Giờ Mão ngày hôm sau, khi bình minh vừa ló rạng sau dãy núi Thiên Cầm, nhuộm hồng cả một góc trời Đông Đô, từ soái trại của Bình Nam Nguyên soái Cung Chính Vương Trần Sư Hiền, tiếng trống điểm tướng đã rền vang không ngớt. Tiếng trống lệnh trầm hùng, vang vọng khắp doanh trại rộng lớn, át cả tiếng gió sớm se sắt và tiếng ngựa hí xa xa. Từ viên đại tướng oai vệ đến tên lính trơn chân đất, ai nấy đều hiểu rõ: hôm nay là ngày Nguyên soái điểm tướng xuất chinh.
Gọi là "điểm tướng", thực chất chính là ban bố mệnh lệnh chiến đấu sinh tử cho toàn quân. Quy tắc sắt đá đã được lập ra từ lâu: hồi trống thứ nhất nổi lên, mọi người phải mặc giáp chỉnh tề, kiểm tra vũ khí, ngựa chiến; hồi trống thứ hai, từng cơ, từng đội phải chạy nhanh về soái trại, không được chậm trễ nửa bước; hồi trống thứ ba dứt, tất cả phải xếp thành hàng ngũ ngay ngắn trước đại kỳ trung quân. Nếu ai còn lơ là, chậm chân, hoặc vắng mặt, chỉ có một kết cục duy nhất: đầu lìa khỏi cổ, thân xác phơi ngoài đồng hoang làm mồi cho quạ đen. Không có ngoại lệ, dù là tướng hay binh.
Không khí trong soái trại lúc này ngột ngạt và căng như dây đàn. Những hàng xe xếp thành dãy dọc ngang thẳng tắp, cờ xí bay phất phới trong gió sớm, các đội quân ùn ùn kéo đến tề tựu. Tiếng chân người, vó ngựa vội vã chạy lại, tiếng giáp sắt va chạm leng keng, tiếng hô khẩu lệnh vang vọng.
Ở giữa soái trướng rộng lớn, Cung Chính Vương Trần Sư Hiền đứng oai vệ trên đài cao. Ông mặc bộ giáp mạ vàng óng ánh, được chế tác tinh xảo từ những lớp thép tốt nhất, đeo đai lưng ngọc quý phía trước chạm nổi đầu con kỳ lân hung dữ. Trên đầu là chiếc mũ đâu mâu nạm ngọc trai lấp lánh, toát lên vẻ uy nghiêm của một vị nguyên soái lão luyện. Bên cạnh ông là Giám quân, quốc cữu Lê Song, mặc trang phục Thượng thư nghiêm trang, khuôn mặt lạnh lùng không lộ cảm xúc. Xếp hai hàng bên dưới là Phó soái Lý Kim An cùng bảy viên đại tướng từ các lộ: Huỳnh Nam Phong chủ tướng quân lộ Khoái Châu, Đỗ Đình Du chủ tướng lộ Trường Yên, Trần Hoài Chí chủ tướng lộ Long Hưng, Đinh Cảnh Quân chủ tướng lộ Thiên Trường, Giang Văn Bằng chủ tướng lộ Hải Đông, Lê Trọng Phúc và Trịnh Hồng Long chủ tướng lộ Quảng Oai. Không khí im phăng phắc, chỉ có tiếng phần phật của những lá cờ bay trên đầu mọi người.
Cung Chính Vương tay cầm cây thước nhỏ bằng vàng sáng loáng, chỉ vào những vị trí then chốt trên tấm bản đồ da dê treo bên trái. Giọng ông trầm hùng, mang theo sức nặng của mệnh lệnh sinh tử:
- Giờ Hợi đêm qua, thám mã đã về báo tin khẩn: Đội quân của Đỗ Tử Bình sau một ngày cầm cự anh dũng đã không chống nổi sức ép khủng khiếp của quân Chiêm Thành. Toàn quân bị diệt sạch, Đỗ Tử Bình bỏ mạng trong đám loạn binh. Hiện nay, đại quân Chiêm Thành do Chế Bồng Nga thống lĩnh đang tiến về phía chúng ta như thủy triều. Ước chừng giờ này chúng đã vượt qua sông Huệ Giang, theo tốc độ hành quân hung hãn của chúng, sáng nay sẽ có mặt ngay tại đây. Ta quyết định đón chờ chúng ở cánh đồng rộng lớn này.
Ông dừng lại một chút, ánh mắt quét qua các tướng, rồi tiếp tục với giọng kiên định:
- Cánh quân chủ lực của ta, cùng hai đội quân của Huỳnh Nam Phong và Đỗ Đình Du, sẽ đánh địch ở hướng chính diện. Bên trái là núi Thiên Cầm hiểm trở, các tướng Trần Hoài Chí, Giang Văn Bằng, Lê Trọng Phúc sẽ dẫn quân mai phục sau núi, ẩn náu kỹ lưỡng. Khi nghe hiệu lệnh từ bản trại - ba phát pháo hiệu đỏ - lập tức xông ra đánh vào sườn trái đội hình quân Chiêm. Bên phải là rừng Tứ An um tùm, các tướng Đinh Cảnh Quân và Trịnh Hồng Long dẫn quân bản bộ ẩn phục trong rừng sâu. Cũng chờ hiệu lệnh mà đánh úp sườn phải quân giặc. Binh lực hai bên tương đương, nhưng quân Chiêm hành quân xa xôi, mệt mỏi, lại vừa trải qua mấy trận đánh lớn. Chúng ta lấy nhàn đánh mệt, bất ngờ bao vây từ ba phía, chắc chắn sẽ giành phần thắng!
Các tướng đồng thanh chắp tay hô lớn: "Tuân lệnh Nguyên soái!"
Tiếng hô vang vọng trong soái trướng, nhưng trong một số đôi mắt – đặc biệt là ánh mắt của Giang Văn Bằng, Lê Trọng Phúc và Trịnh Hồng Long – có những tia lạnh lẽo, mưu mô lướt qua nhanh như chớp. Những tia nhìn ấy không thoát khỏi sự chú ý của vài vị tướng khác, nhưng lúc này không ai dám lên tiếng.
Truyền lệnh xong, các tướng xoay người, bước ra khỏi trướng với bước chân nặng nề. Mỗi người dẫn theo tùy tùng của mình về doanh trại riêng để chuẩn bị. Không khí doanh trại lúc này càng lúc càng sôi sục: binh sĩ kiểm tra dây cung, mài sắc lưỡi kiếm, buộc chặt yên ngựa, tiếng ra mệnh lệnh vang vọng khắp nơi. Gió sớm mang theo mùi đất ẩm và hơi thở lo âu của hàng vạn con người sắp bước vào một trận tranh hùng sinh tử.
Sáng hôm ấy, quả nhiên, tiếng trống trận và tiếng vó ngựa rầm rập báo hiệu đại quân Chiêm Thành đã kéo đến. Chế Bồng Nga - vị quốc vương oai hùng của Chiêm Thành, người đã từng khiến Thăng Long mấy lần rung chuyển - nghe tin quân Việt đã dàn trận chờ sẵn, liền cười lớn, tự tin thúc quân tiến lên. Tham quân Ma Nộ Năng, một mưu sĩ lão luyện, lo lắng khuyên can:
- Bệ hạ, xin ngài thận trọng. Quân Việt đến trước chúng ta nửa tháng, đã có thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng. Trong khi quân ta nhọc mệt vì hành quân hàng trăm dặm đường trường, lại vừa trải qua mấy trận đánh liên tiếp. Thần lại thấy cánh đồng Nam Đồng tuy rộng rãi mênh mông, nhưng bên trái có núi Thiên Cầm cao vời vợi, bên phải có rừng Tứ An um tùm, đều là những nơi lý tưởng để phục binh. Xin bệ hạ cho điều tra kỹ càng, kẻo mắc phải kế mai phục của giặc!
Chế Bồng Nga ngửa mặt cười ha hả, tiếng cười vang vọng như sấm:
- Ngươi quá cẩn thận rồi! Ta dẫn hơn năm vạn đại quân tinh nhuệ, từ tháng tư đến giờ tiến vào biên cương Đại Việt, đánh đâu thắng đấy, thế như chẻ tre, không gặp đối thủ. Quân giặc nghe tiếng quân ta là đã sợ mất mật, run như cầy sấy, làm gì còn lòng dạ mà bày mưu đặt kế? Ngươi cứ chờ xem, chỉ trong ngày hôm nay thôi, ta sẽ quét sạch bọn chúng như đã đánh tan đội quân rác rưởi hôm trước. Vài bữa nữa, ta sẽ chiếm được thành Thăng Long, khiến vua Trần phải quỳ gối dâng đất nộp thành!
Nói xong, hắn phất tay thúc quân mau tiến lên. Tiếng trống trận của Chiêm Thành rền vang, chiến tượng gầm rú, kỵ binh ào ào tiến về phía trước như một cơn thủy triều màu đỏ.
Khi hai quân giáp mặt, cảnh tượng thật hùng vĩ và kinh hoàng. Quân Việt đã bày sẵn trận thế trên cánh đồng rộng lớn, chiều ngang cả trăm trượng. Hàng đầu tiên là mấy trăm cỗ đại pháo uy nghi, nòng đồng đen sì hướng về phía địch. Phía sau là đội tượng binh hùng hậu khoảng một nghìn con, trên lưng mỗi con voi có bốn tên cung thủ. Sau đội tượng binh là kỵ binh đông đảo, nhìn không thấy điểm cuối, bộ binh xếp dày đặc ở phía sau cùng, cờ xí bay phấp phới.
Chế Bồng Nga đứng trên voi chiến cao lớn quan sát trận thế đối phương, rồi gọi hai viên tướng đến ra lệnh:
- Quân địch đang xếp theo thế trận "Trường Xà", phá chẳng khó gì. Trà A Linh, ngươi đem một vạn kỵ binh đánh vòng bên trái; Ma Ha Cồ La, ngươi đem một vạn kỵ binh đánh vòng bên phải. Lập tức xuất phát!
Hai tướng tuân lệnh, điểm quân lập tức lên đường.
Chế Bồng Nga lại sai năm nghìn cung thủ dàn hàng ngang phía trước, dùng hỏa tiễn bắn thẳng vào đội hình quân Đại Việt. Bên phía Việt, pháo nổ vang trời tấn công, nhưng Chế Bồng Nga không hổ danh là một bậc kỳ tài dụng binh. Y đã tiên lượng trước khi bày trận. Đạn pháo của quân Việt bằng đá nặng nề, khoảng cách giữa hai bên được y tính toán đủ xa để hỏa tiễn của Chiêm Thành có thể bay đến đội hình Việt mà đạn pháo hầu như không tới được. Tức thì bên quân Việt hỗn loạn. Lính pháo thủ bị tên bắn chết la liệt, một số thuốc nổ dính hỏa tiễn cháy bùng lên kinh hoàng, khói đen mù mịt, quân Việt người chết pháo tan, thiệt hại thê thảm ngay từ đầu trận.
Phó soái Lý Kim An đang giám trận, mặt đỏ bừng căm tức, lập tức thét lớn ra lệnh cho pháo binh rút lui, thúc đội tượng binh xông thẳng vào đội hình quân Chiêm Thành.
Chế Bồng Nga lạnh lùng phất lá cờ xanh. Một trăm cỗ nỗ xa tiến lên phía trước. Đây là những chiến xa do người Chiêm học tập từ Trung Quốc mà chế tạo. Trên mỗi xe là một cỗ nỏ khổng lồ, mỗi lần bắn ra ba mũi tên to bằng cây trường thương. Tên dài, nỏ lớn chính là vũ khí chuyên khắc chế tượng binh. Viên đội trưởng hô lớn một tiếng "Bắn!", hàng trăm mũi tên khổng lồ bay vùn vụt như mưa về phía trước. Những con voi đi đầu trúng tên, ré lên thảm thiết, bỏ chạy tán loạn. Đội hình tượng binh lập tức rối loạn. Những con voi ít được huấn luyện, theo bản năng hoảng loạn, bất chấp lệnh quản tượng, chạy ngược về phía quân Đại Việt, giày xéo lên đội kỵ binh của chính mình, khiến máu me be bét, tiếng kêu la vang trời.
Lý Kim An vô cùng căm tức, nghiến răng ken két, đành thúc chiêng ra lệnh cho đội tượng binh rút về, đồng thời thúc kỵ binh và bộ binh xông lên phản công. Nhưng đúng lúc ấy, hai đội kỵ binh của quân Chiêm do Trà A Linh và Ma Ha Cồ La cũng đánh kẹp vào hai sườn như hai lưỡi dao sắc bén. Phía trước, Chế Bồng Nga ra lệnh toàn quân ào ạt tấn công, dồn ép quân Việt vào giữa như gọng kìm sắt.
Cung Chính Vương Trần Sư Hiền đứng trên đài quan sát, mặt tái đi, hoảng sợ thét lớn:
- Bắn pháo hiệu! Mau cho hai cánh quân mai phục xuất kích!
Quân Việt từ trên đài cao bắn pháo hiệu, những quầng lửa vọt lên giữa trời, cùng với tiếng kêu lanh lảnh. Chế Bồng Nga cũng nhìn thấy, nhưng y chỉ cười khẩy, truyền lệnh bình tĩnh:
- Tướng quân Trà Bân dẫn một vạn quân phòng thủ bên tả, tướng quân Bố Đông dẫn một vạn quân phòng thủ bên hữu. Xe ngoài người trong, theo đội hình vừa tiến lên vừa phòng thủ chặt chẽ!
Nhưng pháo hiệu bắn hết rồi mà hai phía núi Thiên Cầm và rừng Tứ An vẫn im lìm không một động tĩnh. Không thấy bóng dáng quân mai phục nào xông ra. Quân Việt dần dần rơi vào thế bị động, trong khi Chế Bồng Nga vẫn ung dung chỉ huy trên lưng voi chiến, ánh mắt lóe lên sự kiêu ngạo và tự tin của một bậc anh hùng bất bại.
Cánh đồng Nam Đồng hôm ấy, dường như đã sẵn sàng nuốt chửng hàng vạn sinh linh vào lòng đất đỏ...
Q1·Ch.58: Hương Nam Đồng, Cung Chính vương khai chiến
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần