Lại nói về ba đạo quân của Xương Đức vương Trần Nguyên Diệu, Cung Chính vương Trần Sư Hiền và chủ tướng lộ Hải Đông là Giang Văn Bằng, sau khi hợp binh một chỗ, liền thừa thắng truy kích tàn quân Chiêm Thành. Lúc bấy giờ, chiến trường trải dài mấy dặm, xác người ngựa ngổn ngang, máu nhuộm đỏ cả một vùng đồng nội, khí tanh nồng xộc lên khiến người ta khó mà hít thở. Nhưng giữa cảnh hỗn loạn ấy, tướng Ma Ha Cồ La của Chiêm Thành vẫn cố gom tàn binh, chỉnh đốn đội ngũ, dựng lại chiến tuyến, quyết tử chiến để cản bước quân Đại Việt, hòng kéo dài thời gian, bảo toàn cho quốc vương Chế Bồng Nga rút chạy.
Ma Ha Cồ La vốn là danh tướng Chiêm Thành, nổi tiếng dũng mãnh, từng lập nhiều chiến công hiển hách. Nay thấy đại thế đã mất, chủ tướng đã rút lui, nhưng vẫn không chịu buông vũ khí, tự mình cưỡi chiến mã, tay cầm đại đao, xông lên trước hàng quân cổ vũ sĩ khí. Đám tàn binh Chiêm Thành tuy lòng đã rệu rã, nhưng thấy chủ tướng liều chết không lùi, cũng đành gắng gượng xông lên, hợp sức chống cự.
Hai bên giao chiến dữ dội, đao kiếm va chạm chan chát, tiếng hò hét, tiếng kêu la hòa lẫn vào nhau, vang dội khắp chiến trường. Quân Đại Việt tuy đông hơn, lại đang khí thế như triều dâng, nhưng tàn quân Chiêm Thành dưới sự chỉ huy của Ma Ha Cồ La lại chiến đấu như những con thú bị dồn vào đường cùng, liều chết không lùi, khiến trận chiến kéo dài gần một canh giờ mà vẫn chưa phân thắng bại rõ rệt.
Giữa lúc giao tranh ác liệt, một viên tướng dưới quyền Cung Chính vương là Vũ Hoàng Phi thúc ngựa xông lên, tay cầm trường thương, nhằm thẳng Ma Ha Cồ La đánh tới. Hai tướng đối mặt, chưa kịp nói lời nào đã lao vào nhau như hai con mãnh hổ. Chỉ thấy đao quang chớp loáng, thương ảnh vun vút, giao tranh hơn mười hiệp chưa phân thắng bại. Cuối cùng, Vũ Hoàng Phi nhân lúc Ma Ha Cồ La sơ hở, vung thương đâm thẳng vào ngực, xuyên qua giáp trụ, khiến vị danh tướng Chiêm Thành ngã nhào xuống ngựa chết tại trận.
Chủ tướng vừa tử trận, tàn quân Chiêm Thành lập tức mất hết chỗ dựa tinh thần. Kẻ thì hoảng loạn tháo chạy, kẻ thì vứt bỏ binh khí quỳ xuống xin hàng. Đến khi quân Đại Việt khống chế hoàn toàn chiến trường, số quân Chiêm còn sống sót chỉ còn chưa đầy trăm người.
Trong lúc thu dọn chiến trường, Cung Chính vương chợt nhìn thấy trong đám tù binh có một người mặc áo giáp vàng, đầu đội mũ trụ vàng chóp cao, dáng vẻ cao lớn khác hẳn những binh sĩ thường. Ông lập tức chỉ vào người đó, nói với tả hữu:
- Hẳn là Chiêm Thành vương Chế Bồng Nga đó!
Lời vừa dứt, quân lính liền xông tới bắt trói, giải người ấy vào xe tù, canh giữ nghiêm mật, chuẩn bị đưa về dâng công.
Cung Chính Vương, Xương Đức Vương cùng đám Giang Văn Bằng truyền lệnh chỉnh đốn hàng ngũ, trở về ra mắt Quan gia. Trong lòng ai nấy đều thầm mừng, cho rằng phen này bắt được quốc vương Chiêm Thành, công lao to lớn, ắt sẽ được ban thưởng hậu hĩnh.
Khi “Chế Bồng Nga” bị giải lên trước trướng, chưa kịp tra hỏi, trong hàng mưu sĩ bỗng có một người bước ra, lớn tiếng nói:
- Đây không phải là chúa Chiêm đâu!
Mọi người nhìn ra thì là một viên tham quân họ Nguyễn tên Hàm. Nguyễn Hàm nguyên trước đây là mật thám của Đại Việt hoạt động ở Chiêm Thành, lập được nhiều công trạng, từng thấy mặt vua Chế Bồng Nga. Sau không may bị lộ được quân ta cứu về, triều đình trọng dụng cho y làm tham quân, thường tham gia trong các trận đánh với quân Chiêm để bàn mưu lập kế.
Giản Hoàng liền hỏi:
- Sao khanh biết đây không phải Chế Bồng Nga?
Nguyễn Hàm tâu:
- Bẩm Quan gia, thần từng nhiều lần thấy mặt Chế Bồng Nga. Người ấy cũng có thân hình cao lớn, nhưng vầng trán rộng, sống mũi thẳng, ánh mắt sáng quắc như điện, khí độ hơn người. Kẻ trước mặt đây tuy vóc dáng tương tự, nhưng trán thấp, mắt lờ đờ, thần sắc u tối, nhìn qua đã biết là hạng tầm thường, tuyệt không thể là một bậc hùng chủ như Chế Bồng Nga được!
Mọi người đều cho là phải, nhưng Giản Hoàng vốn thận trọng, liền cho gọi đến ba tù binh Chăm. Những người này trước đây đều là tướng trong quân Chiêm Thành, giữ chức vụ rất cao, từng được gặp Chế Bồng Nga. Vừa rồi quân Chiêm Thành thua mấy trận liền, bọn họ đều cương quyết chống cự, chỉ đến lúc đao gãy người thương mới chịu bị bắt trói.
Giản Hoàng truyền cho từng người một vào nhận diện. Cả ba người đều tâu rằng:
- Đây không phải là chúa của tôi!
Lúc đấy Giản Hoàng và các tướng Đại Việt mới khẳng định là thật. Cung Chính Vương và Xương Đức Vương đùng đùng giận dữ, đòi mang tên kia đi băm nát cho hả giận. Giản Hoàng xua tay bảo:
- Chế Bồng Nga là kẻ cơ biến, từng trải sa trường, há có thể chịu chết dễ như vậy, chuyện này cũng thường, không trách tội các vương được!
Hai vương cùng chắp tay tạ ơn. Giản Hoàng lại chỉ tên lính đóng giả Chế Bồng Nga kia mà bảo:
- Kẻ kia trong lúc nguy hiểm chịu đội mũ mặc áo của Chế Bồng Nga mà chết thay cho vua, lòng trung thật giống như Kỷ Tín(1) khi xưa liều mình cứu Hán Cao tổ, đáng khen lắm! Truyền tha cho hắn, cấp lương thực thả về quê cũ!
---------------------
1. Kỷ Tín là một võ tướng của Hán Cao tổ Lưu Bang. Trong cuộc chiến Hán Sở tranh hùng, khi Lưu Bang bị Tây Sở Bá vương Hạng Vũ vây rất ngặt ở thành Huỳnh Dương, bèn nhờ Kỷ Tín đóng giả mình để lừa Hạng Vũ, nhờ thế Lưu Bang mới thoát nạn được.
---------------------
Tả hữu tuân lệnh, liền đem tên đó ra ngoài cấp cho quần áo khác cùng lương thực, tư trang rồi thả đi. Tướng sĩ dưới quyền lén bảo nhau rằng:
- Quan gia coi trọng người trung nghĩa, cho dù đó là kẻ thù cũng được thiên ân. Chúng ta bán mạng cho vua, dốc một lòng trung, sợ gì không có tiền đồ!
Giản Hoàng khen ngợi mọi người ở đấy, rồi sai tham quân tra xét công trạng để phong thưởng cho tướng sĩ từ trên xuống dưới. Lại cho người thu dọn chiến trường, những kẻ chết trận không kể người Việt hay Chiêm đều chôn cất tử tế cả, số bị thương thì cứu chữa kịp thời, đưa về hậu phương. Chính sách khoan dung ấy càng khiến lòng quân thêm phần quy phục.
Bấy giờ Cung Chính Vương tâu với vua:
- Bọn Giang Văn Bằng, Trịnh Hồng Long năm người bất tuân quân lệnh, dẫn đến quân ta bại trận ở Nam Đồng, xin Quan gia giáng tội!
