Chiêm Thành quốc, kinh đô Đồ Bàn.
Trong đại điện xây bằng đá đỏ, giữa những cột trụ chạm rồng thần Garuda uốn lượn, chúa Chiêm Chế Bồng Nga ngồi vắt vẻo trên ngai báu nhìn hai hàng bá quan văn võ. Ánh nắng chiều xuyên qua cửa sổ đá chạm hoa sen, hắt lên chiếc vương miện đúc từ vàng khối của y, viên ngọc trước mũ ánh lên màu xanh biếc, toát lên vẻ quyền quý của bậc đế vương. Thân hình Chế Bồng Nga cao lớn, bắp thịt cuồn cuộn, rắn như thép của một viên chiến tướng từng lăn lộn trăm trận lộ ra dưới làn áo mỏng, tràn đầy sức mạnh. Đôi mắt y sáng quắc, hàm râu quai nón rung nhẹ theo hơi thở nặng nề, vừa uy nghi vừa lạnh lùng, như một con mãnh hổ khiến tất cả những kẻ đứng trước y không ai dám ngẩng đầu nhìn thẳng.
Phía dưới, văn võ bá quan đứng thẳng thành hai hàng, áo lụa vàng rực rỡ. Màu vàng được coi là quý phái đối với người Chăm, gần như chỉ dành cho vua quan, bình dân phải mặc đồ trắng hoặc những màu tối hơn. Ở giữa điện, quan Tể tướng là Nhã Đam đang tấu báo về tình hình quốc sự. Kể từ khi đại thắng quân Việt, giết được vua Việt cùng vô số tướng sĩ ngay tại Đồ Bàn, lòng quân lòng dân Chiêm Thành vô cùng náo nức. Trong chợ, ngoài bến, người người hồ hởi kể chuyện chiến công, ai nấy ca tụng Chế Bồng Nga như một vị chiến thần.
Thêm nữa, năm vừa qua trời yên biển lặng, Chiêm Thành được mùa, những đoàn thuyền nườm nượp ra giữa biển khơi rồi lại quay về với đầy khoang tôm cá, khiến cho quốc khố dồi dào, muôn dân sung túc. Phía quân đội, bọn tướng sĩ thèm khát quân công, luôn múa may hò hét, đòi tiếp tục Bắc phạt quét sạch kinh thành Thăng Long một lần nữa.
Chế Bồng Nga mỉm cười trên long ỷ, y chờ quan Tể tướng tấu xong mới thong thả hỏi, giọng trầm mà sắc lạnh:
- Các ngươi đòi đánh Đại Việt, vậy đã chuẩn bị được bao nhiêu lương thảo? Đóng được bao nhiêu chiến thuyền?
Tể tướng Nhã Đam cúi đầu thưa:
- Muôn tâu bệ hạ, về lương thảo thì xin Người chớ lo, chúng thần đã chuẩn bị được hai vạn hộc, đủ cho toàn quân ăn trong sáu tháng, ngoài ra dọc đường Bắc tiến, ruộng đất Đại Việt phì nhiêu, quân ta có thể lấy thêm. Thuyền chiến thì cả thu được của địch lần trước cộng lại cũng hơn một nghìn chiếc. Ngoài ra chúng ta còn thu được toàn bộ đại bác của quân Việt tổng cộng hơn hai ngàn khẩu, toàn loại tốt nhất, vừa được chế tạo.
Nghe tới đó, trong điện vang lên tiếng xì xào thích thú. Các võ tướng mắt đỏ lên vì tham chiến công, như bầy sói ngửi thấy mùi máu.
Chế Bồng Nga vuốt râu, ánh mắt lóe lên tia hứng thú:
- Tốt lắm. Vậy các ngươi trù tính chưa, ai sẽ thống lĩnh đại quân trong lần Bắc phạt này? Quân số cần bao nhiêu?
Thái tử Chế Ma Nô Đà Nan lập tức bước ra:
- Muôn tâu phụ hoàng, nhi thần xin làm Nguyên soái, dẫn năm vạn tinh binh đi theo đường biển tập kích bất ngờ kinh đô Thăng Long, cắt đầu hai vua của họ về dâng cho Phụ hoàng!
Chế Bồng Nga nhìn con trai mình với ánh mắt không dấu nổi vẻ hài lòng và tự hào. Trong trận Đồ Bàn vừa rồi, chính mưu kế của Ma Nô Đà Nan đã giúp Chiêm Thành xoay chuyển thế cờ, từ chỗ đứng trước nguy cơ vong quốc trở thành chiến thắng lẫy lừng. Từ đó, uy tín của thái tử trong quân dân Chiêm Thành như mặt trời giữa ban trưa.
Một vài viên võ quan cao cấp mới rồi còn định đứng ra, nhưng khi thấy Thái tử thì đành ngoan ngoãn lặng im chờ lệnh.
Chế Bồng Nga gật đầu:
- Được, Đại Việt vừa tổn thương nguyên khí trầm trọng, lòng quân hoang mang, dân tâm bất ổn, lần này chúng ta đánh là chắc thắng, ta cho con đi cũng là một lần rèn luyện. Tuy vậy, ta vẫn cử Đại tướng quân La Ngai làm giám quân, việc hành binh đánh trận thế nào, nhất nhất con phải nghe ông ấy, không được ỷ mình là Thái tử mà tự ý quyết định, nghe chưa?
Thái tử Chế Ma Nô Đà Nan chắp tay dõng dạc thưa:
- Nhi thần tuân mệnh!
Thế là tháng 11 năm Đinh Tỵ (1377), Chế Bồng Nga phong con trai mình là Thái tử Chế Ma Nô Đà Nan làm Bắc Bình Nguyên soái, Đại tướng quân La Ngai làm giám quân, dẫn 800 thuyền chiến, năm vạn tinh binh vòng theo đường biển tiến đánh Đại Việt.
Đoàn thuyền xuất phát không lâu thì thám báo của Đại Việt đã mang tin về đến triều đình Thăng Long. Lê Quý Ly là người tiếp nhận tin này trước tiên, lấy làm hốt hoảng, liền cho gọi hai kẻ thân cận là Nguyễn Đa Phương và Phạm Cự Luận đến nghị sự.
Nguyễn Đa Phương vốn là con trai Nguyễn Sư Tề, sư phụ của Lê Quý Ly xưa kia. Khi Lê Quý Ly theo học Sư Tề đã kết nghĩa huynh đệ với Đa Phương, tới lúc thành đạt, liền tiến cử hai cha con Sư Tề, Đa Phương làm võ tướng cho triều đình. Nguyễn Sư Tề sau cải tên thành Nguyễn Nạp Hòa. Vừa rồi trong chiến dịch Nam chinh, Nguyễn Nạp Hòa giữ chức Xa kị tướng quân, cùng với Thượng tướng quân Đỗ Lễ như hai cánh tay tả hữu của Tiên đế. Cuối cùng mắc mưu địch, họ đều tuẫn nạn chốn sa trường.
Bấy giờ Nguyễn Đa Phương hăng hái nói:
- Minh công hà tất phải e sợ lũ giặc Chiêm ấy! Chúng vượt ngàn dặm biển khơi, đường biển xa xôi, quân sĩ tất mỏi mệt. Chỉ cần ta bố trí phục binh ở cửa biển, chuẩn bị vài ngàn mũi hỏa tiễn, đợi lúc chúng vào cửa, một loạt tên lửa bắn ra, cả đoàn thuyền ắt hóa thành tro bụi hết!
Lê Quý Ly lắc đầu cười trước suy nghĩ đơn giản của viên võ tướng:
- Hiền đệ khí phách đáng khen. Nhưng đệ có biết chúng có bao nhiêu chiến thuyền không? Tám trăm chiếc! Nếu chúng kéo vào sông thì trải dài mấy chục dặm, đệ bắn bao giờ mới hết? Huống hồ... quân ta sau trận Đồ Bàn lòng dạ đã hoang mang, sĩ khí cùn nhụt. Xem thế giặc mạnh như thế, e rằng chưa đánh đã chạy, đến lúc ấy ai chịu trách nhiệm?
Lời vừa dứt, trong điện lặng như tờ. Ai cũng hiểu, Quý Ly nói thế chẳng phải vì sợ giặc, mà là vì không muốn mang lấy trách nhiệm nếu thất bại.
Bấy giờ lại thấy Phạm Cự Luận phe phẩy chiếc quạt lông thong dong bước ra. Ánh mắt y lấp lánh, giọng nhẹ mà hiểm:
- Minh công chớ lo, tôi xin dâng kế này, minh công chỉ việc ung dung kê cao gối ngủ thôi!
Quý Ly biết kẻ này âm xảo khôn lường, ắt có lời hợp ý mình, liền hồ hởi:
- Phạm hiền đệ có diệu kế gì?
Phạm Cự Luận trỏ lên bản đồ, rành mạch nói:
- Quân giặc tiến quân theo đường biển, ắt lại giống năm Tân Hợi, sẽ vào cửa biển Đại An(1) thuộc lộ Hoàng Giang. Nơi này gần phạm vi quản hạt của Cung Chính Vương, minh công chỉ cần dâng sớ xin Thượng hoàng cho Cung Chính Vương đem quân ra chặn ở đó, nếu thắng thì chúng ta không phải lo gì nữa, nếu chẳng may thua, thì cũng không phải trách nhiệm của Minh công!
-------------------------
1. Cửa Đại An: Sau đổi là cửa Liêu, huyện Đại An, sau này là huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Ở chương 5 đã nói đến chuyện năm Tân Hợi (1371) Chế Bồng Nga đem quân đánh Thăng Long, từ biển tiến quân vào bằng cửa Đại An.
-------------------------
Lê Quý Ly gật gù, khóe miệng nhếch lên. Tiến cử Cung Chính Vương đi chặn giặc Chiêm, nếu thắng mình cũng có công, nếu thua thì lại thoát tội - cái kế "gắp lửa bỏ tay người" ấy quả thật là khéo!
Quý Ly nghĩ vậy, liền vỗ tay cười ha hả mà rằng:
- Phạm hiền đệ nói chính hợp ý ta!
Ngay lập tức hô gia nhân chuẩn bị kiệu, vội vàng vào cung Thánh Từ gặp Thái thượng hoàng.
Hôm sau Thái thượng hoàng thiết triều, tuyên chiếu phong Cung Chính Vương Trần Sư Hiền làm Trấn Quốc tướng quân, suất lãnh toàn bộ tướng sĩ ở hai lộ Đông Đô và Hoàng Giang cả thảy hai vạn người ra cửa biển Đại An cự địch.
Lúc đó đoàn thuyền của Chiêm Thành vẫn còn trên biển.
Đại tướng quân La Ngai cũng không phải là kẻ tầm thường, từ lâu y đã cài thám tử vào đất Đại Việt rồi, vì vậy mọi hành tung của vua quan nhà Trần y đều nắm được cả. Trong những ngày lênh đênh trên biển, chim ưng của thám tử Chiêm vẫn đưa tin cho La Ngai đều đều. Được tin triều đình Đại Việt cho quân giữ cửa biển Đại An, y cười ha hả với Thái tử Chế Ma Nô Đà Nan:
- Bọn người Việt ngu dốt, không lẽ chúng chỉ có một cửa biển hay sao?
Thái tử Chế Ma Nô Đà Nan cũng vỗ tay:
- Đã thế ta sẽ đi vào bằng cửa biển khác, đánh cho chúng trở tay không kịp!
Thế là thủy quân Chiêm liền tiến vào cửa biển Thần Đầu(2).
Cửa biển Thần Đầu khi đó thuộc trấn Thanh Đô(3), nơi này đất rộng người thưa, năm vạn quân Chiêm tiến vào vô cùng thuận lợi. Đi sâu vào đất liền thấy lòng sông nhỏ hẹp nhưng đường sá trên bờ ngày càng nhiều, Thái tử Chế Ma Nô Đà Nan liền sai La Ngai tiếp tục suất lãnh đoàn thuyền với một vạn tinh binh quay ra biển tạo thành thế ỷ dốc dễ dàng tương trợ lẫn nhau, còn mình thì bỏ thuyền lên bộ, dẫn bốn vạn tinh binh vừa đánh vừa cướp, chẳng mấy chốc thủy binh đã biến thành kỵ binh, thần tốc nhằm thành Thăng Long thẳng tiến. Những nơi quân giặc đi qua, người chết nhà tan, khói lửa bốc đỏ trời.
-------------------------
2. Cửa biển Thần Đầu (thường gọi là cửa biển Thần Phù) vốn là một cửa biển hiểm yếu xa xưa, ngày nay đã bị phù sa bồi đắp và trở thành vùng đất nằm cách bờ biển hơn 10 km. Trước đây khu vực này thuộc tỉnh Ninh Bình, dưới thời Nguyễn một phần được tách về tỉnh Thanh Hóa. Ngày nay, cửa biển Thần Phù nằm giữa 2 xã Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình và Nga Điền, Nga Sơn, Thanh Hóa.
3. Tương đương tỉnh Thanh Hóa sau này.
-------------------------
Tin dữ truyền về kinh, triều đình rúng động. Thảm cảnh năm xưa lại hiện lên, giặc vào thì ta chạy, giặc đánh thì ta trốn, từ quý tộc đến quan lại ai cũng chỉ nghĩ đến cái mạng nhỏ của mình. Đại Việt chưa giao chiến mà nội bộ đã loạn.
Q1·Ch.32: Thái tử Chiêm nhận ấn soái bắc chinh
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần