Quân Chiêm Thành tận mắt chứng kiến cảnh tử thương thảm trọng, sĩ khí nao núng, khí thế tan rã, mắt nhìn trận địa phía trước mà tưởng như hỏa ngục diêm la. Thân đặt nơi hiểm địa, từng quả đạn pháo như hung thần đòi mạng hối hả rít lên trên đầu. Tai nghe tiếng nổ kinh thiên động địa dội vào vách núi rồi vọng ngược trở lại, váng đầu long óc; mắt nhìn thấy từng hàng binh sĩ vừa còn đứng đó, khí thế hừng hực, chỉ trong chớp mắt đã bị quầng lửa nuốt chửng, thân xác vỡ nát, máu thịt tung tóe, nhuộm đỏ cả mặt đất. Những cảnh tượng ấy, dẫu là đại tướng từng chinh chiến trăm trận cũng khó lòng giữ vững tinh thần, huống chi binh sĩ bình thường. Kẻ run tay, người lùi bước, hàng ngũ bắt đầu rối loạn.
Thế nhưng quân lệnh như sơn, Chế Bồng Nga trị quân cực nghiêm, kẻ nào trái lệnh tất bị chém đầu thị chúng, cho nên dù sợ hãi đến đâu, binh sĩ Chiêm Thành cũng không dám quay lưng tháo chạy. Chúng chỉ có thể cắn răng, cúi đầu, lò dò từng bước tiến lên trong tuyệt vọng. Lớp trước ngã xuống, lớp sau lập tức bị thúc ép xông lên lấp chỗ, máu chảy thành dòng, xác chất thành đống, mà khoảng cách đến hàng rào gỗ phía trước trận địa pháo của Đại Việt dường như vẫn xa vời vợi, không thể vượt qua.
Phía bên kia, quân Đại Việt dưới quyền chỉ huy của đích thân Giản Hoàng, vận dụng hỏa pháo một cách thuần thục, từng hàng từng loạt thay phiên nhau khai hỏa, không để gián đoạn một khắc nào. Khói súng mù mịt che kín cả bầu trời, lửa đỏ rực như thiêu đốt cả khe núi, tạo thành một bức tường chết chóc mà bất kỳ kẻ nào xông vào cũng khó lòng sống sót.
Gần hai khắc(1) trôi qua, chiến trường đã trở thành một bãi tha ma khổng lồ. Hàng ngàn binh sĩ Chiêm Thành đã bỏ mạng, kẻ chết, người bị thương nằm la liệt khắp nơi, tiếng rên rỉ, kêu khóc vang vọng trong không gian đầy khói lửa.
----------------------
1. Hai khắc tương đương 30 phút
----------------------
Chế Bồng Nga đứng ở phía sau, tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy, hai mắt đỏ ngầu mở to như muốn nứt ra, hàm răng nghiến chặt đến bật máu. Là một bậc hùng chủ từng tung hoành khắp chiến trường, đánh đâu thắng đó, chưa từng biết đến mùi thất bại, nay lại phải nhìn quân mình bị tàn sát như cỏ rác, trong lòng y vừa phẫn nộ, vừa đau đớn, vừa kinh hãi.
Sau một hồi giằng co trong tâm trí, cuối cùng y đành nặng nề hạ lệnh:
- Lui quân!
Mệnh lệnh vừa ban ra, quân Chiêm như được đại xá, lập tức quay đầu tháo chạy, không còn giữ nổi đội hình. Tướng chen tướng, quân xô quân, tranh nhau tìm đường thoát khỏi hỏa ngục kinh hoàng phía trước.
Chế Bồng Nga nhìn theo, bật cười thê lương. Bao năm chinh chiến, y từng nhiều lần kéo quân đánh thẳng vào kinh thành Thăng Long, cướp bóc của cải, bắt dân Đại Việt đem về làm nô lệ, tưởng như thiên hạ này không ai có thể ngăn cản bước chân mình. Thế nhưng trận địa pháo vừa rồi như một gáo nước lạnh dội thẳng vào tham vọng ấy. Y không sao hiểu nổi quân Đại Việt từ đâu có được thứ binh khí đáng sợ đến vậy, uy lực vượt xa những gì y từng biết. Niềm tin vào chiến thắng, lần đầu tiên trong lòng y, bắt đầu lung lay.
Quân Chiêm chạy ra khỏi khe núi, ổn định đội hình. Nhưng chưa kịp hoàn hồn, phía trước đã vang lên tiếng trống trận dồn dập như sấm rền trên đồng nội. Ngước mắt nhìn, chỉ thấy một đạo quân Đại Việt đông như thác lũ đang ùn ùn kéo tới, cờ xí rợp trời, binh giáp sáng loáng. Đi đầu là một viên tướng trẻ tuổi, mình khoác giáp vàng, tay cầm trường thương, thúc ngựa xông lên, giọng sang sảng mà thét lớn:
- Xương Đức Vương nước Đại Việt ở đây! Chế Bồng Nga, mau nộp mạng!
Viên tướng trẻ ấy chính là Xương Đức Vương Trần Nguyên Diệu, thống lĩnh mười lữ đoàn tinh nhuệ gồm Thiên Trường, Thiên Đinh, Thánh Trấn, Thánh Võ, Thần Dực, Thần Vũ, Uy Tiệp, Thiết Sang, Điện Hậu, Long Tiệp. Dưới sự chỉ huy của chàng, đại quân chia làm ba mũi, như ba gọng kìm khép lại, ập thẳng vào đội hình rối loạn của quân Chiêm.
Nguyên lai mọi biến động ở Nam Đồng đều đã được thám tử của Giản Hoàng báo về từ lâu. Giản Hoàng vô cùng lo lắng, bởi lần này tuy Lê Quý Ly là người đề xuất phong Cung Chính Vương làm nguyên soái đánh Chiêm Thành, nhưng việc điều binh ở các lộ về tăng cường cho Cung Chính Vương là chủ ý của chàng. Giản Hoàng lại không nghĩ đến chuyện trong quân Việt có thể phát sinh mâu thuẫn, không ngờ rằng các tướng kia có cái gan bất tuân thượng lệnh. Chàng bèn vào tâu mọi sự việc lên Thái thượng hoàng, xin được xuất binh yểm trợ Cung Chính Vương.
Thái thượng hoàng vốn dĩ rất cố kỵ quân Chiêm, liền bảo:
- Mọi sự ta trông cậy cả vào vào Trung Tuyên quốc thượng hầu và cháu!
Giản Hoàng lĩnh mệnh, một mặt báo tin cho Lê Quý Ly, một mặt khẩn cấp điều động binh lực. Lữ đoàn Thiết Bưu được lệnh mang theo ba trăm sáu mươi khẩu pháo mới đúc tiến về Cổ Bảng, còn Trần Nguyên Diệu dẫn đại quân đi trước, cấp tốc hành quân, nhằm thẳng hướng Đông Đô mà tiến.
Lại nói quân Chiêm vừa thoát khỏi biển lửa, chưa kịp lấy lại tinh thần, nay lại gặp phải đại quân tinh nhuệ của Đại Việt chặn đường. Từ Chế Bồng Nga đến binh sĩ đều đã bị trận hỏa pháo trước đó làm cho kinh hồn bạt vía, nhuệ khí tiêu tan, giờ chỉ còn biết vừa chống đỡ, vừa tìm đường tháo chạy.
Quân Đại Việt thừa thắng xông lên, đao kiếm vung lên như chớp, chém giết quân Chiêm như chặt chuối. Hai bên giằng co một lát, thì từ phía sau lưng quân Chiêm lại vang lên tiếng người ngựa ầm ầm, chính là Cung Chính vương Trần Sư Hiền đã chỉnh đốn lại binh mã, quay lại đánh úp.
Thế trận trước sau giáp kích, quân Chiêm rơi vào cảnh tuyệt lộ. Chúng chỉ còn cách liều mạng chống đỡ, rồi mở đường máu mà chạy. Quân Đại Việt khí thế như vũ bão, truy kích không ngừng, xác giặc ngổn ngang, máu chảy thành suối.
Đến chiều hôm ấy, khi ánh mặt trời đã ngả về tây, Chế Bồng Nga chỉ còn lại hơn hai ngàn kỵ binh thân tín hộ tống. Thấy phía sau không còn quân đuổi kịp, y tạm dừng chân bên một bãi sông, thở phào nhẹ nhõm. Nhưng khi kiểm điểm lại binh lực, phát hiện các đại tướng tâm phúc phần lớn đã tử trận, hơn hai vạn quân kẻ chết người tan, trong lòng không khỏi đau xót, thở dài không dứt.
Quân sĩ vừa tranh thủ lấy lương khô ra ăn, chưa kịp hoàn hồn thì từ phía nam lại dậy lên một trận bụi mù, tiếp đó là tiếng vó ngựa dồn dập. Một đạo quân Đại Việt khác kéo đến, người đi đầu cắp siêu đao, lớn tiếng quát:
- Giặc Chiêm chớ chạy!
Tướng ấy chính là Giang Văn Bằng, chủ tướng quân lộ Hải Đông, theo sau là hai tướng Trần Hoài Chí và Trịnh Hồng Long cùng tướng sĩ dưới quyền.
Nguyên ba tướng này hôm trước thua trận, cho quân rút chạy rồi tập hợp lại lực lượng. Hôm sau lại chiêu tập thêm được mấy ngàn quân Đại Việt thất lạc đội ngũ nữa, thế lực mạnh hơn, liền đi tìm quân Chiêm Thành báo thù. Được tin quân Chiêm thua ở Cổ Bảng đang rút về phương Nam, ba tướng liền dẫn quân đón đầu, mới gặp nhau ở đây.
Chế Bồng Nga không còn lựa chọn, buộc phải hạ lệnh bày trận chống trả. Quân của Giang Văn Bằng lấy nhàn đánh mệt, lại có ưu thế binh lực, khí thế dâng cao như triều cường. Tuy nhiên, số kỵ binh còn lại của Chiêm Thành đều là tinh nhuệ, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Chế Bồng Nga, vẫn giữ được phần nào sức chiến đấu. Hai bên giao chiến ác liệt, giằng co mấy canh giờ.
Đến giữa giờ Thân, từ phía bắc lại xuất hiện hai cánh quân của Trần Nguyên Diệu và Cung Chính vương kéo tới. Lần này, quân Chiêm hoàn toàn mất hết ý chí chiến đấu. Chế Bồng Nga không dám chần chừ, lập tức hạ lệnh rút lui.
Quân Việt đuổi rát, quyết tâm bắt sống Chế Bồng Nga. Các tướng sĩ Chiêm Thành lo lắng lắm. Đang lúc nguy cấp, tướng Ma Ha Cồ La bèn tâu với Chế Bồng Nga rằng:
- Việc binh không thể câu nệ tiểu tiết, xin bệ hạ bỏ mũ thay áo, thần sẽ cho người đưa bệ hạ đi trước, thần xin ở lại tử chiến với quân Việt bảo vệ cho Người!
Chế Bồng Nga anh dũng một đời nhưng đến lúc này cũng phải biết sợ, liền vứt bỏ áo mũ, chui vào một cỗ xe nhỏ được một đội kỵ binh tinh nhuệ bảo vệ chạy tuốt về phía Nam. Ma Ha Cồ La sai một tên lính vóc dáng giống với Chế Bồng Nga, cho mặc quần áo của vua vừa bỏ ra, rồi chỉ huy toàn bộ quân Chiêm còn lại bày trận giữ chân quân Đại Việt, nhờ vậy Chế Bồng Nga mới trốn thoát.
Chạy được mấy chục dặm, trước mặt lại là một con sông lớn chắn ngang. Chế Bồng Nga tuyệt vọng than rằng:
- Khéo ta bỏ mạng ở đây rồi!
Vừa dứt lời thì chợt nhìn thấy từ phía hạ du một đoàn thuyền chiến Chiêm Thành rẽ sóng lướt tới, lại gần nhìn thấy người đứng trên mũi thuyền chính là Thuỷ sư phó tướng Ma Thanh Lung. Mấy tên kỵ binh theo sau Chế Bồng Nga vội mang cờ Chiêm Thành chạy ra bờ sông phất lên. Ma Thanh Lung nhìn thấy liền sai người ghé vào, đón được Chế Bồng Nga cùng các tướng sĩ lên thuyền.
Lên hết thuyền rồi, Chế Bồng Nga liền hỏi Ma Thanh Lung tại sao lại tới đây. Thanh Lung liền bẩm rằng:
- Cách đây ba ngày, một đội quân Việt khoảng ba ngàn người đánh kho lương của chúng ta ở trên núi Mậu Sơn. Năm ngàn quân sĩ hy sinh gần hết, đại tướng Ông Côn Đồ La cùng một số tàn binh chạy thoát ra cửa biển, tìm đến chỗ chúng thần. Thần sai người đi tìm bệ hạ, được tin bệ hạ đang đánh nhau với quân Việt ở Cổ Bảng nên mang thuyền tới đây!
Chế Bồng Nga nghe xong thì trầm ngâm, hồi lâu thở dài mà rằng:
- Quân Đại Việt còn mạnh như thế, chứng tỏ vận nước của họ chưa mất! Phen này chúng ta về nước thôi, không đánh nữa!
Lời nói ấy, không chỉ là mệnh lệnh rút quân, mà còn là dấu hiệu cho một bước ngoặt lớn trong cuộc đối đầu kéo dài giữa hai quốc gia, khi một bậc hùng chủ lần đầu tiên phải thừa nhận rằng vận số không còn đứng về phía mình nữa.
Q1·Ch.61: Chế Bồng Nga vứt áo mũ thoát thân
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần