“...Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín lần gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
Nước thanh bình ba trăm năm cũ,
Áo nhung trao quan vũ từ đây.
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng niềm tây sá nào.
Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng.
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong hiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu...”
(Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn)
Những đoàn quân Đại Việt nối nhau dài dằng dặc như một đàn mãnh long cuồn cuộn, mang theo chí khí hào hùng của bao dũng sĩ sẵn sàng xả thân đền nợ nước. Từ đất Thăng Long, đại quân xuôi nam, trèo đèo vượt non, băng rừng lội suối, gió sương dãi dầm mà bước tiến vẫn không hề chậm lại. Trống trận ngày đêm vang dội thúc dục lòng quân, cờ hiệu phần phật bay trong gió, ánh giáp sắt loang loáng dưới nắng thu, khí thế bừng bừng. Bao phen thỏ lặn ác tà, đến cuối tháng mười năm ấy, đại quân chính thức đặt chân lên đất Chiêm Thành.
Quả đúng như phán đoán của Quan gia cùng các tướng soái đầu triều, người Chiêm đã học theo cách Đại Việt từng dùng trong những năm kháng chiến chống Nguyên - Mông xưa kia, thi hành kế "vườn không nhà trống". Dân chúng được lệnh rút khỏi các đô thành, làng mạc, ruộng đồng bỏ hoang, lương thảo không để lại một hạt. Quan quân Đại Việt tiến ngày càng sâu vào đất Chiêm Thành mà như bước vào vùng đất chết, bốn bề vắng lặng, chỉ thấy nhà cửa đổ nát, bếp lạnh tro tàn. Theo thám tử báo về, do dân số Chiêm Thành vốn không nhiều, nên họ chủ trương gom cả quân lẫn dân về một số căn cứ phòng thủ trọng yếu, vừa giữ được dân, vừa có thể huy động nhân lực khi cần thiết.
Ròng rã bảy ngày trên đất địch thì đại quân mới gặp tuyến phòng thủ đầu tiên, đấy là ải Thạch Kiều ở gần ngã ba sông Lại Giang và sông Côn(1). Ở đấy người Chiêm đắp một tòa thành dài hơn hai trăm trượng(2) án ngữ giữa giữa hai quả núi, địa thế hiểm trở vô cùng. Tường thành rộng, trên mặt thành đủ cho năm ngựa đi song song, bố trí dày đặc đại pháo. Có ba cổng cách nhau vài chục trượng, một cổng lớn ở chính giữa, phía trước là một khoảng đất rất rộng. Hai phía gần núi có hai cổng nhỏ để có thể đánh vu hồi hoặc rút chạy nếu cần.
-------------------------
1. Gần thị xã An Nhơn, Bình Định ngày nay
2. Thời cổ một trượng tương đương 4,7 mét; 200 trượng gần bằng 1km
-------------------------
Thượng tướng quân Đỗ Lễ lệnh quân tiên phong hạ trại trước thành một dặm, cho người thám thính kỹ càng rồi phi báo tình hình lên Quan gia.
Quan gia cho hội các đại tướng lại bàn bạc. Xa kị Thượng tướng quân Nguyễn Nạp Hòa hiến kế:
- Muôn tâu Quan gia, theo như hạ thần trực tiếp đi xem xét thì tòa thành này rất kiên cố, duy chỉ có cổng phía Tây gần núi Trà Linh có một đoạn yếu hơn do địa hình ở đây không bằng phẳng, lại có một dòng suối chảy xuyên qua chân thành. Xin Quan gia cho quân ban ngày giả như toàn lực tấn công cổng chính, nhưng ban đêm cho tinh nhuệ dùng xe thang tấn công tử huyệt này, ắt sẽ vượt qua được ải Thạch Kiều!
Quan gia và các tướng bàn bạc một hồi, đều cho kế ấy là phải. Liền cho đại quân hạ trại, lệnh cho ba tướng Đỗ Lễ, Trần Khắc Chấn, Bùi Bá Ngang huy động đại quân đem pháo binh, bộ binh, xe thang toàn lực tấn công cổng chính.
