Cửa biển Đại An.
Từ hơn mười ngày nay, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Cung Chính Vương Trần Sư Hiền đã kéo đến đây đông nghịt. Doanh trại trải dài mấy dặm, lửa bếp đêm ngày đỏ rực. Binh sĩ thay phiên nhau đứng gác, mắt nhìn ra khơi mà lòng nóng như lửa đốt.
Ngày nào cũng vậy, mặt trời vừa lên, trống trận đã điểm, kỵ binh lên ngựa, cung thủ chỉnh dây, thủy binh chuẩn bị hỏa tiễn. Nhưng biển vẫn mênh mông trống rỗng, chỉ có đôi ba cánh hải âu bay lượn.
Cung Chính Vương đứng trên lầu canh dựng bên bờ biển, tay vịn lan gỗ, vô vọng nhìn ra đường chân trời xa xăm...
Đúng lúc ấy, một thám mã từ phía bắc phóng đến, ngựa phun bọt mép, người lảo đảo như sắp ngã. Vừa xuống ngựa, hắn quỳ rạp xuống bãi cát:
- Bẩm Vương gia! Quân giặc... đã tiến sát thành Thăng Long!
Cung Chính Vương trợn mắt quát lớn:
- Nói láo! Ta chờ ở đây mười mấy ngày không thấy một cánh buồm, sao ngươi dám nói chúng đã tới kinh thành?
Thám mã vừa tâu, vừa thở dốc:
- Bẩm... giặc không vào cửa Đại An này... chúng đi theo lối cửa Thần Đầu, vòng sau lưng ta... đánh thẳng vào Thăng Long!
Nghe xong, Cung Chính Vương cắn răng ken két. Ông đập mạnh tay xuống lan can, gầm lớn:
- Quân này thật gian hiểm! Người đâu, truyền lệnh! Toàn quân quay về kinh sư! Ai chậm trễ, chém!
Trống lệnh nổi lên như sấm. Hai vạn quân cuống cuồng nhổ trại, cờ xí cuốn lại, ngựa hí vang trời. Nhưng đường sá xa xôi, cả một đội quân lớn di chuyển đâu có dễ dàng. Trên đường về kinh thành Thăng Long, khói lửa đã bốc lên mù mịt, thôn xóm tan hoang.
Thảm kịch năm Tân Hợi tái diễn. Thái Thượng hoàng sai Lê Quý Ly đốc suất các quân Tứ Thiên, Tứ Thần, Tam Tiệp, Tam Thiết chặn giặc, còn mình cùng toàn bộ hoàng gia và các quan đầu triều vội vàng rút chạy về lộ Lạng Giang(1).
--------------------------
1. Lộ Lạng Giang tương đương một phần các tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và Lạng Sơn ngày nay
--------------------------
Dưới chân thành Thăng Long, chiến kỳ Chiêm Thành căng rợp trời, đội hình quân Chiêm như một biển vàng che kín đất. Thái tử Chế Ma Nô Đà Nan đứng trên lưng voi, tay cầm trường thương, áo giáp sắt lấp loáng, mắt sáng như sao. Một nghìn khẩu đại bác xếp thành ba hàng ngang, nòng pháo đen ngòm chĩa thẳng vào thành.
Thái tử Chiêm Thành quay sang viên tùy tướng, giọng khô khốc:
- Khai hỏa!
Một tiếng pháo lệnh.
Đất trời rung chuyển.
Đạn đá bay vù vù, rơi xuống như núi lở. Tường thành nứt toác, không ít tướng sĩ Đại Việt trúng phải đạn pháo, rơi lả tả xuống dưới chân thành. Tiếng rên khóc, tiếng hò hét hòa vào nhau thành một cơn ác mộng.
Lê Quý Ly đứng trên vọng lâu, mặt xám như tro. Ông ta nhìn những khẩu pháo dưới kia, đôi mày cau lại - đó chính là những khẩu pháo của Đại Việt bị rơi vào tay giặc trong lần Nam chinh thất bại. Nay quay về g-iết người Đại Việt.
Ông ta nghiến răng:
- Đóng cửa thành! Cố thủ!
=.=.=.=
Nói về Đại tướng quân La Ngai dẫn tám trăm thuyền chiến vòng ra ngoài biển, tiến vào cửa Đại An lúc đó đã không còn một bóng người. Trong thời gian chờ đợi, La Ngai sai thám báo dò xét, biết tin hai vua đã chạy về Lạng Giang liền gửi thư xin với Thái tử sai người đi truy bắt.
Thái tử Chế Ma Nô Đà Nan nhớ lời hứa với vua Chế Bồng Nga trước khi xuất quân, lấy làm mừng rỡ, liền sai Đại tướng Ông Ca Diệp dẫn một vạn kỵ binh đuổi đến Lạng Giang.
Bấy giờ số quân theo bảo vệ hai vua chưa đến một vạn người. Lại thêm hoàng tộc nhà Trần quen sống xa xỉ, bây giờ trong lúc chạy loạn tiện nghi thiếu thốn, ăn uống thất thường, mọi bực tức đổ hết lên đầu các quan viên nhỏ và đám tướng sĩ đi theo phục dịch, nên lòng quân chán nản lắm. Khi nghe tin một vạn kỵ binh Chiêm Thành đang cắt đường đuổi theo, Thái thượng hoàng tức thì đứng ngồi không yên, gọi các vương hầu, công khanh vào vấn kế.
Giản Hoàng bước ra tâu rằng:
- Thái thượng hoàng xin chớ lo sợ, Người hãy cho Trang Định Vương quản quân Tứ Thánh bảo vệ cho hoàng gia lánh sang lộ Bắc Giang, còn điệt nhi xin dẫn quân Thị Vệ, Nhị Ban, Hoa Ngạch cùng quân Thiết Bưu của điệt nhi chặn giặc!
Thái thượng hoàng lắc đầu:
- Quan gia thân phận tôn quý, đâu thể hành động như một mãng phu thế được! Lần trước ta để cha cháu ngự giá thân chinh đã sai lắm rồi, sao giờ còn để cháu làm như thế nữa?
Trong trướng mọi người cũng xôn xao phụ họa.
Lúc đó, chợt một người phụ nữ từ phía sau nhẹ bước tiến lên, mọi người nhìn ra thì là Gia Từ Hoàng thái hậu. Bà chắp tay tâu với Thái thượng hoàng:
- Bẩm hoàng huynh, hoàng gia chúng ta từ khi dựng nghiệp đều mang tinh thần thượng võ, kể từ đời Thái Tông, Thánh Tông xưa kia hoàng đế ngự giá thân chinh vốn là chuyện bình thường. Quan gia nay tuy còn trẻ, nhưng thần thiếp mạo muội thấy rằng cũng không phải là kẻ vô năng, lúc cấp bách có thể đảm đương việc chặn giặc được. Chỉ cần cầm chân giặc mười ngày rồi tiếp tục rút lui, cũng là kế vạn toàn cho hoàng tộc, cho đất nước!
Tư đồ Trần Nguyên Đán cũng tán đồng. Thái thượng hoàng cuối cùng đành đồng ý, chỉ nói:
- Nếu thấy thế giặc mạnh, lượng sức không chống nổi, cháu cứ bỏ quân mà rút theo chúng ta. Tính mạng Quan gia là quan trọng nhất, một năm Đại Việt không thể mất đến hai vua được!
Giản Hoàng chắp tay lĩnh mệnh. Ánh lửa trong trướng lay động, soi rõ gương mặt chàng tuy còn trẻ mà đã toát lên vẻ cương nghị. Thái thượng hoàng xúc động, nắm tay cháu mình:
- Hổ phụ vô khuyển tử, ta tin rằng cháu cũng không kém cha cháu khi xưa!
Giản Hoàng cúi đầu lạy Thái thượng hoàng, dõng dạc đáp:
- Điệt nhi dù thịt nát xương tan cũng quyết không để giặc vượt qua đất này!
Thái thượng hoàng bùi ngùi quay đi, lập tức truyền lệnh giao cho Giản Hoàng các quân Thị Vệ, Tả Ban, Hữu Ban, Hoa Ngạch - tổng cộng gần ba nghìn người. Quân ít, tướng trẻ, ai nấy đều hiểu chuyến này là đi vào chỗ chết, nhưng trong doanh trại không một tiếng than.
Sau khi đoàn hoàng gia rút đi, Giản Hoàng dẫn quân tiến về dãy Quỳ Ngưu. Núi Quỳ Ngưu thấp mà hiểm, mười hai ngọn trùng điệp như lưng trâu, tiến có thể công, lui có thể thủ, thực là một nơi hiểm địa. Rừng thưa, tre lác đác, cây cối mùa đông khô héo, lá rụng đầy lối.
Giản Hoàng đứng trên đỉnh cao nhất, nhìn xuống con đường uốn lượn giữa thung lũng, trong lòng nặng trĩu. Chàng hiểu rõ: đây chính là lần đầu tiên mình cầm quân đánh trận, nhưng kết quả của trận này lại liên quan đến sinh mạng của toàn bộ hoàng gia, chính là tương lai của nhà Trần, tương lai của Đại Việt. Chỉ có thể thắng, không được phép thua!
Đêm xuống, trại lính đốt lửa đỏ rực. Giản Hoàng cho gọi các tướng Phạm Kỳ, Lê Mật Ôn, Tống Văn Anh, Lương Phụng đến nghị sự.
Lê Mật Ôn là một lão tướng dày dạn kinh nghiệm được Giản Hoàng chỉ định nói trước. Ông trải địa đồ ra trước mặt, vừa chỉ tay vừa nói:
- Muôn tâu Quan gia, Quỳ Ngưu có mười hai đỉnh. Bảy đỉnh không đường lên, năm đỉnh còn lại có thể đặt phục binh. Đỉnh chúng ta đóng quân cao nhất, tiện bề quan sát. Quan đạo chạy qua khe núi này - ông chỉ tay - chúng ta chỉ cần mai phục từ hai bên, nếu giặc đi vào, ta phát hiệu lệnh để toàn quân đổ ra, tất có thể tiêu diệt được rất nhiều quân sĩ của chúng.
Phạm Kỳ bổ sung:
- Quân số ta ít, nhưng chúng ta có thời gian hơn một ngày trước khi giặc tới, ở cái thế "dĩ dật đãi lao". Chỉ cần đợi chúng lọt vào khe núi hẹp, ta bất ngờ đổ quân ra đánh, tất khiến giặc rối loạn.
Giản Hoàng hỏi:
- Quân Chiêm có một vạn kỵ binh, liệu chúng ta có thể tiêu diệt được bao nhiêu tên?
Lê Mật Ôn chậm rãi đáp:
- Muôn tâu Quan gia, nếu trên đồng bằng thì ba lính bộ binh mới có thể chống được một kỵ binh. Song với địa hình chật hẹp như ở đây, cùng với yếu tố bất ngờ thì một lính bộ binh có thể đổi một kỵ binh!
Giản Hoàng nhìn ông:
- Cho dù như vậy, nhưng người lính bộ binh của ta cũng chết theo?
- Bẩm Quan gia, sức mạnh của kỵ binh là rất lớn, một đổi một cũng là khả quan rồi!
Giản Hoàng gượng cười:
- Ba nghìn đổi ba nghìn... còn bảy nghìn nữa thì sao?
Trong trướng lặng im, không ai đáp lời Giản Hoàng.
Bốn viên đại tướng đều im lặng nhìn nhau. Tống Văn Anh cúi đầu. Lương Phụng nhìn xuống đất. Phạm Kỳ nghiến răng. Trong lòng họ cùng một câu trả lời - nhiệm vụ của họ chỉ là cầm chân giặc thêm lúc nào hay lúc ấy mà thôi, sau khi lấy mạng đổi mạng với quân Chiêm, bảy nghìn kỵ binh còn lại kia sẽ đuổi theo Thái thượng hoàng.
Giản Hoàng trong lòng hiểu rõ. Chàng quay nhìn ra ngoài trướng, nơi ba nghìn quân đang ngồi mài gươm, vá áo, viết thư cho người thân. Có kẻ lặng lẽ buộc dải khăn trắng lên tay.
Chàng nói chậm rãi:
- Các vị... Thái thượng hoàng đã có chỉ dụ. Ngài không cần chúng ta thắng... chỉ mong chúng ta, bằng mọi giá phải kìm chân giặc.
Phạm Kỳ đập mạnh tay xuống bàn:
- Quan gia cứ ra lệnh! Chúng thần thà chết nơi đây, quyết không để vó ngựa Chiêm Thành vượt qua!
Lê Mật Ôn cũng cúi lạy:
- Lão thần già rồi, chẳng tiếc những ngày sống thừa. Ngày mai, khẩn cầu Quan gia cho thần dẫn đội tiên phong!
Tống Văn Anh, Lương Phụng cũng đứng bật dậy, nói lời quyết tử:
- Chúng mạt tướng xin lấy da ngựa bọc thây, trận này dù chết cũng phải chặn bước quân Chiêm Thành!
Trong trướng, nhiệt huyết sôi trào.
Ngoài kia, gió lạnh thổi qua núi Quỳ Ngưu. Những ngọn lửa trại cháy rực trong đêm đông, bập bùng, ai oán...
Q1·Ch.33: Triều đình Đại Việt lại bỏ thành chạy giặc
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần