Từ hôm Trần Hiện lên sơn trại, các huynh đệ trên núi đối với chàng hết sức hào phóng, thường xuyên mở tiệc chiêu đãi ân cần, đúng là "năm hôm một tiệc lớn, ba hôm một tiệc nhỏ". Chàng cùng ba vị đầu lĩnh cũng thường xuyên đàm đạo về thế sự cũng như chí làm người.
Vốn sơn trại này tên là Chiêu Anh, có ba người đứng ra làm thủ lĩnh. Đại thủ lĩnh họ Dương tên Trân, năm nay 35 tuổi, mình cao tám thước, mày đao râu quai nón, dáng như gấu, bước như hổ, võ nghệ siêu quần, quanh vùng ai cũng kính nể. Dương Trân sử một cây lang nha bổng nặng một trăm hai mươi cân, sở trường luyện quân kỵ mã, trước đây nguyên là một viên võ quan ở trấn Thanh Hoa, sau vì quan phủ hà hiếp dân lành, chàng can ngăn không được nên phẫn chí bỏ đi.
Nhị thủ lĩnh tên Phùng Khắc Linh, vốn là con nhà giàu ở kinh thành, thuở nhỏ cha mẹ cho học cả văn lẫn võ. Chàng có sở trường sử một cây thiên phương họa kích nên thường tự xưng là Tiểu Ôn hầu, tự ví mình như Lã Bố khi xưa.
Tam thủ lĩnh tên Vũ Nhật Quang, vốn là một thư sinh đa mưu túc trí nhưng cũng rành nghề múa kiếm bắn cung. Vũ Nhật Quang được coi như quân sư ở Chiêu Anh trại này.
Thời đó nông dân nổi dậy làm cướp khắp nơi, nên vùng này có đến ba đảng cướp khác nhau, tự xưng là Chiêu Anh trại, Vân Long trại và Thiên Ma trại. Ba trại này lại không chống đối nhau mà thường xuyên qua lại, đối xử với nhau bằng đạo nghĩa giang hồ. Mỗi khi triều đình đem quân đi đánh dẹp thì cả ba trại cùng liên kết chống cự, bởi vậy triều đình chưa từng làm gì được họ.
Khi Trần Hiện hỏi vì sao lại kéo nhau lên núi làm cướp, Dương Trân thở dài bảo chàng:
- Đệ đừng có coi thường chúng ta. Chúng ta vốn đều là những người được ăn học đàng hoàng, lúc còn trẻ cũng từng ôm hoài bão tế thế an dân, khuông phù xã tắc đấy! Nhưng hoàng triều bây giờ đến hồi suy mạt, từ thời Hiến Tông, Dụ Tông rồi Nhật Lễ, có đời nào là minh quân thánh chúa đâu? Bây giờ Nghĩa Hoàng lên ngôi, mặc dù là một vị vua yêu thương dân, biết lo cho xã tắc nhưng lực bất tòng tâm, lại bị quyền thần che mắt. Đệ có thấy từ năm Tân Hợi đến nay giặc Chiêm Thành vốn chỉ là một lũ man di ở phương Nam mà mấy lần vào Thăng Long như đi chợ không? Triều đình sợ chúng như sợ cọp, chỉ cần nghe tin chúng bắc tiến là dẫn nhau chạy loạn, không hề có ý định chống trả. Chúng vào kinh thành nước ta, cướp hết kỳ trân dị bảo, cướp cả đàn bà con trẻ về xứ ấy, không ai làm gì được. Triều đình đã thế, quan lại ở các châu huyện cũng là một lũ khốn nạn. Chúng cầm quân trong tay chỉ để hà hiếp, cướp bóc lương dân, có dám đánh giặc đâu? Đệ nghĩ xem, trong thời đại nhiễu nhương này, liệu có thể làm người dân sống tử tế yên lành được không?
Trần Hiện thở dài. Mặc dù chàng không nghĩ rằng Dương Trân hoàn toàn nói đúng, nhưng cũng chẳng biết khuyên bảo các huynh đệ phải làm như thế nào. Đương thời, đến những bậc kiệt hiệt, lại từng giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình như Trần Nguyên Đán, Chu Văn An còn phải cáo quan về ở ẩn nữa là... Chàng nghĩ, phải chi ta được làm vua thì may ra có thể thay đổi được thời cuộc. Nhưng điều đó bây giờ mới khó khăn làm sao, mặc dù trong lịch sử đã viết như thế. Chao ôi...
Bữa nọ chàng đang ngồi đàm đạo với mấy vị thủ lĩnh thì một lâu la vào tâu:
- Bẩm chư thủ lĩnh, có một đoàn thuyền chở lương của quan quân đang xuôi dòng Lan giang, chiều tối nay sẽ qua đoạn bến đò làng Nhẫn!
- Có bao nhiêu thuyền, bao nhiêu quan quân, tướng chỉ huy là ai? Phùng Khắc Linh hỏi.
- Bẩm, hơn mười lăm thuyền lớn, theo quân thám thính dò được thì mỗi thuyền có mười thủy quân và hai mươi phu chèo, tướng chỉ huy tên là Nguyễn Văn Đông. Số thóc chở trên thuyền là thuế thu được ở lộ Hoàng Giang và phủ Kiến Xương(1), năm nay hạn hán mất mùa mà chúng cũng không tha, vét hết cả thóc lúa của dân nghèo để báo công với triều đình. Trên đường đi chúng thường nghỉ ở các làng ven sông, xuống cướp gà lợn của dân giết thịt, ai trái ý chúng chém luôn không cần nói nhiều ạ!
-----------------------------------------------------
1. Lộ là đơn vị hành chính lớn nhất thời Trần. Cả nước phân làm 12 lộ, viên quan đứng đầu mỗi lộ gọi là An phủ sứ. Một số nơi xa xôi hay ít dân thì chỉ thành lập Trấn hoặc Phủ. Dưới Lộ là cấp Châu, đứng đầu Châu là chức Chuyển vận sứ. Dưới Châu là Huyện, đứng đầu Huyện là chức Tri huyện. Nếu Lộ nhỏ thì dưới Lộ trực tiếp là Huyện. Dưới Huyện là Hương, dưới Hương là Xã.
Lộ Hoàng Giang tương đương một phần Hà Nam và Nam Định hiện nay, gồm 5 huyện: Ý Yên (cũng là huyện Ý Yên ở thế kỷ XX), Thiên Bản (Vụ Bản sau này), Độc Lập (một phần Vụ Bản sau này), Đại Loan (Nghĩa Hưng sau này), Vọng Doanh (một phần Ý Yên sau này). Phủ Kiến Xương tương đương một phần Thái Bình sau này, gồm 4 huyện: Bồng Điền (Vũ Thư sau này), Kiến Xương (một phần Vũ Thư sau này), Bố (một phần Vũ Thư sau này), Chân Lợi (Kiến Xương sau này).
-------------------------------------------------------
Dương Trân nổi giận:
- Hừ, thật đúng như câu "cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan"! Các huynh đệ, không thể để cho bọn này yên lành qua bến đò làng Nhẫn được!
Phùng Khắc Linh phân vân:
- Đại ca, nhưng tính ra chúng có đến 150 quan quân chưa kể 300 phu chèo thuyền, trong khi chúng ta chỉ có hơn 100 huynh đệ. Làm thế nào đánh chúng được?
Vũ Nhật Quang nói:
- Linh ca chớ lo! Mấy trăm phu chèo thuyền vốn là lương dân bị bọn quan quân bắt theo, họ căm ghét đám quan quân đến tận xương tủy, đệ chỉ cần một câu nói là khiến họ tụ thủ bàng quan(2), không tham gia vào chuyện của chúng ta. Còn 150 tên quân, đệ có cách này có thể khiến chúng thất bại thảm hại!
------------------------------------------------------
2. Tụ thủ là khoanh tay, bàng quan là đứng ngoài nhìn. Ý nói những người thấy việc xảy ra mà khoanh tay làm ngơ, không muốn tham gia. Câu "bàng quan" này nhiều người hay nói nhầm là "bàng quang", nghe có vẻ giống nhưng nghĩa khác hẳn!
----------------------------------------------------
Dương Trân mừng rỡ:
- Quang đệ mau nói ra cao kiến đi!
- Xin vâng, nhưng để kế hoạch thật chu toàn thì cũng mong hai huynh và Hiện đệ cùng bàn bạc phương án cụ thể
Ba huynh đệ cùng Trần Hiện liền chụm đầu vào lập mưu tính kế, rồi sau đó gọi đám lâu la lại phân công công việc.
*
Quả nhiên chiều tối hôm đó mười lăm thuyền lớn chở hàng trăm bao thóc cùng rất nhiều binh lính ngược dòng qua bến đò làng Nhẫn. Thuyền đi đầu căng một lá cờ thêu chữ "Nguyễn" rất lớn, đứng dưới cờ là một viên tướng mặc áo giáp màu đen, thân hình to béo, lông mày lưỡi mác, mắt sáng như chớp, hàm râu quai nón nhìn vô cùng dữ tợn, chính là Đốc tướng Nguyễn Văn Đông. Thấy làng xóm bên sông có vẻ sầm uất, một viên tiểu tướng đến trước mặt hắn xun xoe:
- Bẩm tướng quân, làng xóm ở đây có vẻ trù phú lắm ạ, hay là chúng ta xuống bắt mấy con lợn chọc tiết làm bữa rượu?
- Hừ, được đấy! Truyền lệnh ta, dừng thuyền!
Lập tức tên lính cầm loa quay về phía sau gào lớn:
- Dừng ... thuyền ....
Tiếng loa vang vọng mặt sông. Mười lăm con thuyền lập tức ghé vào bờ, thả neo hạ chèo. Những tấm ván được bắc nhanh chóng, mấy trăm tên lính ào ào nhảy xuống.
Bỗng nhiên từ phía trong làng có một toán người thong thả bước ra. Người đi đầu mặc một chiếc áo lụa mới tinh, dáng vẻ phú quý, đi tới trước mặt Nguyễn Văn Đông cúi chào sát đất:
- Bẩm tướng quân, tôi là Dương Phú, lý trưởng làng này, xin ra mắt ạ!
- Ha ha, tốt lắm! Mấy làng trước các quan đến cấm thấy đứa nào ra đón, dân thì chạy như vịt! Chúng mày lại ra đón các quan, chắc có quà cáp gì đó phỏng?
- Dạ, chúng tôi nghe tin đoàn tàu chở lương của triều đình đi qua, vội vã giết lợn làm cơm từ sớm, bây giờ tiệc đã sẵn sàng, xin mời các vị tướng quân đến đình làng dự tiệc ạ!
Nguyễn Văn Đông vui mừng hớn hở liền quay sang đám thuộc hạ truyền lệnh:
- Tốt lắm, biết điều lắm! Phó đội Huy, phó đội Nhân, hai ngươi dẫn một trăm quân theo ta. Đầu ngũ Vũ, ngươi chỉ huy năm mươi người ở lại cùng số phu chèo coi thuyền!
Đám binh tốt dạ ran. Nguyễn Văn Đông liền dẫn một trăm người theo lý trưởng Phú đi vào làng.