🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← MỘNG GIANG SƠN

Q1·Ch.66: Ông đồ Nhân bỗng nhiên được phong quan

📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần

~12 phút đọc · 2253 từ · · ⚠️ Báo cáo

Vào một buổi sớm, khi sương trắng còn giăng mờ trên những thửa ruộng ven làng Vang, từ phía con đường đất dẫn vào làng bỗng dội tới một tràng âm thanh dồn dập, ầm ầm như sấm cuộn, khiến cái không gian yên tĩnh của thôn quê bỗng chốc bị xé toạc ra từng mảnh.
Tiếng vó ngựa nện xuống mặt đường khô cứng, tiếng giáp sắt va chạm lanh canh, tiếng hô quát dẹp đường vang vọng, tất cả hòa vào nhau thành một thứ âm thanh khiến người dân ở đây phải hốt hoảng sợ hãi.
Rồi người ta thấy từ đầu làng, một đoàn nhân mã đông đảo đang rầm rập tiến vào, cờ xí rợp trời, nghi trượng sáng loáng, khí thế uy nghiêm. Đi đầu là đội nghi vệ chừng bốn mươi người, áo giáp đen tuyền, tay cầm trường kích và cờ tiết mao, bước chân đều tăm tắp, mỗi bước đi nặng nề giáng xuống mặt đất đều khiến bụi đường tung lên mù mịt.
Tiếng quát dẹp đường của viên thủ lĩnh vang lên đầy uy lực, như một lưỡi roi quất vào không gian: “Dẹp đường! Quan quân triều đình đến tuyên chỉ!” - làm cho dân làng vội vã chạy vào nhà, mấy đứa trẻ con đang nô đùa cũng bị người lớn kéo theo, cửa nẻo đóng sầm lại, chỉ còn những khe hở nhỏ nơi ánh mắt dân làng len lén nhìn ra, vừa tò mò, vừa kinh sợ.
Ngay phía sau đội nghi vệ là một vị tướng quân cưỡi trên con ngựa bạch cao lớn, toàn thân khoác chiến giáp bạc sáng lóa dưới ánh ban mai. Người ấy thân hình vạm vỡ, vai rộng, ánh mắt lạnh lẽo, chính là ái tướng Vũ Hoàng Phi của An phủ sứ lộ Đông Đô. Theo sau chàng là đội kỵ binh hơn trăm người, giáp trụ chỉnh tề, đao kiếm sáng quắc, hàng ngũ ngay ngắn như một bức tường thép di động, bảo vệ nghiêm ngặt ba cỗ kiệu sơn son thếp vàng ở giữa đội hình, rèm buông kín mít, không ai có thể nhìn thấy bên trong. Đi bên cỗ kiệu là một vị quan văn cưỡi ngựa, áo mũ chỉnh tề, thần sắc nghiêm cẩn - chính là tri huyện Bùi Tuyên Phương, người đứng đầu huyện Cổ Lễ, châu Lý Nhân, lộ Đông Đô. Đoàn quân đông đảo, bước chân rầm rập, khiến con đường nhỏ của làng Vang trở nên chật chội và ngột ngạt.
Cả đoàn người tiến thẳng vào trong làng, không hề dừng lại, không hề liếc nhìn hai bên, khí thế bức nhân khiến cho cả thôn xóm như bị bóp nghẹt trong một nỗi sợ vô hình, không một ai dám bước ra, không một tiếng nói cười nào dám cất lên, chỉ còn lại âm thanh của quyền lực và binh đao tràn ngập khắp nơi.
Khi đoàn người dừng lại trước một ngôi nhà tranh đơn sơ ở cuối làng, không khí bỗng trở nên căng thẳng đến mức có thể cảm nhận được bằng da thịt. Một cỗ kiệu ở phía trước khẽ hạ xuống, rèm kiệu vén lên, từ bên trong bước ra một người trung niên béo tròn, da mặt trắng bệch. Hắn tiến lên trước vài bước, đứng trước cổng ngôi nhà, không thèm nhìn xung quanh, rồi bất ngờ cất giọng the thé, nửa nam nửa nữ:
- Mời tiên sinh Bùi Đắc Nhân ra tiếp chỉ!
Trong nhà, ông đồ Nhân đang ngồi bên bàn gỗ cũ, tay cầm chén trà, nghe đến hai chữ “tiếp chỉ” thì chợt run lên, chén trà trên tay suýt nữa rơi xuống đất. Ông đứng lặng một lúc lâu, như không tin vào tai mình, bởi từ xưa đến nay, ông chưa từng nghĩ sẽ có ngày bản thân lại dính dáng đến hai chữ “thánh chỉ” vốn chỉ dành cho quan lại và những bậc quyền quý.
Cửa nhà chậm rãi mở ra, ông bước ra ngoài, tay khẽ run nhưng vẫn cố chỉnh lại cổ áo, giữ cho dáng vẻ nho sinh đoan chính. Khi vừa nhìn thấy cảnh tượng trước mắt: cờ xí, nghi trượng, binh lính, tướng quân, quan huyện; sắc mặt ông lập tức tái đi, nhưng vẫn phải cúi mình thật thấp:
- Thảo dân Bùi Đắc Nhân ra mắt các vị quan lớn!
Người trung niên kia liếc nhìn ông rồi lạnh lùng nói:
- Mời tiên sinh Bùi Đắc Nhân tiếp thánh chỉ của Quan gia!
Ông đồ Nhân không dám chậm trễ, lập tức quỳ sụp xuống, chững chạc hô:
- Thảo dân Bùi Đắc Nhân tiếp chỉ!
Người trung niên - chính là Trung công công, thân tín luôn bên người Giản Hoàng - thét lớn:
- Quan gia có khẩu dụ, phong tiên sinh Bùi Đắc Nhân làm Tế tửu(1) của Yên Thái học đường, ban cho một tư dinh tại kinh thành Thăng Long. Lệnh cho tiên sinh nhanh chóng thu xếp hành trang, cùng gia quyến lên kinh ngay trong ngày hôm nay!
---------------------------
1. Tương đương với chức Hiệu trưởng thời hiện đại.
---------------------------
Ông đồ Nhân ngỡ ngàng không thể tin vào tai mình. Mà có lẽ trong những người ở đây, không ai có thể hiểu được lý do của đạo chỉ dụ trên. Bởi cả nước Đại Việt lúc này, chỉ có một người biết được lý do của nó, người đó chính là chàng thanh niên hơn một năm trước trong đội thợ mộc làm cho nhà phú ông Cẩn bị vu oan, tên là Trần Hiện. Chàng thanh niên ấy, nay đã là hoàng đế Đại Việt, Giản Hoàng.
Phía sau những cánh cửa khép kín, dân làng Vang nín thở, có người há hốc miệng, có người thì thào bàn tán, nhưng tất cả đều chung một nỗi kinh ngạc đến tột cùng.
Quan tri huyện Bùi Tuyên Phương lúc này đã xuống ngựa, tiến tới trước mặt ông đồ Nhân, cung kính thi lễ, một cử chỉ khiến những người đang lén nhìn phải kinh hãi đến mức suýt bật thành tiếng. Bởi trong mắt họ, quan huyện chẳng khác gì ông trời, vậy mà giờ đây “ông trời” ấy lại cúi mình trước một ông đồ nghèo:
- Bẩm tiên sinh, mọi việc triều đình đã an bài, tiên sinh chỉ cần mang theo những vật thiết yếu, còn lại đã có người lo liệu. Nhân đây, hạ quan xin kính biếu tiên sinh mười lượng vàng để phòng khi cần dùng.
Ông đồ Nhân nghe vậy càng thêm hoảng sợ, vội vàng lùi lại, liên tục xua tay từ chối, bởi cả đời ông chưa từng thấy nhiều vàng đến thế, huống chi lại là do quan huyện dâng lên.
Chỉ đến trưa hôm ấy, đoàn nhân mã đã rời khỏi làng, nhanh như khi họ đến, để lại phía sau một làng Vang vẫn còn chìm trong cơn chấn động, những lời bàn tán không dứt, những ánh mắt đầy hoang mang, không ai có thể hiểu nổi vì sao một người như ông đồ Nhân lại được ban xuống ân điển lớn đến như vậy.
= = =
Tháng 12 năm Xương Phù thứ 2 (tức năm Mậu Ngọ, 1378), lộ Nghệ An.
Đội quân tiên phong của Xương Đức Vương Trần Nguyên Diệu hơn bốn vạn người với sứ mệnh đánh đuổi giặc Chiêm Thành ra khỏi bờ cõi Đại Việt, tưởng rằng cứ thế thuận lợi giành được chiến thắng. Ai dè ngay ở lộ Nghệ An đã bị cầm chân từ tháng chín đến giờ.
Nguyên Chế Bồng Nga sau khi đại bại ở Cổ Bảng, thế cùng lực kiệt, buộc phải theo đường biển tháo chạy về kinh đô Đồ Bàn, lòng vừa hận vừa lo, bởi hắn hiểu rõ rằng một khi Đại Việt đã giành được thắng lợi lớn như vậy thì việc hưng binh phản công, đòi lại ba lộ Nghệ An, Tây Bình, Thuận Hóa chỉ là chuyện sớm muộn, không thể tránh khỏi. Vừa về đến nơi, hắn lập tức ban khẩu dụ, triệu gấp bọn La Ngai, Trần Húc đang đóng ở phương Bắc trở về, đồng thời điều động đại tướng Ông Côn Đồ La, giao cho một vạn tinh binh phối hợp với hai vạn quân sở tại, cấp tốc tiến ra Nghệ An trấn thủ, coi đó là tuyến phòng ngự sinh tử, quyết không để mất.
Ông Côn Đồ La nghe xong, không dám có nửa lời chậm trễ, lập tức quỳ xuống lĩnh mệnh, rồi ngay trong ngày đã điểm quân xuất phát, gấp rút tiến ra Nghệ An.
Vốn dĩ từ khi Chế Bồng Nga còn đang bắc tiến, La Ngai đóng giữ Nghệ An đã sớm có tính toán sâu xa. Hắn hiểu rằng nếu lần này Chiêm Thành thắng lớn thì Đại Việt tất sẽ không dám đòi lại ba lộ, vùng đất này sẽ trở thành lãnh thổ lâu dài của Chiêm quốc; nhưng nếu vận nước đổi thay, Đại Việt phục hưng, thì nơi đây tất sẽ trở thành chiến trường tranh chấp khốc liệt nhất. Nghĩ đến đó, La Ngai không dám lơ là, bèn tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi, đích thân đi khảo sát địa thế, cuối cùng chọn được một vùng hiểm yếu tại huyện Thổ Du(2) nằm ngay trên con đường thiên lý Bắc - Nam, nơi núi sông giao hội, tiến có thể công, lui có thể thủ, bèn huy động hàng nghìn dân phu ở ba lộ, ngày đêm xây dựng một tòa thành quy mô cực lớn, dốc hết tâm sức mà hoàn thành.
---------------------------
2. Huyện Thổ Du thuộc phủ lộ Nghệ An, nay là huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
---------------------------
Tòa thành ấy không chỉ rộng lớn mà còn hiểm trở đến mức khiến người ta phải kinh sợ: chiều dài hơn ba trăm trượng, chiều sâu hai trăm trượng, lưng tựa vào dãy Kỳ Sơn cao ngất, vách đá dựng đứng như tường trời, còn phía trước là dòng sông lớn uốn lượn, nước chảy xiết như một hào sâu thiên nhiên, khiến bất kỳ đạo quân nào muốn tiếp cận cũng phải trả giá bằng vô vàn xương máu. Tường thành cao hơn ba trượng, mặt thành rộng đến mức năm kỵ sĩ có thể dàn hàng ngang mà phi ngựa, những đoạn hẹp nhất cũng đủ đặt hỏa pháo và máy bắn đá, trên thành lỗ châu mai dày đặc, dưới chân thành là rãnh sâu cắm chông sắt, trong thành thì lương thảo tích trữ đầy kho, vũ khí chất như núi, giếng nước đào la liệt, đủ để người Chăm chống cự trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Có thể nói, đây không còn là một tòa thành thông thường, mà là một pháo đài quân sự được chuẩn bị công phu đến cực hạn, nơi mà chỉ cần một người trấn giữ, trăm người cũng khó lòng công phá.
Khi Xương Đức Vương Trần Nguyên Diệu dẫn đại quân tiến tới, ban đầu khí thế như vũ bão, tưởng rằng chỉ cần một trận công kích mãnh liệt là có thể hạ được thành. Nhưng ngay khi trống trận vừa nổi, quân Việt ào ạt xông lên như sóng trào, thì từ trên thành, quân Chiêm đã dồn dập phản kích, tên bắn như mưa sa, đá lớn lăn xuống ầm ầm, gỗ nặng đổ ào ào, hỏa pháo nổ vang trời, biến chân thành thành một bãi chết chóc.
Suốt hơn hai mươi ngày công kích liên tục, quân Việt dùng đủ mọi phương pháp, từ dựng thang, phá cổng, cho đến đào hào tiến sát, nhưng mỗi lần xung phong đều bị đánh bật trở lại, xác binh lính chồng chất dưới chân thành, máu thấm đỏ cả đất, hơn tám ngàn người bỏ mạng, gần một vạn bị thương, hàng chục viên tướng tử trận, mà tòa thành vẫn sừng sững như chưa từng bị lay chuyển.
Thế trận rơi vào cảnh tiến không được mà lui cũng không xong, bởi nếu rút quân, hơn ba vạn quân Chiêm trong thành tất sẽ thừa thế truy kích, khi ấy đại quân Đại Việt tất khó tránh khỏi một trận đại bại. Trong lúc tình thế ngặt nghèo, phó tướng Lý Kim An mới dâng kế, phân tích rằng phía Tây của thành dựa lưng vào núi Kỳ Sơn cao hơn trăm trượng, vách đá dựng đứng, quân ta không thể leo lên, mà quân địch cũng không thể thoát ra, vì vậy toàn bộ đường ra vào chỉ còn ba cửa ở phía Bắc, Đông và Nam; nếu không thể công phá thì chi bằng chuyển sang vây hãm, chia quân bịt kín các cửa, khiến trong thành bị cô lập hoàn toàn, lương thảo dù nhiều đến đâu cũng sẽ phải cạn, chỉ cần ba đến sáu tháng là có thể không đánh mà thắng.
Xương Đức Vương nhìn cảnh binh sĩ chết trận la liệt, trong lòng đau xót khôn nguôi, lại thấy kế ấy hợp lý, đành gạt bỏ ý định công thành, lập tức hạ lệnh đào hào, dựng lũy, dàn quân bao vây kín cả ba mặt, siết chặt vòng vây đến mức con kiến cũng khó lòng lọt qua, quyết biến Thổ Du thành một cái rọ khổng lồ giam chặt quân Chiêm bên trong.

💬 Bình luận (0)