Trận đánh mở màn bằng tiếng pháo long trời. Ba mươi khẩu đại pháo của Đại Việt dàn hàng ngang, đồng loạt gầm vang, đạn đá đập thẳng vào cổng thành. Quân Chiêm trên thành cũng không chịu kém, pháo bắn xuống, tên bắn như mưa. Khói lửa mịt mù, đất đá tung tóe, tiếng nổ dội vào vách núi vang vọng không dứt. Tướng sĩ hai bên ngã xuống từng lớp, máu hòa với bụi đất, cảnh tượng thảm liệt đến cực điểm.
Thời bấy giờ, tuy đại pháo đã xuất hiện trong quân đội các nước, song kỹ thuật còn thô sơ. Đạn pháo chưa có thuốc nổ(3), chỉ là những khối đá, khối sắt lớn, khi bắn đi với tốc độ cực nhanh thì sức sát thương vẫn vô cùng khủng khiếp. Tuy nhiên, pháo đều phải nạp từ miệng, mỗi lần bắn phải mất đến mười lăm phút thao tác.
-------------------------
3. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử ghi lại thì đến thế kỷ XVIII người Châu Âu mới phát minh ra đạn pháo có thuốc nổ
-------------------------
Người Chiêm bấy giờ chưa tự chế tạo được đại pháo, phải đem vàng bạc trong nước đi mua của nước ngoài. Khi quan hệ Đại Việt và Chiêm Thành còn hữu hảo thì mua của Đại Việt, về sau hai nước xảy ra xung đột thì mua của Đại Minh. Tuy nhiên cho dù Đại Việt hay Đại Minh thì cũng chỉ bán cho Chiêm hàng thứ phẩm, đặc biệt là những khẩu pháo mua của Đại Việt xưa kia đã khá lạc hậu và cũ kỹ nên uy lực không mạnh. Bấy giờ chúa Chiêm là Chế Bồng Nga xác định Thạch Kiều chỉ là một đồn tiền tiêu nên để hơn năm mươi khẩu pháo cũ ở đấy, pháo tốt mới mua của Đại Minh thì trang bị cho kinh đô Đồ Bàn.
Còn pháo của Đại Việt lần này toàn là những khẩu mới nhất được Binh bộ và Công bộ đúc từ năm ngoái đến năm nay dưới sự giám sát khắt khe của Quan gia. Nói về kỹ thuật đúc pháo thì Đại Việt còn có điểm tinh xảo hơn Đại Minh nên khi đem ra đối trận, mặc dù pháo của Đại Việt ở dưới bắn lên, pháo Chiêm Thành từ trên bắn xuống nhưng uy lực thì pháo Chiêm không thể so sánh được.
Bởi vậy chừng nửa canh giờ thì đạn pháo của Đại Việt đã phá tung được cánh cổng chính của ải Thạch Kiều. Ai ngờ quân Chiêm đã đem đá lấp kín bên trong, quân Đại Việt không thể nào tiến vào.
Thượng tướng quân Đỗ Lễ liền lệnh cho đội xe vân thê tiến lên. Xe đóng bằng gỗ nẹp sắt kín mít, quân sĩ nấp bên trong đẩy, nếu áp sát được vào tường thành thì cả đại quân sẽ dễ dàng theo thang của xe leo lên. Tướng giữ thành của Chiêm liền thét đại pháo toàn lực bắn vào các xe vân thê. Bấy giờ đại pháo cả hai bên đều đã thiệt hại khá nhiều, nhưng pháo của Chiêm có bao nhiêu đã đặt lên tường thành hết rồi, trong khi Đại Việt vẫn còn hàng trăm khẩu chưa dùng đến. Trần Khắc Chấn vừa chỉ huy đội đại pháo thứ hai tiến lên tăng cường, thấy vậy liền thét lớn:
- Bắn lên tường thành, bắn nát hết pháo Chiêm đi!
Hơn năm mươi khẩu pháo của Đại Việt gầm vang, tức thì tiếng nổ long trời, khói lửa ngùn ngụt, trên tường thành đại pháo và tướng sĩ Chiêm bị bắn tung lên, rơi lả tả xuống dưới. Nhưng quân Chiêm không hề nao núng. Pháo binh bị chế áp, chúng lại cho bộ binh mang gỗ, đá ném vào xe thang; bê những vạc nước sôi đến đổ xuống quân Đại Việt đang ở phía dưới. Cung thủ của Chiêm bắn tên như châu chấu. Đánh nhau suốt từ trưa đến gần tối, quân Đại Việt thương vong thảm trọng. Quan gia cau mày, phán:
- Đánh chiêng thu binh!
Đỗ Lễ cùng các tướng nghe lệnh liền thu binh. Kiểm lại quân số thì chết hơn một ngàn người, thiệt hại 31 đại pháo, 17 xe vân thê.
Quân Chiêm thấy quân Việt rút liền thu dọn chiến trường, củng cố tường thành để tiếp tục phòng thủ. Tối hôm đó tướng giữ ải là Thạch La Kha còn đi tuần tiễu một vòng, chỉnh đốn các vọng gác, cử người chăm sóc các tướng sĩ bị thương, đến khuya mới về trướng. Vừa kịp cởi bộ áo giáp định lên giường nghỉ thì nghe tiếng vó ngựa rầm rập, rồi một tiểu tướng hốt hoảng chạy vào:
- Tướng quân! Cấp báo...
- Có việc gì?
- Bẩm tướng quân, quân Việt tấn công cổng thành phía Tây gần núi Trà Linh, hiện nay pháo của chúng đã bắn nát cổng thành, quân ta phòng thủ ở đấy bị chết gần hết rồi!
- Khốn kiếp, gọi tất cả dậy, theo ta đi tiếp ứng!
Doanh trại quân Chiêm lập tức nháo nhào như ong vỡ tổ. Thạch La Kha ngựa chưa đóng yên, người không mặc giáp dẫn theo mấy ngàn quân chạy đến phía Tây thành thì đã thấy hàng vạn quân Đại Việt tràn qua cổng tiến vào. Hai bên chẳng nói một lời, xông vào nhau đâm chém loạn xạ. Nhưng quân Đại Việt đều là những đội tinh nhuệ cả ngày hôm nay được giữ lại dưỡng sức, chưa hề tham chiến, trong khi quân Chiêm sau một buổi chiều đã vô cùng mỏi mệt, lại bị động bất ngờ nên sĩ khí giảm sút, chẳng mấy chốc không chống nổi, bị giết như ngả rạ. Thạch La Kha đang hò hét thúc dục quân sĩ thì gặp ngay Đại tướng quân Trần Tông Ngoạn một đao một ngựa phóng đến. Tông Ngoạn múa siêu đao như vũ bão, chỉ hai đường đã chém Thạch La Kha chết lăn xuống ngựa. Quân Chiêm thấy chủ tướng bị giết rồi thì hoảng sợ tan vỡ, hơn một vạn binh sĩ bỏ mũ cởi giáp trốn biệt vào rừng.
Tông Ngoạn kéo quân đến cổng chính, bắt người Chiêm bê đá dọn cổng cho đại quân tiến vào. Thế là ải Thạch Kiều chỉ chưa đến một ngày đã bị hạ.
Quân Chiêm ở ải Thạch Kiều tan vỡ rồi, Quan gia liền cho tướng sĩ hạ trại tại chỗ nghỉ ngơi. Đến giờ Thìn(4) hôm sau mới dậy thổi cơm ăn, rồi toàn quân thủng thẳng tiến đến kinh đô Đồ Bàn.
-------------------------
4. Từ 7 đến 9 giờ sáng
-------------------------
Dọc đường cũng gặp vài đội quân Chiêm lẻ tẻ cùng dân binh người Chăm nhưng sức châu chấu sao đá lại được xe, lập tức bị kỵ binh Đại Việt truy sát tiêu diệt không còn một mống. Nhiều tướng sĩ Đại Việt vẫn còn nhớ cái thù năm Tân Hợi nên ra tay chẳng nể tình, đã gặp người Chiêm là giết, không có chuyện tha hay bắt làm tù binh. Bởi vậy thây phơi đầy đồng, máu nhuộm đỏ nước, quân Chăm về sau thấy quân Đại Việt là bảo nhau chạy, không dám chống lại nữa.
Q1·Ch.24: Đại chiến ải Thạch Kiều
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần