản dùng để thuyết phục những người không dễ bị thuyết phục. "Ta đề nghị bảo vệ đúng một thứ: những đoàn người đang chạy trốn khỏi vùng đất sắp sụp xuống dưới chân họ. Không phải quân Rạng Đông, không phải quân Minh Dạ. Dân thường. Cả Ashfall lẫn bất cứ ai khác đang ở trong bán kính đó." Cô gõ ngón tay lên tấm bản đồ lần nữa. "Chúng ta không cần cầm vũ khí đứng vào một chiến tuyến chính trị nào cả. Chúng ta chỉ cần đảm bảo đường rút còn mở, đúng như cách chúng ta vẫn luôn làm khi một cơn bão cát tràn qua đồng cỏ và có những đoàn lữ hành khác không kịp chạy."
Câu nói cuối cùng ấy, dù Juno không cố ý, đã chạm đúng vào thứ mà cả trại đều hiểu nhưng hiếm khi nói thành lời: Ryn không phải người duy nhất từng mất người thân vì một cơn bão không ai kịp cảnh báo.
Cuộc tranh luận kéo dài tới quá trưa, dài hơn bất kỳ phiên họp nào Ryn từng chứng kiến. Có những gia đình phản đối kịch liệt, lo sợ lặp lại một vết thương cũ hơn cả trăm năm trung lập, những câu chuyện về tổ tiên từng bị lôi vào cuộc chiến của Thất Trụ đời đầu rồi bị bỏ rơi khi không còn hữu dụng nữa. Có những người trẻ hơn, đặc biệt trong số vẫn còn nhớ rõ câu chuyện của Ryn, đứng về phía ngược lại, cho rằng đứng yên nhìn cả một dân tộc khác chết dần không còn là thận trọng nữa, mà là một dạng khác của việc bỏ chạy.
Chính người trưởng lão già nhất là người phá vỡ thế bế tắc, không phải bằng một tuyên bố dứt khoát, mà bằng một câu hỏi ông đặt ra cho chính mình, nói to đủ để cả lều nghe thấy.
"Trăm năm nay ta dạy các con rằng sự sống còn của một dân tộc không có tường thành nằm ở việc biết khi nào nên tránh xa lửa," ông nói, chậm rãi, như đang cân từng chữ trên đầu lưỡi. "Nhưng ta chưa bao giờ dạy các con phải làm gì khi ngọn lửa ấy đủ lớn để thiêu rụi cả cánh đồng cỏ chúng ta đang đứng, dù ta có tránh xa nó tới đâu."
Ông đứng dậy, chiếc áo choàng cũ sờn của ông kéo lê một vệt trên nền đất.
"Ta sẽ không gửi con cháu mình ra chiến tuyến để giành đất, giành quyền, giành danh vọng cho bất kỳ Thành nào," ông nói. "Nhưng ta sẽ không để lịch sử ghi lại rằng Liên Minh Du Mục đứng nhìn cả một dân tộc khác, dù là Ashfall hay bất cứ ai, chết ngạt dưới bóng tối chỉ vì chúng ta sợ dây mình vào một cuộc chiến không phải của mình." Ông quay sang Juno, Ryn, Whistle, lần lượt từng người một. "Ba đứa các con sẽ dẫn đội bọc hậu. Bảo vệ đường rút. Không hơn, không kém. Nếu có ai trong bảy Thành muốn biến việc này thành một liên minh chính trị, hãy để họ tự nói ra điều đó, chúng ta sẽ không nói trước."
Phòng họp im lặng một lúc lâu, rồi từng người, từng người một, gật đầu, không phải vì mọi bất đồng đã tan biến, mà vì tất cả đều hiểu: khi người trưởng lão già nhất trong Liên Minh đứng dậy nói câu ấy, trăm năm trung lập, theo một cách nào đó, đã kết thúc ngay tại chính khoảnh khắc này, dù chưa ai kịp gọi tên nó.
Việc chuẩn bị diễn ra nhanh tới mức đáng ngạc nhiên đối với một cộng đồng vốn quen sống chậm rãi theo mùa. Đến khi mặt trời ngả bóng về chiều, một đội quân nhỏ, gọn nhẹ, gồm những kỵ binh giỏi nhất và vài chục người tình nguyện, đã tập hợp ở rìa trại, ngựa đã được thắng yên, túi lương khô đã được chia đều không theo cấp bậc mà theo số ngày đường.
Ryn không chỉ huy theo cách một sĩ quan chỉ huy. Cô di chuyển liên tục dọc hàng người, kiểm tra dây cương, kiểm tra túi nước, hỏi tên từng người tình nguyện trẻ tuổi cô chưa quen mặt, ghi nhớ chúng theo cách cô vẫn luôn ghi nhớ mọi tuyến đường mình từng chạy qua, không bỏ sót một chi tiết.
"Chúng ta không đi đánh nhau với Vực Thẳm," cô nói lớn, đứng trên một mô đất cao để cả đội nghe rõ, giọng cô vang xa hơn hẳn thân hình nhỏ bé của mình. "Chúng ta đi để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau khi đường rút đóng lại. Nhanh hơn thứ đang đuổi theo họ, đó là việc của chúng ta, chỉ vậy thôi. Không ai trong các người phải chứng minh gì cả. Sống sót, và giữ cho người khác cũng sống sót, đã là đủ."
Whistle không nói gì thêm ngoài việc huýt một tiếng ngắn, và từ những bụi cỏ rậm quanh trại, không chỉ Wick mà cả nửa tá thành viên khác trong bầy sói cô vẫn giữ liên lạc suốt nhiều năm lặng lẽ hiện ra, xếp thành đội hình quanh nhóm kỵ binh, như thể chúng đã chờ đúng tín hiệu này từ lâu.
Juno, đi sau cùng, mang theo tấm bản đồ đã đánh dấu sẵn ba tuyến đường khả dĩ mà đoàn người tị nạn có thể chọn, cùng Odell lẽo đẽo theo sau với một túi da nặng trịch đựng đủ loại dụng cụ đo đạc mà cô khăng khăng có thể cần dùng tới.
Họ tới rìa khu vực nguy hiểm ngay trước khi trời tối hẳn, và cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt Ryn không phải một chiến trường, mà là một dòng người.
Đoàn người từ Ashfall kéo dài xa hơn cô tưởng, lê bước ra khỏi những lối vào hang động giờ đã bắt đầu sụp lở từng mảng, mang theo bất cứ thứ gì họ kịp vơ vội trước khi chạy: một bọc chăn, một chiếc rương gỗ nhỏ, một đứa trẻ ẵm trên vai. Không có kỷ luật quân đội trong bước chân họ, chỉ có sự hoảng loạn được kìm nén tới mức gần như trở thành trật tự, thứ trật tự chỉ những người đã quen sống dưới bóng của một hiểm họa lâu năm mới có thể duy trì được ngay cả khi hiểm họa ấy cuối cùng cũng ập tới.
Người dẫn đầu đoàn là một người đàn ông gầy gò, da xanh xám với những đường gân tím nhạt nổi rõ dưới lớp khăn che nửa mặt, đang cố gắng vừa dìu một bà lão đi chậm chạp phía sau, vừa quay đầu lại hét lớn để giữ cho hàng người phía sau không tách rời quá xa.
"Doran," Ryn nói khẽ, nhận ra anh gần như ngay lập tức, dù chỉ mới gặp mặt anh vài lần thoáng qua trong những cuộc họp Hội Đồng căng thẳng. Cô thúc ngựa tiến lên trước.
Doran quay lại khi nghe tiếng vó ngựa, và trong một tích tắc, ánh mắt anh lóe lên sự cảnh giác quen thuộc, phản xạ của một người đã học được từ nhỏ rằng bất cứ ai xuất hiện đột ngột trên con đường của Ashfall đều có thể mang tới nguy hiểm nhiều hơn giúp đỡ. Nhưng khi nhận ra bộ áo khoác trắng vàng nhạt và lá cờ nhỏ thêu vật tổ Du Mục cài trên yên ngựa cô, sự cảnh giác ấy dịu lại thành một sự ngỡ ngàng trần trụi.
"Các người tới đây làm gì?" anh hỏi, giọng anh khàn đặc vì đã hét nhiều giờ liền.
"Giữ đường cho các người chạy," Ryn đáp gọn, không có thời gian cho những lời giải thích dài dòng. "Còn bao nhiêu người phía sau?"
"Gần bốn trăm," Doran nói, và trong giọng anh có một sự kiệt sức sâu hơn cả thể xác, thứ kiệt sức của một người đã dành cả đời bảo vệ những kẻ không ai muốn nhận, giờ đây phải bảo vệ họ khỏi chính thứ đã từng là mái nhà của tất cả. "Phần lớn là người già và trẻ con. Vess và mấy người khác đang cầm chân phía sau, ngăn không cho những thứ đang trồi lên từ các khe nứt bắt kịp đoàn."
Ngay lúc đó, một tiếng thét vọng tới từ cuối hàng người, chát chúa, hoảng loạn.
Ryn không chờ thêm một giây nào.
"Whistle, giữ hai bên sườn!" cô hét, và ngay khi câu nói vừa dứt, Trạng Thái Cuồng Tốc trong người cô đã bừng lên, một vệt sáng vàng nhạt như cát bụi cuốn theo gót ngựa khi cô thúc nó lao thẳng về phía tiếng thét, tốc độ dâng lên từng nhịp một khi cô còn tiếp tục di chuyển, đúng như nó vẫn luôn làm kể từ ngày cô tám tuổi.
Thứ đang tấn công cuối đoàn không phải một khối đen đặc như thứ đã trồi lên ở phòng tuyến Rạng Đông đêm qua, mà là hàng chục nhánh nhỏ hơn, mảnh mai, mù quáng, đâm lên từ những vết nứt rải rác dọc con đường mòn, mỗi nhánh cố quấn lấy bất cứ thứ gì chuyển động gần đó.
Một nhánh đen đã quấn được cổ chân một cậu bé đang cố kéo bà mình chạy nhanh hơn, cả hai ngã sấp xuống đất, tiếng thét của cậu bé xé toạc màn đêm đang buông xuống.
Ryn phóng thẳng tới, không giảm tốc, phi thân xuống ngựa ngay khi nó còn đang lao đi, một chân trượt trên nền đất theo đúng động tác cô đã luyện hàng nghìn lần, và Cuồng Phong Kích trong tay cô bung ra như một cơn gió cuộn bụi vàng nhạt, đánh thẳng vào gốc nhánh đen, hất nó văng ra khỏi cổ chân cậu bé, để lại một vòng xoáy sáng mờ, dấu Gió Cuốn, trên bề mặt của thứ chất đen vừa bị đánh bật.
"Chạy tiếp!" cô hét với hai bà cháu, kéo họ đứng dậy bằng một tay trong lúc tay kia đã vung ra một cú nữa, nhắm thẳng vào dấu Gió Cuốn vừa để lại, tận dụng nó theo đúng cách cô vẫn luôn dùng, một cú lướt nối cú lướt, không một nhịp nghỉ.
Xung quanh cô, Whistle đã lao vào giữa một cụm nhánh đen khác đang cố vươn lên từ một khe nứt lớn hơn, không phải bằng vũ khí, mà bằng chính đôi tay trần, ba vệt móng vuốt sáng vàng nâu hiện lên trên da cô mỗi lần cô ra đòn, mắt cô ánh lên như mắt sói dưới ánh hoàng hôn đang tắt dần. Wick và bầy của nó tản ra hai bên sườn đoàn người, không tấn công trực diện, mà lùa những nhóm dân thường tách rời quay trở lại đội hình chính, đúng như cách một con sói đầu đàn vẫn luôn giữ cho bầy của mình không bị chia cắt giữa hoang dã.
Juno, đứng lại phía sau trên một mỏm đất cao hơn, không lao vào giao chiến trực tiếp. Cô quan sát toàn cảnh, và mỗi khi thấy ai đó sắp bị kéo trượt về phía một khe nứt, một vệt sáng tím đen cong lại quanh người đó, Lực Kéo của cô giật họ ngược trở lại, có khi kéo về phía cô, có khi, khi khoảng cách quá xa, chính cô là người bị kéo tới bên họ trong một cái chớp mắt, Hoán Vị đưa cô đổi chỗ ngay tức khắc với một đứa trẻ đang đứng chôn chân sát mép một vết nứt mới toác.
Trận chiến ấy, nếu có thể gọi là một trận chiến, kéo dài không quá vài phút, không có Mở Vực nào được dùng tới, chỉ có những đòn đánh nhanh, chính xác, tính toán, đúng như cách cả ba người bọn họ vẫn luôn hành động khi nhiệm vụ không phải là tiêu diệt mà là bảo toàn.
Khi những nhánh đen cuối cùng rút lại xuống các khe nứt, có lẽ vì cảm nhận được rằng con mồi lần này không còn dễ dàng như những đêm trước, đoàn người tị nạn Ashfall đã lùi hẳn ra khỏi vùng nguy hiểm nhất, dồn thành một khối chặt hơn quanh những kỵ binh Du Mục đang dàn hàng bảo vệ họ từ mọi phía.
Vess, mái tóc đỏ sẫm rối bù dính đầy tro bụi, mắt cô lóe lên thứ ánh sáng đỏ nhạt quen thuộc mỗi khi cô đã cạn gần hết sức, chạy tới từ cuối hàng, một tay dìu một người đàn ông bị thương ở chân. Cô dừng lại khi thấy Ryn, ánh mắt cô lướt nhanh qua bộ áo khoác trắng vàng nhạt, lá cờ vật tổ, và cả bầy sói vẫn đang tuần tra dọc hai bên sườn đoàn người.
"Du Mục," cô nói, giọng cô vẫn còn thở dốc, không rõ là câu hỏi hay một lời xác nhận với chính mình.
"Chúng tôi không tới để chiến đấu thay các người," Ryn nói, lau một vệt mồ hôi trên trán bằng mu bàn tay. "Chúng tôi tới để đảm bảo con đường này còn mở, cho tất cả những ai cần chạy qua nó, không riêng gì Ashfall."
Vess không đáp lại ngay. Cô nhìn quanh, nhìn đoàn người của mình, những đứa trẻ đang bám chặt lấy áo người lớn, những cụ già thở dốc nhưng còn sống, và có một thứ gì đó trong ánh mắt cô, không hẳn là biết ơn, cũng không hẳn là tin tưởng, mà là một sự nhìn nhận lặng lẽ, dè dặt, của một người đã quá quen với việc bị cả lục địa ruồng bỏ để dễ dàng tin vào bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài.
"Trăm năm các người đứng ngoài mọi chuyện của bảy Thành," cô nói cuối cùng, chậm rãi. "Tại sao lần này lại khác?"
"Vì lần này không phải chuyện của bảy Thành nữa," Ryn đáp, ánh mắt cô lướt qua đường viền tối đen của Vực Liệt đang hiện rõ dần phía xa dưới bầu trời chạng vạng. "Là chuyện của tất cả những ai còn đang đứng trên mảnh đất này."
Đêm đó, khi đoàn người tị nạn cuối cùng đã được đưa qua khỏi khu vực nguy hiểm nhất, tới gần rìa phòng tuyến nơi những đội tuần tra Rạng Đông đang canh gác, một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử Veylorn diễn ra, lặng lẽ tới mức gần như không ai kịp nhận ra tầm quan trọng của nó ngay lúc ấy.
Một toán lính tuần tra Rạng Đông, dẫn đầu bởi một sĩ quan trẻ, tiến ra nghênh đón đoàn người, và khi ánh đuốc của họ chiếu rõ lá cờ vật tổ cài trên yên ngựa của những kỵ binh Du Mục đang hộ tống phía sau, viên sĩ quan trẻ khựng lại một nhịp, không hẳn vì cảnh giác, mà vì ngỡ ngàng.
Anh ta không nói gì, chỉ đưa tay lên chào, một cử chỉ quân sự đơn giản, nhưng là lần đầu tiên trong hơn một trăm năm một người lính chính thức của Thất Trụ chào một kỵ binh Du Mục không phải như một người xa lạ trung lập ghé qua, mà như một đồng minh vừa cùng đứng qua một trận chiến.
Ryn, đứng cách đó không xa, một tay vẫn còn nắm dây cương ngựa, nhìn thấy cử chỉ ấy, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, cô nghĩ tới người trưởng lão già nhất, tới câu nói của ông trong lều họp chiều nay, tới trăm năm trung lập đã dạy cô cách sống sót bằng sự thận trọng.
Cô không biết liệu quyết định hôm nay có phải là điều đúng đắn nhất cho tương lai của Liên Minh hay không. Cô không biết liệu, như người trưởng lão phản đối từng cảnh báo, việc này có kéo dân tộc mình vào một cuộc chiến sẽ còn đeo bám họ lâu sau khi tiếng gào của Vực Thẳm đã im bặt hay không.
Nhưng cô biết một điều, rõ ràng hơn bất cứ điều gì cô từng biết kể từ năm mình tám tuổi: lần này, đứng lại không phải là chờ chết. Lần này, đứng lại nghĩa là có bốn trăm người, những người xa lạ, những người thuộc về một dân tộc từng bị chính lục địa này xóa tên, giờ vẫn còn sống để nhìn thấy một buổi bình minh khác.
Có lẽ, cô nghĩ, đó chính là thứ khác biệt duy nhất mà cô cần.