Ba ngày sau đêm khán đài sụp đổ, Thành Rạng Đông vẫn chưa tìm lại được nhịp thở bình thường của nó. Tuyết đầu xuân đã bắt đầu tan trên mái các đại lộ, để lộ ra những vệt bùn xám lẫn với tro cũ chưa kịp dọn sạch, và trong không khí ẩm ướt ấy vẫn còn phảng phất một thứ mùi không ai muốn gọi tên. Đại sảnh dưới chân Minh Đài lại một lần nữa được thắp sáng cho một phiên họp khẩn, nhưng lần này khác hẳn đêm trước: không còn sự hoảng loạn của những giờ đầu sau thảm họa, mà là một cơn giận đã được ủ đủ lâu để trở nên lạnh và sắc.
Bảy chiếc ghế quanh bàn đá cẩm thạch đều có người ngồi, nhưng lần này thêm hai hàng ghế phụ dựng vội ở rìa phòng, dành cho các cố vấn và nhân chứng được triệu tập. Juno và Odell ngồi ở một góc, tấm bảng biểu đêm trước đã được cất đi, thay vào đó là một chồng tài liệu mới, mỏng hơn nhưng, theo cách Odell run tay lật từng trang, có vẻ nặng nề hơn nhiều.
Vị đại biểu già chủ trì gõ nhẹ đốt ngón tay lên mặt bàn đá, thu hút sự chú ý của cả phòng. "Chúng ta đã đình chỉ Đại Tranh Kế Vực," ông nói, giọng khàn vì ba đêm liền mất ngủ. "Nhưng còn một câu hỏi chưa ai trong chúng ta dám hỏi thẳng: làm sao một kẻ như Corvin có thể gieo hàng chục Dấu Khắc lên các ứng viên suốt nhiều tháng trời, ngay giữa lòng bảy Thành, mà không một cơ quan tình báo nào của chúng ta phát hiện ra?"
Một sự im lặng ngắn trôi qua, đủ để mọi ánh mắt trong phòng bắt đầu lướt về cùng một hướng, dù chưa ai nói ra thành lời.
"Có lẽ," đại biểu Vọng Cốc lên tiếng, giọng bà đã bớt run so với đêm trước nhưng vẫn còn nguyên sự sắc lạnh, "câu trả lời không nằm ở việc chúng ta thiếu tình báo, mà ở việc tình báo của chúng ta đã không được dùng đúng chỗ nó cần được dùng."
"Bà đang ám chỉ điều gì?" một đại biểu khác hỏi, dù giọng ông cho thấy ông đã đoán được câu trả lời.
"Tôi đang nói," bà đáp thẳng, "rằng đã đến lúc Hắc Nguyệt Môn phải giải trình trước Hội Đồng này, thay vì tiếp tục núp sau cái cớ bí mật nghiệp vụ mà họ vẫn dùng suốt ba trăm năm qua."
Vares được đưa vào phòng chưa đầy mười phút sau đó, đi giữa hai người lính hộ tống, tuy chưa bị coi là tù nhân nhưng cũng không còn được đối xử như một khách mời bình thường. Ông đã già hơn nhiều so với hình ảnh người ta còn nhớ về ông từ nhiều năm trước, mái tóc bạc trắng gần hết, dáng đi vẫn thẳng nhưng có gì đó gượng gạo, như một người đã quen giữ vẻ điềm tĩnh lâu tới mức nó trở thành một lớp áo giáp mỏng dính chặt lấy da thịt.
Ông đứng trước bàn đá, không cúi đầu, không tỏ vẻ sợ hãi, chỉ đưa mắt nhìn quanh phòng một lượt, như đang định giá xem còn ai trong số này từng là bạn của ông.
"Môn chủ Vares," vị đại biểu chủ trì nói, "Hội Đồng triệu ông tới đây để giải trình về việc Ashfall đã có thể gieo Dấu Khắc lên gần như toàn bộ ứng viên còn lại của Đại Tranh Kế Vực mà không một báo cáo nào từ Hắc Nguyệt Môn cảnh báo trước."
"Tôi có thể giải trình," Vares đáp, giọng ông đều và chắc, "nhưng trước hết tôi muốn nhắc Hội Đồng rằng Hắc Nguyệt Môn không hoạt động dưới quyền giám sát trực tiếp của các vị suốt ba thế kỷ nay, và điều đó không phải ngẫu nhiên. Có những việc phải làm trong bóng tối chính vì ánh sáng của phiên họp này không bao giờ tới được đó."
"Vậy có lẽ đã tới lúc điều đó thay đổi," đại biểu Rạng Đông nói, giọng ông vẫn còn mang nguyên vết thương của đêm khán đài sụp đổ ngay dưới chân thành mình.
Vares không đáp ngay. Có một khoảnh khắc rất ngắn, gần như không ai kịp nhận ra, khi ánh mắt ông chùng xuống, không phải vì sợ hãi mà vì một điều gì đó cũ hơn, xa hơn, như thể ông đang nhìn thấy chính mình của rất nhiều năm trước, một thanh niên trẻ mới nhậm chức Môn chủ, còn tin rằng bóng tối mình nắm giữ có thể được dùng để bảo vệ chứ không phải để mặc cả. Khoảnh khắc ấy trôi qua nhanh, và khi ông ngẩng đầu lên lần nữa, gương mặt ông đã trở lại với vẻ điềm tĩnh quen thuộc.
"Tôi đã bảo vệ Minh Dạ," ông nói, "và tôi đã bảo vệ bí mật của con dấu, theo cách duy nhất tôi biết làm, trong một thế giới nơi sự thật, một khi được nói ra không đúng lúc, có thể giết chết nhiều người hơn là im lặng."
Cánh cửa lớn của đại sảnh không mở ra như thường lệ. Thay vào đó, từ một góc tối phía sau hàng cột đá nơi ánh đèn không với tới, một bóng người tách ra khỏi lớp sương xám mờ vẫn bám quanh mình, bước ra giữa ánh sáng như thể vừa hiện hình từ hư không. Vài đại biểu bật dậy khỏi ghế, tay chạm vào vũ khí theo phản xạ, trước khi nhận ra đó chỉ là Thrax.
"Xin lỗi vì cách vào phòng không đúng lễ nghi," anh nói, giọng anh ngắn gọn và bằng phẳng như mọi khi. "Nhưng tôi cần Hội Đồng nghe điều tôi sắp nói trước khi Môn chủ Vares kịp hoàn thành phần giải trình của ông ấy."
Vares quay phắt lại, và trong một tích tắc, lớp điềm tĩnh trên gương mặt ông nứt ra một đường rất mảnh. "Thrax," ông nói, giọng ông hạ thấp như một lời cảnh cáo hơn là một cái tên, "đây không phải chỗ của ngươi."
"Đây chính xác là chỗ của tôi," Thrax đáp, không nhìn Vares mà nhìn thẳng vào vị đại biểu chủ trì. "Bởi vì câu hỏi Hội Đồng vừa đặt ra, làm sao Ashfall có thể gieo Dấu Khắc mà không ai phát hiện, tôi có câu trả lời. Và câu trả lời đó bắt đầu từ mười năm trước, không phải từ mùa giải này."
Anh đặt lên bàn một tập hồ sơ mỏng, bìa da cũ sờn, thứ mà bất cứ ai từng làm việc trong Hắc Nguyệt Môn đều nhận ra ngay là loại hồ sơ nội bộ, không bao giờ được phép rời khỏi tường thành Minh Dạ. Và những ghi chép của Sable đưa cho anh khi hai người trao đổi về vấn đề này.
"Mười năm trước," Thrax nói, "một toán bí mật đã thảm sát Đền Băng Vĩnh Cửu và đổ tội cho Ashfall. Cùng đêm đó, hoặc gần như cùng lúc, một xưởng rèn nhỏ trong khu chợ đêm Minh Dạ cũng cháy rụi, giết chết một người thợ rèn và vợ ông ta, để lại một đứa trẻ mười hai tuổi. Hai vụ việc mà suốt nhiều năm không ai nối lại với nhau, cho tới khi chính đứa trẻ ấy, giờ đã lớn, phát hiện ra chúng mang cùng một kiểu vết cháy."
Ánh mắt vài đại biểu chuyển sang bối rối, chưa hiểu Thrax đang dẫn câu chuyện tới đâu, nhưng Juno, ngồi ở góc phòng, đã siết chặt tay trên đùi, gương mặt cô căng lên vì bà đã đoán được phần nào điều sắp tới.
"Người thợ rèn đó là cha của Kael," Thrax nói. "Sư đệ của tôi."
"Tôi đã dành nhiều tháng thu thập những gì mình cần," anh tiếp tục, lật từng trang hồ sơ chậm rãi, không vội vàng, đúng như cách anh vẫn luôn làm mọi việc. "Bắt đầu từ một cuộc chạm trán tình cờ với một hậu duệ Ashfall giữa mùa hạ năm ngoái, người đã gieo vào tôi câu hỏi đầu tiên về lòng trung thành của chính Môn chủ mình. Rồi từ lời thú nhận của Sable, người đã xác nhận Vares từng bán tin về Đền Băng cho một phe giấu mặt trong chính Thất Trụ, đổi lấy một vị thế an toàn hơn cho Minh Dạ. Và cuối cùng, từ chính hồ sơ nội bộ của Môn, những tài liệu mà lẽ ra không ai ngoài Môn chủ được quyền chạm tới."
"Đó là những cáo buộc không có căn cứ pháp lý," Vares cắt ngang, giọng ông giờ đã mất đi phần nào sự bình thản ban đầu. "Lời của một kẻ dưới quyền chống lại người đứng đầu Môn không thể được coi là bằng chứng trước Hội Đồng."
"Vậy hãy để tôi nói điều có căn cứ," Thrax đáp, rút từ tập hồ sơ ra một trang giấy đã ố vàng, đặt nó lên bàn trước mặt vị đại biểu chủ trì. "Đây là lệnh gốc, có chữ ký và ấn triện của Môn chủ Vares, giao nhiệm vụ ám sát một Vực Chủ vô danh mang tên Yumi, hồ sơ ghi rõ lý do là cô ta mang tài liệu nguy hiểm cho Minh Dạ. Nhưng tài liệu đó, như chúng ta giờ đều biết, chính là mảnh huy hiệu duy nhất còn sót lại từ Đền Băng, thứ có thể vạch trần rằng vụ thảm sát đó không phải do Ashfall gây ra."
Một vài đại biểu trao đổi ánh mắt, và lần đầu tiên kể từ khi Vares bước vào phòng, không khí quanh ông thay đổi hẳn, không còn là sự dè dặt trước một Môn chủ quyền lực, mà là sự cảnh giác trước một kẻ đang bị lột dần từng lớp áo giáp.
"Ông không cử Kael đi vì Minh Dạ gặp nguy hiểm," Thrax nói, giọng anh lần đầu tiên trong cả buổi mang một chút gì đó gay gắt hơn thường lệ, dù vẫn không hề lớn tiếng. "Ông cử một đứa trẻ mồ côi chính Môn từng nuôi lớn đi g-iết người duy nhất còn giữ bằng chứng có thể lật lại bí mật của chính ông. Ông biết Kael sẽ không do dự, vì đó chính là những gì Môn đã huấn luyện nó trở thành. Ông biến sự vô cảm mà chính Môn tạo ra nơi nó thành công cụ để che giấu tội lỗi của mình."
Vares im lặng một lúc lâu, và trong khoảng lặng ấy, có thể thấy rõ ông đang cân nhắc, không phải để chối tội, mà để tìm ra cách nào diễn đạt phần sự thật còn lại theo hướng có lợi nhất cho mình.
"Được," ông cuối cùng nói, giọng ông hạ xuống, gần như mệt mỏi. "Tôi đã bán tin về Đền Băng. Nhưng ta làm vậy không phải vì tiền bạc hay tham vọng cá nhân, mà vì khi đó, Minh Dạ đang đứng trước nguy cơ bị một liên minh trong chính Thất Trụ cô lập hoàn toàn, cắt đứt mọi nguồn lực, chỉ vì lịch sử của Môn gắn liền quá gần với những gì người ta coi là tàn dư Ashfall. Ta có một lựa chọn: để cả Thành mình chết dần vì bị cô lập, hoặc trao đi một mảnh thông tin mà khi đó ta tin, thật lòng tin, sẽ không dẫn tới hậu quả nghiêm trọng nào."
"Ông tin sai," đại biểu Vọng Cốc nói, giọng bà lạnh như băng. "Và hậu quả của niềm tin sai lầm đó là một ngôi đền bị xóa sổ, một gia đình bị thiêu rụi, và mười năm sau, hai trăm ba mươi bảy người chết dưới khán đài chính Thành này."
"Tôi không thể chịu trách nhiệm cho những gì Ashfall đã làm với thông tin đó," Vares phản bác, nhưng lần này giọng ông đã không còn giữ được sự chắc chắn ban đầu.
"Không, đó không chỉ là Ashfall," Thrax nói, "nhưng ông phải chịu trách nhiệm cho việc, sau khi biết mảnh bằng chứng ấy có thể vạch trần sự thật, ông đã chọn g-iết người mang nó thay vì công khai sai lầm của chính mình. Ông phải chịu trách nhiệm cho việc, suốt mười năm sau đó, ông tiếp tục giữ im lặng, tiếp tục để Minh Dạ vận hành trên một nền móng dối trá, ngay cả khi cơ hội sửa chữa vẫn còn đó. Và ông phải chịu trách nhiệm cho việc, khi Kael cuối cùng cũng lần ra sự thật, ông đã ra lệnh truy sát chính đứa trẻ ông từng nuôi lớn, chỉ để giữ cho bí mật ấy không bao giờ lộ ra."
Anh rút từ tập hồ sơ ra trang giấy da mỏng, mực còn chưa kịp phai, thứ anh đã tìm thấy trong đêm đột nhập kho lưu trữ của Vares. "Và còn một tội nữa," anh nói, giọng anh không lớn hơn nhưng có một sự lạnh lẽo mới trong đó, "một tội ông vẫn đang phạm cho tới tận đêm trước khi khán đài sụp đổ. Đêm Ủy ban xác nhận Kael và Yumi còn sống, ông đã gửi thêm một khoản liên lạc cho đúng kẻ mua tin cũ của mình trong Thất Trụ, đúng như mọi lần trước đó suốt mười năm qua.”
“Ông không trực tiếp ra lệnh cho toán áo xám tấn công bán kết, tôi biết rõ ông không còn đủ quyền để làm vậy, nhưng ông đã bán thêm cho chúng thứ duy nhất chúng còn thiếu: biết rằng hai người ấy còn sống, còn ở đâu, và sẽ đứng giữa một nơi đông người vào sáng hôm sau. Ông không cầm con dao đêm đó, Vares, nhưng ông đã chỉ đường cho kẻ cầm nó.”
“Hai trăm ba mươi bảy người chết dưới khán đài không chỉ vì một bí mật mười năm trước ông giấu kín. Họ chết một phần vì ông vẫn đang chủ động gây hại, tới tận phút cuối cùng, ngay cả khi đã biết rõ hậu quả."
Căn phòng chìm trong im lặng, thứ im lặng nặng nề của những người vừa nghe đủ để không còn nghi ngờ gì nữa. Vares đứng đó, không còn cố biện minh thêm, chỉ nhìn quanh phòng một lượt cuối cùng, như đang tìm kiếm một gương mặt nào đó sẵn sàng lên tiếng thay ông. Không ai lên tiếng.
"Hội Đồng sẽ xem xét mọi bằng chứng vừa được trình bày," vị đại biểu chủ trì nói, giọng ông cẩn trọng, "và sẽ đưa ra phán quyết chính thức trong thời gian sớm nhất có thể, theo đúng trình tự..."
"Sẽ không có thời gian nào khác ngoài lúc này," Thrax cắt ngang, và trước khi bất kỳ ai kịp phản ứng, anh đã tan vào lớp sương xám xanh quen thuộc quanh mình, chỉ còn lại một vệt mờ giữa không khí nơi anh vừa đứng.
Vares quay ngoắt người lại, nhưng đã quá muộn. Một tia sáng lục nhạt lóe lên từ phía sau lưng ông, xé qua khoảng không như một hơi thở lạnh, và trước khi bất kỳ ai trong phòng kịp thốt ra một tiếng kêu, Thrax đã hiện ra ngay sau lưng Vares, một mũi phi tiêu ánh xanh cắm gọn vào đúng huyệt đạo nơi cổ, không phải để tra tấn, không phải để phô diễn, chỉ đơn giản là kết thúc, nhanh và chính xác như mọi thứ khác Thrax từng làm trong bóng tối suốt cả cuộc đời mình.
Vares khuỵu xuống, một tiếng thở hắt ra, và trong khoảnh khắc cuối cùng trước khi đôi mắt ông khép lại vĩnh viễn, có một điều gì đó thoáng qua trên gương mặt ông, không hẳn là sợ hãi, mà gần như một sự nhẹ nhõm kỳ lạ, như của một người đã mang một gánh nặng quá lâu và cuối cùng cũng được phép đặt nó xuống, dù bằng cách này.
Không ai trong phòng đứng dậy. Không ai hét lên đòi bắt giữ Thrax. Có một vài tiếng thở gấp, một chiếc ghế bị đẩy lùi vài phân trong phản xạ, nhưng không một ai, kể cả những đại biểu quyền lực nhất của bảy Thành, đủ can đảm để bước ra ngăn cản hoặc lên tiếng phản đối điều vừa xảy ra ngay trước mắt họ. Sau đêm khán đài sụp đổ, sau tất cả những gì Juno vừa trình bày về con dấu, dường như giới hạn giữa công lý và luật lệ đã trở nên mong manh tới mức không ai còn chắc mình đứng ở bên nào là đúng.
Thrax đứng yên một lúc, nhìn xuống người đàn ông vừa ngã xuống dưới chân mình, gương mặt anh không lộ ra chút khoái cảm hay hối hận nào, chỉ là một sự trống rỗng quen thuộc của kẻ đã làm điều cần làm và không cho phép mình cảm nhận thêm gì khác.
"Tôi biết đây là hành động vượt quyền," anh nói, không nhìn ai cụ thể, giọng anh vẫn bằng phẳng như mọi khi dù vừa lấy đi một mạng người. "Tôi sẽ chấp nhận bất kỳ hình phạt nào Hội Đồng thấy phù hợp cho việc đó. Nhưng tôi sẽ không để Vares có thêm một ngày nào nữa để tiếp tục điều khiển những gì còn sót lại của Hắc Nguyệt Môn, không phải sau những gì ông ta đã làm."
Corbett, người trong suốt cả buổi vẫn giữ im lặng đặc trưng của mình, cuối cùng lên tiếng, giọng ông chậm rãi và nặng nề hơn hẳn thái độ toan tính người ta vẫn quen thấy ở ông. "Về mặt pháp lý," ông nói, "đây là một vụ g-iết người không qua xét xử, xảy ra ngay giữa phiên họp chính thức của Hội Đồng Thất Trụ. Nếu tôi còn là con người của một năm trước, tôi sẽ yêu cầu bắt giữ ngươi ngay lập tức, không khoan nhượng." Ông dừng lại, ánh mắt ông lướt qua khoảng trống nơi Vares vừa gục xuống. "Nhưng tôi không còn chắc mình còn là con người của một năm trước nữa. Và tôi nghi ngờ không ai trong căn phòng này còn như vậy."
Không một lá phiếu chính thức nào được đưa ra để định đoạt số phận Thrax đêm đó. Hội Đồng, vốn đã kiệt sức vì phải đưa ra một quyết định lịch sử chỉ ba đêm trước, không còn đủ sức lực hay ý chí để mở thêm một phiên xét xử nữa ngay lập tức. Vị đại biểu chủ trì chỉ ra lệnh niêm phong toàn bộ sự việc, tuyên bố sẽ triệu tập một phiên riêng để xem xét hành vi của Thrax sau khi tình hình trước mắt được giải quyết, một cách nói giảm nói tránh mà ai cũng hiểu rất có thể sẽ không bao giờ thật sự xảy ra, không phải trong một lục địa đang đứng trước bờ vực chiến tranh.
"Hắc Nguyệt Môn giờ không còn thủ lĩnh," vị đại biểu chủ trì nói, giọng ông mang một sự mệt mỏi sâu sắc hơn cả cơn giận. "Ngươi định làm gì với khoảng trống đó, Thrax?"
"Tôi sẽ không tự phong mình lên thay ông ta," Thrax đáp, không một chút do dự, như thể anh đã cân nhắc câu hỏi này từ rất lâu trước khi bước vào phòng. "Một Môn được xây dựng trên nguyên tắc chỉ một người nắm toàn quyền, không ai giám sát, chính là thứ đã cho phép Vares làm những gì ông ta đã làm suốt mười năm qua mà không ai hay biết. Tôi sẽ giao lại kho hồ sơ và quyền điều hành tạm thời cho hai người tôi tin tưởng nhất trong Môn, dưới sự giám sát của một hội đồng cải tổ mà chính Hội Đồng Thất Trụ có quyền chỉ định người tham gia. Hắc Nguyệt Môn sẽ không còn là một bóng tối không ai kiểm soát được nữa."
Khi phiên họp cuối cùng cũng kết thúc, ánh sáng đầu tiên của một buổi sớm xuân mờ nhạt đã bắt đầu len qua những khung cửa lớn của đại sảnh. Các đại biểu lần lượt rời đi trong im lặng nặng nề, không ai còn đủ lời để bàn thêm về những gì vừa chứng kiến.
Nyx và Sable đã có mặt ở tường thành Minh Dạ từ trước khi tin tức chính thức kịp lan tới, được một người đưa tin của Thrax báo trước trong đêm. Cả hai đứng trước cánh cửa dẫn vào kho hồ sơ trung tâm của Hắc Nguyệt Môn, cánh cửa mà suốt bao năm chỉ một mình Vares nắm giữ chìa khóa, giờ đây đã được mở ra theo lệnh của Thrax, để trống hoác như một cái miệng vừa bị bịt kín quá lâu.
"Cảm giác kỳ lạ thật," Sable nói khẽ, tay bà lướt qua khung cửa gỗ cũ, "đứng đây, được phép bước vào, sau ngần ấy năm chỉ đứng ngoài nhìn."
"Ông ấy chết rồi," Nyx nói, giọng cô bằng phẳng, đôi mắt hai màu của cô nhìn thẳng vào bóng tối phía sau cánh cửa. "Nhưng em vẫn không chắc mình nên cảm thấy gì. Không hẳn là nhẹ nhõm. Cũng không hẳn là đau buồn."
"Có lẽ," Sable đáp, "đó chính xác là điều đúng đắn nên cảm thấy. Không phải mọi cái chết đều cần một cảm xúc rõ ràng để đi kèm."
Họ bước vào cùng nhau, ngọn đèn dầu trong tay Sable hắt một quầng sáng vàng nhạt run rẩy lên hàng dãy kệ hồ sơ phủ bụi kéo dài tít vào bóng tối, mỗi ngăn kệ là một bí mật Vares từng dùng để mặc cả, đe dọa, hoặc chôn giấu suốt nhiều thập kỷ cầm quyền. Không ai trong hai người biết chắc bên trong đó còn chứa những gì, bao nhiêu bí mật khác vẫn chưa từng bị phanh phui, bao nhiêu cái tên khác có thể còn bị tổn hại nếu chúng lộ ra không đúng cách. Nhưng lần đầu tiên sau rất nhiều năm, cánh cửa ấy không còn thuộc về một người duy nhất nữa, và điều đó, dù còn mơ hồ, dù còn đầy bất trắc phía trước, vẫn mang một cảm giác giống như một khởi đầu.
Tin tức về cái chết của Vares lan ra khắp bảy Thành nhanh hơn bất kỳ ai có thể kiểm soát, không phải qua kênh chính thức nào của Hội Đồng, mà qua chính những người có mặt trong đại sảnh đêm ấy, những lời thì thầm truyền tay nhau trong các quán rượu và doanh trại, mỗi lần kể lại một khác đi đôi chút, cho tới khi câu chuyện thật sự về những gì đã xảy ra bắt đầu mờ dần vào huyền thoại, đúng như cách phần lớn lịch sử của lục địa Veylorn vẫn luôn được viết lại.
Ở một góc khác của Thành Rạng Đông, trong căn phòng dưỡng thương nơi Boran vẫn còn nằm với cánh tay quấn băng, tin tức tới muộn hơn một chút, qua chính viên sĩ quan trẻ vẫn túc trực bên ông từ đêm phiên họp trước. Boran nghe hết câu chuyện trong im lặng, hàm ông siết chặt không phải vì đau đớn thể xác lần này, mà vì một điều gì đó nặng nề hơn.
"Ba trăm năm," ông cuối cùng nói, giọng khàn đặc, "chúng ta vẫn tin hệ thống của mình đủ vững để tự sửa chữa chính nó. Có lẽ đã đến lúc thừa nhận nó chưa bao giờ thật sự vững như chúng ta muốn tin."