Ba người Giang Văn Bằng, Trần Hoài Chí và Trịnh Hồng Long quỳ xuống dập đầu thưa rằng:
- Chúng tôi có oan tình, mặt khác vừa rồi cũng lập được công lao, xin Quan gia tha tội chết!
Giản Hoàng nghiêm mặt nói:
- Chuyện này ta đã tra xét rõ rồi. Quân lệnh như sơn, lệnh của Nguyên soái đã ban ra, các ngươi thân là đại tướng lại khinh nhờn là cớ làm sao? Trong lúc ra trận bất luận có chuyện gì đều phải tuyệt đối tuân thượng mệnh, nếu có oan ức sau ắt có người giải quyết mới là phải chứ? Các ngươi tự ý làm trái quân lệnh, gây tổn thất lớn cho quân ta, đã biết tội chưa?
Ba tướng không có gì để nói nữa. Chợt một người bước ra, là Xương Đức Vương Trần Nguyên Diệu. Vương chắp tay tâu rằng:
- Trong vụ này Giang Văn Bằng là chủ mưu, Trịnh Hồng Long chỉ bị lôi kéo. Hồng Long lại là cháu ruột của quan Tư đồ, xin Quan gia niệm tình giảm tội!
Giản Hoàng bảo:
- Pháp luật là để giữ kỷ cương thiên hạ. Vương pháp bất vị thân. Dù là hoàng thân quốc thích, nếu phạm tội cũng phải xử. Huống hồ là ngoại thích, sao có thể đứng trên luật pháp?
Nói đoạn, chàng lập tức hạ lệnh:
- Đem cả ba người ra chém!
Chỉ một lát sau, đao phủ đã mang ba thủ cấp vào trình. Giản Hoàng nhìn lướt qua, rồi phất tay:
- Treo trước cửa trại, để toàn quân lấy đó làm gương!
Ba cái đầu được treo lên cao, máu còn nhỏ giọt, gió thổi qua lay động trông vô cùng ghê rợn. Toàn quân thấy vậy đều rùng mình, thầm bảo nhau:
- Quan gia ân uy phân minh, từ nay chúng ta không thể tuỳ tiện được!
Đêm hôm ấy, Giản Hoàng mở tiệc khao quân. Sau chuỗi ngày chinh chiến gian khổ, binh sĩ được ăn uống no say, tiếng cười nói vang khắp doanh trại, tạm xua tan mùi khói lửa chiến tranh.
Sau bữa tiệc, Xương Đức Vương Trần Nguyên Diệu tâu với vua rằng:
- Chế Bồng Nga đã bỏ chạy, nhưng ba lộ Nghệ An, Tây Bình, Thuận Hóa vẫn nằm trong tay giặc. Xin Quan gia cho thần dẫn quân đánh đuổi quân Chiêm, báo thù cho Tiên đế, đòi lại quốc thổ cho triều đình!
Cung Chính Vương Trần Sư Hiền cũng tâu:
- Thần được triều đình phong làm Nguyên soái mà để thua trận ở Nam Đồng, trong lòng vô cùng hổ thẹn, nay xin được từ cả hai chức Bình Nam Nguyên soái và An phủ chánh sứ Lộ Đông Đô, xin Quan gia ân chuẩn!
Giản Hoàng bảo:
- Cả hai chuyện này còn cần sự đồng ý của Thái Thượng hoàng. Vậy ngày mai Hoàng bá đi cùng chúng ta về kinh thành triều kiến Thái Thượng hoàng, còn Nguyên Diệu đệ cứ ở đây thao luyện quân sĩ, đợi chiếu chỉ rồi sẽ xuất quân!
Cả hai vương đều chắp tay lĩnh chỉ.
Sáng hôm sau, Giản Hoàng cùng Cung Chính vương dưới sự hộ tống của ngự lâm quân, rời doanh trại trở về kinh thành Thăng Long. Còn Xương Đức vương Trần Nguyên Diệu thì ở lại Cổ Bảng, thống lĩnh hơn bốn vạn đại quân, ngày đêm luyện tập, chỉnh đốn đội ngũ, tích trữ lương thảo, chờ ngày nam chinh, quyết rửa sạch mối nhục năm xưa, thu lại giang sơn đã mất.
Q1·Ch.62: Thưởng phạt phân minh
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần