Lại nói về ba trăm thuyền lương của Chiêm Thành theo lệnh vội vàng rút lui về phía cửa biển, cờ hiệu rũ xuống, mái chèo khua nước dồn dập, tưởng rằng chỉ cần vượt qua đoạn sông hiểm yếu này là có thể thoát khỏi vòng vây, sau đó tìm cách khác chở lương lên núi Mậu Sơn. Nào ngờ mới đi được hơn mười dặm, lòng sông bỗng mở rộng, hai bên bờ cỏ lau rạp xuống theo gió, không gian tĩnh lặng đến mức khiến người ta sinh nghi. Rồi trong làn sương sớm còn bảng lảng chưa tan, hai bên bờ bỗng nhiên hiện ra hàng hàng lớp lớp quân Việt đứng chỉnh tề, đội ngũ nghiêm chỉnh, cờ bay phấp phới, giáo mác như rừng.
Phía trước là trận địa pháo đã dàn sẵn, hàng trăm khẩu đại pháo đen ngòm chĩa thẳng ra lòng sông; phía sau là cung thủ, bộ binh, kẻ đứng người ngồi ken đặc, khí thế bức người. Đó chính là hai Lữ đoàn Uy Tiệp và Bảo Tiệp dưới quyền chỉ huy của Đỗ Dã Ca và Trần Trung Hiếu, vốn đã mai phục tại đây từ trước, chỉ chờ con mồi sa lưới.
Theo mưu kế đã định của Lê Quý Ly cùng các thủ hạ, hai lữ đoàn này trước đó ẩn nấp trong các lùm cây rậm rạp, ém quân tuyệt không để lộ tung tích. Đợi cho toàn bộ đoàn thuyền lương của Chiêm Thành lọt qua đoạn sông then chốt, cắt đứt đường quay đầu, mới đồng loạt kéo ra, triển khai thế trận gọng kìm ở hai bên bờ. Khúc sông này địa thế trống trải, bãi cỏ bằng phẳng, rất thuận lợi cho việc bố trí pháo binh và cung thủ. Đỗ Dã Ca và Trần Trung Hiếu đều là những danh tướng dày dạn trận mạc, hiểu rõ phép dụng binh, liền cho quân xếp thành từng tuyến, từng lớp, trước pháo sau cung, giữa là bộ binh làm lực lượng cơ động, thế trận như vách sắt tường đồng, khiến kẻ nhìn thấy không khỏi rợn người.
Hai bên vừa giáp mặt, quân Việt không hề gõ trống khua chiêng, cũng chẳng buông lời hô hoán, chỉ nghe một tiếng pháo lệnh chói tai vang lên, tức thì hàng trăm khẩu pháo đồng loạt khai hỏa. Tiếng nổ dậy đất rung trời, khói lửa cuồn cuộn, đạn đá như mưa trút xuống mặt sông. Những con thuyền bằng gỗ vốn chỉ dùng để chuyên chở lương , không chịu nổi sức công phá dữ dội ấy, lập tức bị đập vỡ tan tành, mảnh ván tung tóe, cột buồm gãy đổ, thân thuyền nghiêng ngả rồi chìm nghỉm. Nước sông đỏ lòm, tiếng kêu la thảm thiết vang dậy một vùng. Có kẻ bị đạn pháo đánh trúng, thân thể nát bấy; có kẻ hoảng loạn nhảy xuống nước, nhưng giữa dòng nước xoáy cũng khó lòng thoát chết. Lương thảo tích trữ bao ngày cứ thế đổ xuống sông, trôi nổi rồi chìm lấp, tổn thất không sao kể xiết.
Viên tướng chỉ huy đoàn thuyền Chiêm Thành thấy thế kinh hãi, vội vã truyền lệnh quay đầu, thúc quân chèo ngược dòng, mong thoát khỏi trận địa pháo. Nhưng vừa quay thuyền chưa được bao xa, từ hai bên bờ, hàng trăm cung thủ đã giương cung bắn tên lửa. Từng loạt hỏa tiễn xé gió lao đi, cắm phập vào buồm, vào thân thuyền, lửa bùng lên dữ dội. Rồi lại nghe một tiếng pháo hiệu khác vang lên từ phía thượng nguồn. Ngước mắt nhìn, chỉ thấy hàng chục chiếc bè lớn chất đầy củi khô tẩm lưu huỳnh, diêm tiêu, bốc cháy ngùn ngụt, đang theo dòng nước lao thẳng xuống như những con thú lửa, chặn đứng đường rút lui của quân Chiêm.
Thế là đoàn thuyền lương rơi vào cảnh tuyệt địa: tiến thì gặp bè lửa, lui thì bị pháo kích, hai bên lại có tên lửa bắn tới, quả thật "tiến thoái lưỡng nan", không còn đường sống. Nhiều binh sĩ hoảng loạn, bất chấp quân lệnh, nhảy xuống sông hòng tìm đường thoát thân, nhưng phần nhiều đều bị dòng nước cuốn đi hoặc trúng tên mà chết. Viên tham tướng chỉ huy, thấy đại thế đã mất, lòng tuyệt vọng, rút gươm định tự tận để giữ khí tiết.
Ai ngờ "bọ ngựa bắt ve, chim sẻ đứng đằng sau", đúng vào lúc quân Việt tưởng như đã nắm chắc thắng lợi trong tay thì ở phía xa bỗng dậy lên tiếng vó ngựa dồn dập, tiếng hò reo vang trời. Từ phía sau trận địa, hai cánh quân Chiêm Thành bất ngờ xuất hiện, đánh thốc vào hậu quân của hai lữ đoàn Uy Tiệp và Bảo Tiệp, thế công như sóng trào, khiến đội hình quân Việt lập tức chao đảo.
Hai đội quân ấy ở đâu ra?
Vốn dĩ khi Chế Bồng Nga dừng lại ở Trường Yên thì đã tung lực lượng mật thám đi khắp xung quanh để dò la tin tức. Hôm đó, có một tên vội vã quay về báo:
- Muôn tâu bệ hạ, có một đạo quân lớn của Đại Việt, khoảng mấy ngàn tướng sĩ mang theo hàng trăm khẩu đại pháo, giờ Mão hôm nay đi qua huyện Yên Ninh.
Chế Bồng Nga chăm chú nhìn tấm bản đồ, chợt giật mình kêu lớn:
- Quân ta nguy mất!
Tả hữu ngạc nhiên hỏi vì sao. Chế Bồng Nga chỉ tay vào tấm bản đồ, lắc đầu than thở:
- La Ngai chỉ lo thủy quân Việt tấn công trên biển, nào ngờ chúng lại giăng bẫy trên bộ. Kẻ nào nghĩ ra chiêu này, thật là cao minh!
Tả hữu có kẻ vẫn chưa hiểu, Chế Bồng Nga lười giải thích, hất hàm cho một viên tham tướng. Người này chắp tay lĩnh mệnh, rồi bước lên nói:
- Quân Việt từ Thăng Long hành quân qua huyện Yên Ninh, ắt sẽ tiến về phía cửa biển Thần Đầu. Bọn chúng nhất định sẽ bày trận địa pháo mai phục quân ta ở đoạn sông này - vừa nói, y vừa chỉ tay vào những nét vẽ trên bản đồ - nếu thế, mấy trăm con tàu của ta nguy mất!
Các tướng nghe vậy đều tái mặt. Chế Bồng Nga nghiêm giọng:
- Trà A Linh!
Đại tướng Trà A Linh nhanh chóng bước lên:
- Có mạt tướng!
- Ngươi dẫn năm nghìn kỵ binh cấp tốc xuất phát, ngày đêm không nghỉ, đuổi theo quân Đại Việt về cửa Thần Đầu. Tới nơi phải lập tức tấn công ngay, không để chúng xâm phạm đoàn thuyền lương của ta!
- Rõ! Trà A Linh chắp tay hô to, lập tức xoay người bước ra ngoài điểm quân lên đường.
Năm nghìn kỵ binh Chiêm Thành lập tức rầm rập phi về phía cửa biển. Khi gần đến nơi, nghe thám mã báo cáo đoàn thuyền lương đã trúng mai phục, Trà A Linh không dám chậm trễ, liền chia quân làm hai mũi men theo các lối mòn hiểm trở vòng ra phía sau trận địa quân Việt. Đường núi nơi đây quanh co, dốc đứng, lại có nhiều khe suối, đầm lầy, kỵ binh đi lại vô cùng khó khăn, ngựa trượt chân ngã không ít, nhưng vì tình thế cấp bách, quân Chiêm vẫn cắn răng tiến bước. Mất mấy canh giờ, hai cánh quân mới tiếp cận được vị trí đã định.
Trà A Linh lập tức bắn pháo hiệu làm ám hiệu tổng công kích. Nghe hiệu lệnh, quân Chiêm Thành từ hai phía ập ra như vũ bão, đánh thẳng vào sau lưng quân Việt. Đỗ Dã Ca và Trần Trung Hiếu không kịp trở tay, lại thêm quân số ít hơn, đội hình lập tức rối loạn. Pháo binh chưa kịp xoay nòng, cung thủ chưa kịp chuyển hướng, đã bị kỵ binh đối phương xông vào chém giết. Thế trận vốn vững như thành đồng phút chốc tan vỡ.
Hai tướng Đỗ, Trần đành hô quân phá vòng vây, vừa đánh vừa lui, tìm đường chạy về phía quân của Nguyễn Đa Phương mong cầu cứu viện. Nhưng lúc này, Nguyễn Đa Phương cũng đang bị đại quân của Ma Thanh Lung chặn đánh kịch liệt, hai lữ đoàn Long Tiệp và Ô Đồ phải dốc toàn lực chống đỡ, tình thế vô cùng nguy cấp. Thấy quân Uy Tiệp, Bảo Tiệp thua chạy, Đa Phương kinh hãi, biết không thể giữ nổi, liền truyền lệnh khua chiêng thu quân, rút lui để bảo toàn lực lượng.
Ma Thanh Lung vốn lo cho đoàn thuyền lương, không muốn dây dưa, thấy quân Việt rút lui cũng không truy kích, liền hợp binh với Trà A Linh quay lại cứu vớt tàn quân và kiểm kê thiệt hại. Sau một hồi kiểm đếm, phát hiện đã có bảy mươi thuyền chìm xuống đáy sông, bốn mươi thuyền khác bị cháy dở nhưng còn có thể cứu vãn. Hai tướng lập tức cho kéo số thuyền còn lại về bến Kim Quy, huy động binh sĩ vận chuyển lương thảo lên bờ, rồi theo đường núi đưa lên Mậu Sơn, giao lại cho tướng Ông Côn Đồ La trông coi.
Chế Bồng Nga nghe tin lương thảo tuy tổn thất nhưng vẫn giữ được phần lớn, mừng rỡ vô cùng, lập tức hạ lệnh chỉnh đốn binh mã, chuẩn bị tiến công. Còn phía Đại Việt, Nguyễn Đa Phương rút quân về triều, tâu rằng:
- Chúng thần đã đánh chìm hơn trăm thuyền lương của giặc, nhưng vì viện binh địch kéo đến quá đông, không thể giữ trận, đành lui quân để toàn lực lượng.
Lê Quý Ly nghe xong, sắc mặt giận dữ, toan buông lời trách mắng. Nhưng Thái thượng hoàng lại lên tiếng trước, lời lẽ ôn hòa:
- Thôi, dù sao các tướng đã tận lực, công lao không nhỏ, nên thưởng chứ không nên trách.
Ngay sau đó, triều đình ban thưởng hậu hĩnh cho Lê Quý Ly và Nguyễn Đa Phương. Đa Phương nhờ vậy mà càng thêm tự phụ, trước mặt đồng liêu thường tỏ vẻ kiêu căng, không còn giữ lễ như trước.
Các võ tướng trong triều nhìn cảnh ấy, chỉ biết đưa mắt nhìn nhau mà thở dài. Phép dùng người xưa nay cốt ở công minh: có công phải thưởng, có tội phải phạt, trên dưới rõ ràng thì lòng người mới phục. Nay kẻ có lỗi lại được khen, người có công chưa chắc đã được trọng, lại thêm tình riêng xen vào công việc, tất sinh oán khí. Thái thượng hoàng vì thiên vị thân tín của Lê Quý Ly mà xử sự khoan dung, không ngờ gieo mầm bất mãn trong hàng ngũ triều thần. Những vết rạn nứt ấy tuy nhỏ, nhưng lâu ngày tích tụ, tất thành họa lớn. Cái mầm loạn của triều Trần, suy cho cùng, cũng bắt đầu từ những điều tưởng chừng vụn vặt như thế!
Q1·Ch.55: Đại chiến ở bến Kim Quy
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần