Vòng sơ tuyển đã đi được nửa chặng, và cái nóng gay gắt của giữa hạ, thứ từng khiến cả doanh trại quanh đấu trường mới ngột ngạt suốt nhiều tuần, bắt đầu dịu lại thành những buổi chiều có gió. Vài chiếc lá đầu mùa, sớm hơn hẳn lệ thường, lác đác rụng quanh chân các lều vải, và người ta bàn tán về điều đó nhiều hơn bàn tán về bảng đấu, coi nó như một dấu hiệu cho một mùa thu đến sớm, không ai nghĩ xa hơn thế.
Nỗi sợ về Ashfall, thứ từng khiến cả kinh đô nín thở sau lễ khai mạc, đã lắng xuống thành một câu chuyện cũ được kể lại bên bàn ăn, một mối lo đã hóa thành thói quen: hai lớp lính gác ở mỗi cổng doanh trại, ba đại biểu Hội Đồng ngồi quan sát mỗi trận đấu, những quy định được nhắc đi nhắc lại tới mức không còn ai thật sự nghe thấy chúng nữa. Đó chính xác là điều mà Ashfall cần: không phải sự bất cẩn, mà sự quen thuộc, thứ khiến người ta canh gác một cách máy móc thay vì thật sự cảnh giác.
Trong sáu tuần kể từ ngày năm hậu duệ Ashfall bước thẳng vào giữa quảng trường Rạng Đông, họ không hề biến mất như nhiều người vẫn hy vọng. Họ chỉ lùi lại, quan sát, và chờ.
Cách doanh trại chính hơn một dặm, khuất sau một triền đồi thấp phủ cỏ khô, có một nghĩa trang nhỏ không tên, nơi chôn cất những Vực Chủ vô danh từng chết trong các kỳ Đại Tranh Kế Vực trước, những người không đủ tiếng tăm để được ghi vào sử sách của bất kỳ Thành nào. Không ai trong đoàn hành hương thăm viếng đấu trường từng ghé qua đó, vì gần như không ai còn nhớ nó tồn tại.
Corvin đứng giữa những nấm mộ không bia ấy vào lúc hoàng hôn, áo choàng gạch đá phiến xám của anh gần như hòa vào màu đất đang tối dần. Anh cúi xuống một ngôi mộ nhỏ hơn cả, chỉ là một ụ đất phủ cỏ dại, và đặt lên đó một mảnh xương nhỏ khắc chữ, lấy ra từ chiếc vòng cổ luôn đeo bên mình.
"Ta không biết tên ngươi," anh nói, giọng trầm, chậm rãi, đúng cái cách người ta vẫn nói anh luôn đọc điếu văn ngay cả khi chỉ đang chào hỏi. "Nhưng ta sẽ không để ngươi bị quên lần thứ hai."
Anh không tin vào thần thánh nào cả. Ông chưa từng tin, kể cả những năm còn là một tăng lữ trẻ tự nguyện đảm nhận việc chôn cất người chết của Ashfall, những cái tên chất chồng lên nhau tới mức không ai còn đủ sức nhớ hết. Nhưng anh tin vào một điều duy nhất: bị lãng quên còn tàn nhẫn hơn cái chết, và nếu thế giới này không chịu nhớ tới những người đã ngã xuống, dù họ thuộc phe nào, thì ít nhất phải có một người làm việc đó thay cho tất cả.
Trong cuốn sổ da mỏng anh luôn mang theo, cuốn sổ đã cũ sờn tới mức gáy sổ phải buộc lại bằng một sợi chỉ đỏ thô, anh mở tới một trang trống, chấm bút, và viết xuống một cái tên khác, không phải tên người đã chết, mà tên một trong mười sáu ứng viên còn lại của vòng sơ tuyển.
Đó không phải một lời nguyền rủa. Với Corvin, đó là một lời hứa: dù người này có chết dưới tay anh hay không, tên họ sẽ không bao giờ biến mất khỏi cuốn sổ này.
Ilona tìm thấy anh khi bóng tối đã phủ kín triền đồi, bước chân cô gần như không gây một tiếng động nào trên lớp cỏ khô, đúng thói quen của một người đã học được từ năm tám tuổi rằng bị chú ý luôn đồng nghĩa với nguy hiểm.
"Anh lại tới đây," cô nói, không phải một câu hỏi.
"Ta luôn tới đây, trước mỗi lần cần làm một việc mà ta không hoàn toàn thấy thoải mái," Corvin đáp, gấp cuốn sổ lại, cất vào trong áo choàng. "Ngươi tính toán xong chưa?"
Ilona ngồi xuống một phiến đá gần đó, kéo áo choàng đá lam sẫm quanh vai chặt hơn dù trời chưa lạnh, một thói quen cũ hơn cả lý do thời tiết. "Vòng sơ tuyển sẽ kết thúc trong khoảng năm tuần nữa," cô nói, giọng cô đều đều như đang đọc một con số đã tính đi tính lại nhiều lần trong đầu. "Tứ kết sẽ diễn ra ngay sau đó, đúng lúc Hội Đồng dồn hết sự chú ý và nguồn lực vào việc tổ chức, đúng lúc họ tin rằng mối đe dọa lớn nhất đã qua đi vì chúng ta không hành động gì suốt sáu tuần liền. Đó là thời điểm hoàn hảo để mọi lời nguyền cùng vỡ ra một lượt."
"Ngươi vẫn chưa trả lời câu hỏi của ta," Corvin nói, không phải trách móc, chỉ là một sự kiên nhẫn quen thuộc giữa hai người đã làm việc cùng nhau đủ lâu để không cần vòng vo.
Ilona im lặng một lúc, mắt cô nhìn xuống hai bàn tay trống trơn, không một món trang sức nào, như cô vẫn luôn giữ từ năm tám tuổi. "Ta đã tính được thời gian vỡ chính xác cho mười hai người," cô nói. "Nhưng có một điều lạ. Mạch của ta bắt vào một số Dấu Khắc của anh dễ hơn hẳn những dấu khác, như thể... như thể chúng cộng hưởng với nhau theo cách ta chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào khác trong Vực Liệt."
Corvin ngẩng lên, một thoáng gì đó gần như tò mò lướt qua gương mặt xám tro thường ngày ít biểu cảm của anh. "Nói rõ hơn."
"Trên những người anh đã đánh dấu bằng Tử Chạm," Ilona nói chậm rãi, "Chú Ấn của ta bám chặt hơn, đồng hồ đếm ngược chạy ổn định hơn, ít bị nhiễu bởi Mạch riêng của người mang dấu. Cứ như hai loại dấu của chúng ta, xương và lời nguyền, cái chết và số phận, vốn dĩ được sinh ra để đi cùng nhau." Cô ngừng lại, ánh mắt tím thẫm của cô có phần xa xăm. "Ta không biết nên coi đó là một điều may mắn, hay một điều đáng lo."
"Có lẽ cả hai," Corvin nói, đứng dậy, phủi bụi đất khỏi gấu áo choàng dài. "Nhưng dù là gì, nó cũng khiến kế hoạch của chúng ta dễ hơn. Ngươi đã chọn xong ai chưa?"
Họ không chọn những đối thủ mạnh nhất. Đó là điều đầu tiên Corvin đã nói rõ với Ilona ngay từ khi kế hoạch còn là một ý tưởng thô sơ, nhiều tháng trước, trong một cuộc họp kín giữa năm anh em Ashfall mà cả Doran lẫn Vess đều chỉ ngồi nghe, không phản đối cũng không ủng hộ hoàn toàn.
"Nếu ta chỉ nhắm vào những kẻ mạnh nhất," anh đã nói khi đó, "chúng ta chỉ tạo ra vài chỗ trống trong bảng đấu. Hội Đồng sẽ thay người, sắp xếp lại, và mọi thứ tiếp tục như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Nhưng nếu ta nhắm vào những người có ảnh hưởng chính trị lớn nhất, những người mà cái tên của họ còn nặng ký hơn cả thanh kiếm họ cầm, thì khi tất cả cùng gục xuống một lúc, thứ sụp đổ không chỉ là một trận đấu. Đó sẽ là niềm tin của cả bảy Thành vào chính hệ thống họ đang cố bảo vệ."
Danh sách của Ilona, được cô đọc lại cho Corvin nghe dưới ánh trăng mờ trên triền đồi, không dài, nhưng mỗi cái tên đều mang một trọng lượng riêng: Petra, người đứng đầu công trình tái thiết của Rạng Đông, tiếng nói có sức nặng ngang một đại biểu Hội Đồng dù bà chưa từng chính thức nhận một ghế nào. Elowen, người mang danh hiệu "hạt giống" đứng đầu vòng sơ tuyển, biểu tượng cho hy vọng của cả Rạng Đông sau vụ hỗn chiến làm mất uy tín Thành. Một vài cái tên khác từ Lôi Đình, Vọng Cốc, những dòng tộc mà việc mất đi một vài người sẽ kéo theo một cuộc khủng hoảng kế vị nhỏ ngay giữa mùa giải.
"Không phải vì ta ghét bất cứ ai trong số họ," Corvin nói, gần như một lời tự nhắc bản thân hơn là giải thích cho Ilona, người đã nghe anh nói điều này không dưới một lần. "Ta thậm chí còn ghi tên họ vào sổ của ta trước khi đánh dấu, đúng như ta ghi tên bất cứ ai khác đã hoặc sẽ ngã xuống trong chiến tranh này, kể cả người của chính chúng ta. Nhưng lòng thương xót không thể là thứ cản trở một cuộc chiến đã kéo dài sáu mươi năm."
Đêm hôm sau, khi doanh trại rộn ràng hơn thường lệ vì hai trận tứ kết sớm được dời lên do một cơn giông dự báo sẽ ập tới vào cuối tuần, hàng trăm người di chuyển qua lại giữa các khu lều, đoàn tùy tùng, thương nhân bán đồ ăn đêm, những kẻ hâm mộ chen chúc để xin chữ ký hoặc chỉ để nhìn thấy các Vực Chủ mình yêu thích đi ngang qua. Giữa dòng người ấy, hai bóng dáng khoác áo choàng màu tối, không giống bất cứ huy hiệu Thành nào, hòa lẫn vào đám đông dễ dàng hơn bất cứ ai có thể ngờ tới.
Corvin đã cắt ngắn tóc, phủ một lớp bụi xám lên gương mặt để trông giống một trong hàng chục tăng lữ lang thang vẫn thường ghé qua các doanh trại lớn để cầu phúc cho đấu sĩ trước trận, một hình ảnh quen thuộc tới mức không ai buồn để ý kỹ. Ilona đi cạnh anh trong vai một người hầu mang khay trà, khay trong tay cô thật, trà trong ấm cũng thật, chỉ có bàn tay còn lại của cô, khi lướt qua vai áo hoặc cổ tay của bất cứ ai cô cố tình va phải, mới mang theo một thứ không hề vô hại.
Họ không cần dùng Vực. Tử Chạm và Chú Ấn đều là kỹ năng, không phải Mở Vực, và một cú chạm nhẹ giữa đám đông chen chúc, một cái va vai tưởng như vô tình, một lời xin lỗi ngắn gọn rồi lập tức rời đi, đủ để hoàn thành cả hai.
Corvin dừng lại đúng một nhịp thở bên cạnh Petra, người đang đi ngang qua cùng Boris, cậu học việc trẻ của bà, tay bà bận cầm một cuộn bản vẽ kiến trúc. "Xin lỗi," anh nói, giọng trầm và điềm đạm đúng chất một tăng lữ, cúi đầu nhẹ khi vai anh sượt qua vai bà. Một vết khắc xám mờ hình xương, nhỏ hơn cả móng tay, hiện lên trong tích tắc ngay dưới gáy bà, ngay chỗ cổ áo che khuất, rồi lặng lẽ chìm vào da thịt, vô hình với bất cứ ai không cố tình tìm kiếm nó.
Petra không hề dừng bước, chỉ khẽ gật đầu đáp lại lời xin lỗi, tiếp tục cuộc trò chuyện dang dở với Boris về độ chịu lực của một cột trụ mới. Bà không cảm thấy gì cả, đúng như Corvin cần.
Cách đó không xa, Ilona bước tới gần lều của Elowen, dâng một chén trà mời một trong những người hầu cận đang đứng gác, mỉm cười nhẹ khi Elowen bước ra khỏi lều, ngạc nhiên trước sự chu đáo bất ngờ của "người hầu doanh trại". "Quý cô dùng thử một chén không," Ilona nói, giọng cô nhẹ nhàng, gần như dịu dàng, khi đưa chén trà tới tay Elowen, ngón tay cô lướt qua cổ tay Elowen đúng một khắc, đủ để một sợi chỉ vô hình ánh tím đen quấn lấy nàng, không để lại bất cứ dấu vết nào ngoài một cảm giác lạnh thoáng qua mà Elowen, người vốn luôn cảm thấy ấm áp dù trời lạnh, thậm chí còn không nhận ra là bất thường.
"Cảm ơn," Elowen nói, nhấp một ngụm, không hề biết mình vừa nhận thứ gì khác ngoài trà.
Ilona rời đi ngay sau đó, không vội vàng, không ngoái lại, đúng theo nguyên tắc cô đã tự đặt ra cho chính mình từ rất lâu: một lời nguyền tốt nhất là một lời nguyền mà ngay cả người mang nó cũng không hề hay biết cho tới khi nó đã hoàn thành công việc của mình.
Hai bóng đen dần tiếp cận Elowen, và cô cảm thấy được sự hiện diện của họ.
Suốt đêm ấy, họ tiếp tục di chuyển qua từng khu doanh trại, mỗi lần chỉ dừng lại đúng một khoảnh khắc, không bao giờ ở gần một mục tiêu quá lâu, không bao giờ lặp lại cùng một vỏ bọc hai lần liên tiếp. Có lúc Corvin là một người bán rượu dạo, có lúc Ilona là một cô gái trẻ bán hoa cho các cặp đôi tới xem giải đấu. Mỗi lần một Dấu Khắc hoặc một Lời Nguyền được gieo xuống, cả hai lại lùi vào bóng tối giữa hai dãy lều, im lặng, chờ nhịp tim dịu lại, rồi tiếp tục.
Họ đặt dấu ở những vị trí ít gây chú ý nhất: sau gáy, mặt trong cổ tay, dưới lằn tóc mai, những chỗ ít khi bị nhìn thẳng vào, ít khi bị chạm tới ngoài chính chủ nhân của cơ thể ấy. Mỗi dấu được thiết kế để nằm yên, không phát tác, không gây đau đớn hay bất cứ dấu hiệu nào có thể khiến người mang nó nghi ngờ, chờ đúng ngày Corvin quyết định gặt hái tất cả cùng một lúc.
Tới gần sáng, khi ánh trăng đã lặn hẳn sau rặng đồi phía tây, cả hai gặp lại nhau ở đúng nghĩa trang nhỏ không tên nơi họ đã bắt đầu buổi tối, cả người đều thấm mệt theo cách chỉ những ai vừa trải qua nhiều giờ căng thẳng kìm nén mới hiểu.
"Mười một," Ilona nói, ngồi xuống phiến đá cũ, thở ra một hơi dài. "Ta đánh dấu được mười một người."
"Mười ba," Corvin đáp, lấy cuốn sổ ra, viết thêm hai cái tên cuối cùng vào trang giấy đã gần kín chữ. "Hai người còn lại ta không kịp gặp Ilona của ngươi để cô ấy gắn Chú Ấn, nhưng dấu của ta vẫn đủ để dùng riêng nếu cần."
Anh gấp cuốn sổ lại, giữ nó trong lòng bàn tay một lúc lâu, như đang cân nhắc trọng lượng của những cái tên mình vừa viết thêm vào đó.
"Ngươi có bao giờ tự hỏi," Ilona nói khẽ, mắt cô nhìn ra phía những nấm mộ không bia đang chìm dần vào bóng tối lúc rạng đông, "liệu một ngày nào đó, có ai đó viết tên chúng ta vào một cuốn sổ giống như thế, sau khi chúng ta ngã xuống?"
Corvin không trả lời ngay. Anh nhìn về phía ngôi mộ nhỏ anh đã ghé qua tối hôm trước, nơi mảnh xương khắc chữ vẫn còn nằm đó, lặng lẽ giữa cỏ dại.
"Ta hy vọng là có," anh nói cuối cùng. "Vì nếu không, thì tất cả những gì chúng ta đang làm, dù đúng hay sai, cũng sẽ chỉ là một cái tên khác bị lãng quên, giống như sáu mươi năm trước."
Cùng những đêm ấy, ở một góc khác của Rạng Đông, cách doanh trại chính gần nửa giờ đi bộ, có một cánh cửa gỗ sồi hai lớp mà rất ít người từng nghĩ tới việc gõ vào lúc nửa đêm.
Elowen là người đứng đó đầu tiên, một chiếc đèn lồng che nửa ánh sáng trong tay, phía sau cô là hai bóng người trùm kín áo choàng, một cao và gầy, một thấp hơn với dáng đứng thẳng bất động đến kỳ lạ, thứ dáng đứng của kẻ đã quen giữ mình im lặng ngay cả khi không ai nhìn.
"Ông ấy sẽ không thích chuyện này," cô nói khẽ, không quay đầu lại, giọng bà đủ nhỏ để chỉ hai người phía sau nghe thấy. "Nhưng ông ấy sẽ ghét việc quay lưng đi hơn."
Cô gõ ba tiếng, ngừng lại, rồi gõ thêm một tiếng, một nhịp điệu riêng mà cô và người trong đó đã dùng để báo hiệu cho nhau qua không biết bao nhiêu ván cờ muộn suốt nhiều năm làm việc cùng phía trong Hội Đồng.
Cánh cửa mở ra một khe hẹp trước khi mở hẳn. Người đàn ông đứng sau nó già hơn Kael tưởng tượng qua lời Elowen kể, lưng hơi còng, đôi mắt sâu và mệt mỏi nhưng không hề đục, ánh nhìn quét qua cả ba người trước cửa với sự cẩn trọng của một kẻ đã học cách không tin ai ngay từ cái nhìn đầu tiên trong suốt năm mươi năm.
"Elowen," ông nói, giọng khàn vì vừa mới thức dậy khỏi một giấc ngủ chập chờn bên bàn giấy. "Ngươi biết mấy giờ rồi chứ."
"Ta biết," Elowen đáp. "Ta cũng biết ông vẫn còn thức, vì đèn phòng ông chưa từng tắt trước canh ba, kể cả những đêm không có gì để viết."
Rasten không cười, nhưng khóe miệng ông khẽ nhếch lên, một sự thừa nhận ngắn ngủi rằng bà nói đúng. Ánh mắt ông dừng lại trên hai bóng người phía sau Elowen lâu hơn, không phải tò mò, mà là cách một sử quan vẫn quen nhìn bất cứ điều gì mới xuất hiện trước mắt mình: tìm kiếm chi tiết không khớp, tìm kiếm điều gì đó đáng ghi lại.
"Vào đi," ông nói cuối cùng, lùi lại nhường lối. "Trước khi có ai đó khác cũng không ngủ được đi ngang qua hành lang này."
Bên trong thư viện, giữa những giá sách cao ngất chìm trong bóng tối và một ngọn nến duy nhất còn cháy trên bàn, Kael hạ mũ trùm xuống trước, rồi tới Yumi. Rasten không nói gì trong một lúc lâu, chỉ đứng nhìn cả hai, tay ông khoanh trước ngực, như đang cân nhắc xem hai gương mặt trẻ tuổi này đáng để ông đặt cược điều gì.
"Elowen nói các ngươi cần tra cứu văn khố," ông nói. "Cô ấy không nói rõ vì sao, chỉ nói ta nên tự hỏi hai người."
"Chúng tôi cần tìm bất cứ ghi chép nào về một tàn tích tên Đền Băng Vĩnh Cửu," Kael nói, giữ giọng thẳng thắn, không vòng vo, đúng bản năng của một kẻ đã học cách không lãng phí thời gian của người khác lẫn của chính mình. "Và về mạng lưới vận chuyển của Hắc Nguyệt Môn, nếu có bất cứ tài liệu nào từng lọt qua khỏi Minh Dạ."
Có một khoảng lặng ngắn. Rasten không hỏi tại sao, không hỏi họ là ai, dù ông thừa biết không một Vực Chủ bình thường nào lại lén lút tới thư viện lúc nửa đêm chỉ vì tò mò. Ông chỉ nhìn Yumi, lâu hơn hẳn ông nhìn Kael, như đang cố nhớ lại một điều gì đó từ rất xa.
"Đền Băng," ông lặp lại, gần như thì thầm. "Ta đã đọc dòng ấy đúng một lần, mười năm trước, trong một báo cáo bị đóng dấu và chuyển đi nơi khác chỉ hai ngày sau khi tới tay ta. Ta chưa từng được phép hỏi nó đi đâu."
"Vậy ông tin nó là thật," Yumi nói, câu đầu tiên cô thốt ra kể từ khi bước vào, giọng cô bình thản nhưng có một sức nặng khiến cả Rasten lẫn Kael cùng quay sang nhìn cô.
"Ta không có quyền tin hay không tin bất cứ điều gì được viết trong bản sử chính thống," Rasten đáp, "đó là điều ta đã học suốt năm mươi năm làm nghề này. Nhưng ta có quyền nhớ những gì ta từng đọc trước khi nó bị lấy đi." Ông quay người, bước về phía chiếc tủ khuất sau giá sách cao nhất, nơi ông vẫn cất những tài liệu không bao giờ định đưa ai xem. "Ta không hứa sẽ tìm ra gì cho các ngươi. Ta chỉ hứa sẽ không giả vờ mình chưa từng nghe thấy hai chữ đó."
Đêm đó, họ ngồi tới gần sáng, ba người quanh một chiếc bàn gỗ dài, Rasten lật từng cuộn hồ sơ cũ bằng đôi tay đã cứng khớp, Kael đối chiếu từng dòng ngày tháng với ký ức của chính mình về đêm xưởng rèn cháy, còn Yumi, lặng lẽ hơn cả hai người kia, chỉ ngồi nhìn những trang giấy mang tên một nơi cô từng gọi là nhà, giờ chỉ còn tồn tại dưới dạng vài dòng chữ mờ nhạt trong một cuốn sổ không ai buồn đọc lại.
Họ không tìm ra gì đáng kể trong đêm đầu tiên ấy. Nhưng khi Elowen dẫn họ ra khỏi thư viện lúc ánh trăng vẫn soi sáng khu trại, Rasten đứng ở cửa, nhìn theo cho tới khi cả ba bóng người khuất hẳn sau góc phố, và ông biết, dù chưa nói ra, rằng đây sẽ không phải lần cuối cánh cửa gỗ sồi hai lớp ấy mở ra cho hai kẻ lạ mặt lúc nửa đêm.
Từ đêm đó, cứ vài ngày một lần, khi doanh trại đã chìm vào giấc ngủ và những đợt tuần tra đổi ca thưa dần, Kael và Yumi lại lặng lẽ tách khỏi đám đông, luồn qua ba lớp canh gác mà không ai từng phát hiện, để ngồi cùng một ông già với đôi tay run và một cuốn sổ không tên, cùng lần theo những mảnh vụn của một sự thật mà cả ba, theo những cách khác nhau, đều không còn lựa chọn nào ngoài việc phải tìm ra.
Cách đó không xa, trong khu trại của Rạng Đông, Boris đứng bên ngoài lều của Petra, tay cầm một ly nước, chờ bà uống thuốc trước khi ngủ theo thói quen mỗi tối. Nhưng khi anh bước vào, Petra đang ngồi lặng trên giường, một tay xoa nhẹ sau gáy, gương mặt bà hơi nhăn lại như đang cố xác định một cảm giác khó chịu mơ hồ mà bà không thể gọi tên.
"Bà ổn chứ?" Boris hỏi, đặt ly nước xuống bàn.
"Chỉ hơi mỏi thôi," Petra đáp, xua tay, rồi mỉm cười trấn an cậu học việc trẻ. "Có lẽ ta đã cúi người trên bản vẽ quá lâu hôm nay."
Bà không nghĩ thêm về nó. Không có lý do gì để nghĩ thêm, khi cảm giác ấy chỉ thoáng qua rồi biến mất ngay khi bà nằm xuống.
Cách đó vài dãy lều, sau khi xong việc phía ông Rasten, Kael đứng ở cửa trại của mình, nhìn ra khoảng doanh trại đang chìm dần vào giấc ngủ, một cảm giác bất an mơ hồ anh không thể lý giải khiến anh không tài nào chợp mắt. Yumi bước ra đứng cạnh anh, khoác thêm áo choàng vì đêm đã bắt đầu se lạnh, dấu hiệu đầu tiên của mùa thu đang tới gần.
"Anh không ngủ được?" cô hỏi.
"Có gì đó không đúng," Kael nói, mắt anh lướt qua toàn bộ khung cảnh yên tĩnh trước mặt, không tìm thấy bất cứ điều gì cụ thể để chỉ ra. "Anh không biết là gì. Chỉ là cảm giác... như đêm nay yên tĩnh hơn mức nó nên có."
Yumi không cười nhạo anh, cũng không gạt bỏ linh cảm ấy, vì cô, hơn ai hết trong toàn bộ giải đấu này, hiểu rõ giá trị của một trực giác được rèn giũa qua mười năm sống sót giữa hiểm nguy. Cô đứng lặng bên anh một lúc lâu, cả hai cùng nhìn ra bóng tối đang phủ khắp doanh trại.