Trong khi vua tôi Đại Việt củng cố quân đội, chấn hưng kinh tế quốc gia thì ở phía Nam, bầu trời lại một lần nữa rực cháy bởi ngọn lửa viễn chinh của người Chiêm.
Đầu tháng tư năm ấy, Chế Bồng Nga đích thân dẫn bảy vạn tinh binh tràn qua biên giới Đại Việt, đánh thẳng vào trấn Thuận Hoá rồi đến trấn Tây Bình(1), thế như chẻ tre. Đại quân Chiêm Thành lần này bao gồm cả bộ binh và thủy binh. Chế Bồng Nga đã cho đóng hàng trăm chiến thuyền loại lớn, đáy bằng để có thể thâm nhập sâu vào các cửa sông. Quân Việt ở hai trấn Thuận Hóa, Tây Bình chưa đầy ba vạn, lại đóng quân phân tán nhiều nơi nên không cách gì chống nổi đại quân Chiêm Thành.
-----------------------------------
1. Tương đương hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay.
-----------------------------------
Tại trận Tây Bình, quân Chiêm sử dụng chiến thuật "Hỏa tượng tiên phong, kỵ binh áp sát". Hàng trăm thớt voi chiến được bọc giáp đồng, trên lưng mỗi thớt voi là một tiểu đội cung thủ sử dụng cung nỏ bắn hỏa tiễn áp đảo tiên phong quân Việt. Tiếp đó, khi thế trận của quân Việt rối loạn, kỵ binh Chiêm Thành lập tức lao lên càn quét. Quân Việt anh dũng chiến đấu nhưng trước sức áp đảo như nước lũ của tượng binh, kỵ binh Chiêm Thành đã nhanh chóng thất bại, rút chạy trong hỗn loạn. Các phòng tuyến dọc sông Thạch Hãn và sông Gianh lần lượt tan vỡ chỉ sau vài ngày giao tranh.
Tháng Năm, đại quân Chiêm tiến sát phủ lộ Nghệ An - cửa ngõ quan trọng trấn giữ yết hầu Đại Việt. An phủ sứ Hoàng Tuyên của lộ Nghệ An, một nhân vật văn võ song toàn, hiểu rằng nếu Nghệ An mất, Thăng Long sẽ lâm nguy. Ông lập tức ban lệnh "Thanh dã" (vườn không nhà trống), dồn dân vào trong thành, đôn đốc quân sĩ đào thêm nhiều con hào và hầm chông, đắp thêm nhiều lũy đất bên ngoài thành đá. Quân Nghệ An có hơn hai vạn người, với khoảng ba mươi khẩu "Thần cơ pháo" đúc bằng đồng, đã sẵn sàng ứng chiến.
Cuộc chiến nổ ra dữ dội dưới chân thành Nghệ An. Tiếng gầm của hỏa pháo vang động một góc trời, khói thuốc súng đen kịt quyện với cát bụi miền Trung. Trong suốt một tuần lễ, quân Chiêm tổ chức hàng chục đợt công thành nhưng đều bị quân dân Đại Việt anh dũng đẩy lui. Hết đạn pháo người Việt dùng cung nỏ, hết cung nỏ thì ném đá, dội dầu sôi... Xác lính Chiêm chất cao dưới chân thành, máu chảy ròng ròng xuống hào sâu.
Thế nhưng Chế Bồng Nga không chỉ là một vị vua, y cũng là một tướng quân lão luyện, một chiến lược gia bậc thầy. Nhận thấy tấn công trực diện thành Nghệ An khó có kết quả, y liền gọi các mưu sĩ và đại tướng dưới quyền vào bàn kế. Đêm mười tám tháng Năm, một hạm đội gồm 200 chiến thuyền bí mật rời bến, chở theo ba vạn kỵ binh vòng qua mũi lạch, đổ bộ lên sát Diễn Châu - phía sau lưng cánh quân của Hoàng Tuyên.
Cùng lúc đó, trong lòng thành Nghệ An, sự rệu rã đã bắt đầu. Trịnh Khuê - một viên phó tướng vốn mang lòng oán hận triều đình vì không được thăng thưởng xứng đáng sau trận Đồ Bàn - đã bị nội gián của Chiêm Thành mua chuộc. Đêm hôm đó, Trịnh Khuê cùng hơn 500 thủ hạ tâm phúc bí mật hạ cầu treo, mở toang cửa phía Tây. Quân Chiêm như lũ dữ tràn vào. Tiếng la hét vang lên trong bóng tối. Hoàng Tuyên đang khoác chiến bào thị sát trên mặt thành, nghe tiếng quân Chiêm hò reo phía dưới thì rụng rời tay chân. Ông cùng hơn hai mươi thuộc cấp bị bắt sống khi đang cố gắng tổ chức một cuộc phá vây tuyệt vọng.
Chế Bồng Nga nghênh ngang kéo quân vào dinh An phủ sứ, ngồi tót lên chiếc ghế chạm kỳ lân, vốn chỉ dành cho người đứng đầu Lộ Nghệ An trong tiếng reo hò tán thưởng của thuộc hạ, đôi mắt sáng rực ngạo nghễ.
Y thét lính giải tù binh vào. Quân Chiêm thô bạo lôi Hoàng Tuyên cùng đám quan viên bại trận tới. Quần áo họ rách nát, vấy đầy bùn đất và vết máu khô, nhưng gương mặt Hoàng Tuyên vẫn giữ vẻ cương nghị của một bậc lão thần.
"Quỳ xuống!" - Một tên lính Chiêm hét lên bằng thứ tiếng Việt lơ lớ, thúc mạnh sống đao vào khoeo chân Hoàng Tuyên.
Vị An phủ sứ tuổi ngoài ngũ thập nghiến răng nhịn đau. Ông trợn mắt, nhìn thẳng vào Chế Bồng Nga mà mắng lớn, giọng vang động cả gian sảnh:
- Ta là quan đại thần của Đại Việt, chỉ quỳ trước Thái thượng hoàng và Quan gia nước ta, không bao giờ quỳ trước bọn nam man các ngươi!
Chế Bồng Nga cười ha hả:
- Khí khái lắm! Vậy để ta cho ngươi gặp một người, xem ngươi có quỳ không nhé?
Hoàng Tuyên hừ một tiếng đầy khinh bỉ, quay mặt sang bên không thèm trả lời. Nhưng ngay sau đó, ông nghe thấy một tiếng nói thanh thoát, chuẩn giọng kinh kỳ vang lên phía sau:
- Văn Túc công vẫn mạnh khoẻ chứ?
Hoàng Tuyên giật nẩy mình. Văn Túc là tên tự của Hoàng Tuyên, chỉ những người thân quen của ông mới biết để gọi. Ông liền từ từ quay lại. Chỉ thấy đứng trên án cạnh Chế Bồng Nga là một thanh niên chừng hơn hai mươi tuổi, dáng vẻ cao quý, mặt đẹp như tạc từ ngọc thạch, đầu đội mũ tử kim quan lấp lánh dưới ánh nến, khoác bạch bào thêu rồng bốn móng(2), lưng thắt đai ngọc lục bảo, chả phải Ngự Câu Vương Trần Húc đó sao?
-----------------------------------
2 . Mũ tử kim quan giống như mũ của Lã Bố hay đội (xin xem trong các truyện tranh hay phim Tam Quốc Diễn Nghĩa) nhưng không có 2 sợi lông trĩ. Nếu có thì gọi là "Phượng sí tử kim quan". Áo thêu rồng 4 móng tượng trưng cho thân phận vương gia (vua thì thêu rồng 5 móng).
-----------------------------------
Hoàng Tuyên tuy làm quan ở địa phương nhưng trước kia mấy lần vào kinh đã được gặp Ngự Câu Vương Trần Húc nên nhận ra ngay, kinh sợ vô cùng, vội quỳ xuống lạy:
- Thần, Hoàng Tuyên, An phủ sứ lộ Nghệ An, bái kiến Vương gia. Vương gia thiên tuế!
Ngự Câu Vương Trần Húc ung dung đáp:
- Miễn lễ, Văn Túc công bình thân!
Hoàng Tuyên là quan lớn của triều đình, đương nhiên nắm rất rõ trận chiến bại năm trước. Biết tin Trần Húc còn sống và bị quân Chiêm giam lỏng ở Đồ Bàn, ông đã nhiều lần cho thám tử dò tìm tin tức. Song Chế Bồng Nga giữ Trần Húc ở sâu trong cung cấm, thám tử người Việt không thể nào tiếp cận, vì vậy Hoàng Tuyên không thể liên lạc được với Ngự Câu Vương. Nay thấy vương gia đã an toàn, ông mừng lắm.
Nhiều lúc Hoàng Tuyên nghi ngờ Trần Húc thực sự đớn hèn hàng giặc. Nhưng lúc này thấy thái độ của Vương gia ung dung tự tại như vậy, ông lại nghĩ: "Vương gia là con trưởng của Thái thượng hoàng, dòng dõi kim chi ngọc diệp, khi nào lại thèm đi theo giặc? Chắc hẳn ngài đang âm thầm thực hiện đại kế. Nếu mình lỗ mãng, không những thiệt thân mà còn ảnh hưởng đến tính mạng và mưu kế của vương gia thì dù có chết vạn lần cũng không chuộc tội được". Ông liền khẳng khái nói với Chế Bồng Nga:
- Có vương gia ở đây, ta đồng ý đầu hàng. Nhưng ta chỉ làm việc dưới quyền của vương gia, làm theo sự sai sử của vương gia chứ không bao giờ thèm làm quan cho Chiêm Thành, không bao giờ nghe lệnh các ngươi sai khiến. Nếu không được như thế, ta sẽ chết để giữ trọn tấm lòng son!
Chế Bồng Nga gật đầu cười:
- Quả là người khí khái, ta rất thích. Được, ta đồng ý với ngươi!
Trần Húc liền nói:
- Văn Túc công yên tâm, nay ta đã là Phò mã nước Đại Chiêm Thành, Hoàng đế đã ban cho ta làm "Thuận An đại vương", quản một vùng rộng lớn gồm ba lộ Nghệ An, Tây Bình, Thuận Hoá. Vậy các người cứ làm việc cho ta, chỉ cần làm tốt phận sự của mình, phục vụ cho sự hưng thịnh của nước Đại Chiêm Thành là được!
Hoàng Tuyên nghe xong cảm thấy vô cùng chấn động, không ngờ Ngự Câu Vương trải qua một trường ly loạn vừa rồi lại cam lòng lấy con gái Chế Bồng Nga, còn không biết xấu hổ nói ra những lời hèn đớn ấy. Song ông vẫn hy vọng đây là kế trá hàng của Trần Húc, không dám lỗ mãng làm hỏng đại sự nên đành cắn răng chắp tay thưa:
- Hạ... hạ thần tuân lệnh!
Từ đấy Chiêm Thành chiếm được ba lộ rộng lớn phía Nam của Đại Việt. Chế Bồng Nga sử dụng những quan viên người Việt đã quy hàng chiêu tập dân chúng, ổn định cuộc sống, phát triển canh tác, tu tạo thành quách nhà cửa. Một mặt bắt nam đinh vào lính, luyện tập một đội quân gần mười vạn người, rắp tâm đánh ra đến Thăng Long.
Chế Bồng Nga lại cho sứ giả mang quốc thư đến triều đình Đại Việt, trong thư đại ý nói ba lộ Nghệ An, Tây Bình, Thuận Hoá từ nay do Thuận An Đại vương Trần Húc cai quản, nhưng nhập vào bản đồ Chiêm Thành quốc.
Thái thượng hoàng đùng đùng giận dữ, vỗ ghế thét:
- Quân mọi Nam khinh chúng ta quá lắm! Chúng nghĩ rằng có thể nuốt ba châu của ta dễ thế sao? Các khanh có ai dám lĩnh quân đi đánh chúng, giành lại cương thổ cho Đại Việt hay không?
Trong khi các quan còn chưa phản ứng gì thì Giản Hoàng đã đứng dậy, rời khỏi ngai ngọc. Chàng chắp tay thưa với Thái thượng hoàng:
- Thái bá xin bớt cơn lôi đình. Theo ý điệt nhi, lúc này chúng ta tuyệt đối không nên đánh!
Thái thượng hoàng cau mày hỏi:
- Quan gia nói vậy là ý làm sao? Chẳng lẽ sợ giặc đến mức muốn dâng đất cầu hòa?
- Bẩm Thái bá, điệt nhi không hề sợ. Nhưng Ngự Câu Vương và nhiều quan viên của chúng ta hiện nay đang trong tay giặc Chiêm, nếu ta đánh chúng thì tính mạng của vương gia và những người kia rất nguy hại. Thứ hai, Chế Bồng Nga là anh kiệt thời nay, từ khi y làm vua, Chiêm Thành từ một nước nhược tiểu đã lớn mạnh không tưởng tượng được. Kẻ đắc thế tất sinh kiêu ngạo, nếu ta giả vờ nhún nhường chúng thì chúng càng thêm đắc chí chủ quan hơn. Điệt nhi chắc chắn rằng sau khi chiếm được ba lộ Nghệ An, Tây Bình, Thuận Hoá, Chế Bồng Nga nhất định tiếp tục tấn công ra Bắc. Ban đầu ta vờ thua chạy, sau đó lừa địch vào hiểm địa, xuất kỳ bất ý mười mặt tấn công, chỉ cần giết được Chế Bồng Nga quân địch ắt sẽ tan vỡ, từ đó không còn mối hại Chiêm Thành nữa, mà ba lộ phương Nam tất cũng đòi lại được!
Hành khu mật đại sứ Lê Quý Ly tâu:
- Quan gia nhìn xa trông rộng, kế "lấy nhu thắng cương" này thật sự tài tình. Thần xin hết lòng tán thành!
Tư đồ Trần Nguyên Đán cũng nói:
- Quan gia suy nghĩ rất chu đáo, không chỉ có kế phá được giặc Chiêm mà còn bảo toàn được tính mạng Ngự Câu Vương. Theo thần chúng ta cứ tích luỹ lương thảo, rèn luyện tướng sĩ, quyết chiến với giặc chỉ một trận cuối cùng, đấy đúng là kế vẹn toàn, xin Thái thượng hoàng chuẩn y cho!
Dù sao Ngự Câu Vương Trần Húc cũng là con trai trưởng của Thái thượng hoàng, là niềm tự hào của ông, không giống Trang Định Vương Trần Ngạc thường bị ông chê là hữu dũng vô mưu. Lời của Giản Hoàng tỏ ra lo lắng cho tính mệnh của Ngự Câu Vương, đã đánh trúng nỗi lo từ tâm khảm của Thái Thượng hoàng. Vì vậy Thái thượng hoàng lặng im suy nghĩ một lát, rồi phán rằng:
- Các khanh mau soạn quốc thư, chúng ta cũng tương kế tựu kế, phong Trần Húc làm Thuận An đại vương. Nhưng phải ghi rõ trong thư: đó là tước phong của triều đình Đại Việt dành cho tôn thất của mình để giữ lại danh phận cai trị vùng đất ấy. Chúng ta sẽ tích lương, luyện quân, chờ ngày quyết chiến!.
Triều thần cùng tung hô vạn tuế. Hành khiển ty cung Thánh từ lập tức soạn thảo quốc thư, đóng ấn của Thái Thượng hoàng vào và giao cho sứ giả Chiêm Thành mang về cho Chế Bồng Nga.
Q1·Ch.50: Khói lửa phương Nam
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần