Trong lớp học ấy, luận về văn chương thi phú thì không ai hơn được Trần Nguyên Dận, sau đó đến Nguyên Uyên và Nguyên Hãng. Trần Ngạc và Nguyên Diệu không thích văn chương nên học hành chểnh mảng. Hai anh em Thúc Dao và Thúc Quỳnh mới vào học trước Trần Hiện chừng mười ngày nên chưa bộc lộ được tài năng. Trần Hiện vốn kiếp trước là sinh viên khoa Lịch sử, luôn là người học giỏi nhất lớp, lại có kiến thức xã hội rất phong phú nên chàng tiếp thu bài giảng của Đào tiên sinh khá nhanh, chẳng mấy chốc đã vượt Nguyên Diệu, làm cho tiên sinh rất hài lòng.
Nội dung học không chỉ có kinh điển của Nho gia, Bắc sử, Nam sử mà còn có cả toán học, y học, các lễ nghi của triều đình và nhiều môn học khác nữa, luận về đầu môn cũng chẳng kém các trường Đại học đời sau. Về toán và Bắc sử, Nam sử thì đương nhiên trong lớp không ai hơn được Trần Hiện, vì vậy chàng chỉ cần tập trung học tập những môn kia mà thôi.
Một hôm, chàng hỏi tiên sinh:
- Thưa thầy, thánh hiền có câu "Quốc dĩ dân vi bản, dân dĩ thực vi thiên"(1), học trò xem trong nước ngày nay mùa màng thất bát, dân nghèo không có ruộng bỏ đi tha hương, thậm chí lên núi làm phỉ, vậy có cách gì để trừ mối nguy hại này?
-----------------
1. Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cái ăn làm trời.
-----------------
Đào tiên sinh trả lời:
- Vương gia có tấm lòng lo cho bá tính trong thiên hạ, thực là đáng quý. Nhưng Người xem, mấy năm gần đây hạn hán rồi bão lũ xảy ra liên miên, giặc Chiêm lại mấy lần đem quân quấy phá. Mùa màng xơ xác, nhân khẩu của chúng ta phần thì chết do binh tai, phần thì bị giặc Chiêm bắt. Nói về biện pháp thì không thiếu, nhưng đề ra biện pháp mà không làm được thì há chẳng phải nói suông sao? Các vị Vương gia, Vương tử ở đây đều là huyết thống hoàng tộc, có thể nêu cao kiến chăng?
Đám học trò trầm tư suy nghĩ, rồi bắt đầu nêu ý kiến:
- Thưa Tiên sinh – Trang Định Vương Trần Ngạc nói – Hoàng triều ta luôn trọng nông, lấy nông làm gốc, đến quân lính cũng gửi về làm ruộng theo phép "ngụ binh ư nông". Nhưng ruộng đất của chúng ta không nhiều, lại bị thiên tai, giặc giã làm tổn hại, nên nạn đói mới tạm thời xảy ra đó thôi!
- Thưa Tiên sinh – Công tử Thúc Dao nói – Dân tình ly tán một phần vì không có ruộng để cấy cày. Những ruộng tốt đều thuộc về các điền trang thái ấp của vương hầu, quý tộc. Một số thuộc về sở hữu của các địa chủ. Dân nghèo hoặc phải làm thuê cho quý tộc, địa chủ, hoặc chỉ có những mảnh ruộng xấu mà thôi. Nên theo thiển ý của học sinh, nên hạn chế ruộng đất của các điền trang thái ấp lại, chia bớt cho dân nghèo mới phải!
- Nói xằng - Vương tử Nguyên Dận quát – Ngươi cũng là quý tộc, hưởng lộc của triều đình, lại đi bênh vực cho bọn dân đen là thế nào?
Đào Tiên sinh tỏ vẻ không hài lòng:
- Trong lớp học, Vương tử không nên to tiếng! Tuy nhiên cách của Thúc Dao cũng chưa phải là toàn mỹ lắm, mọi người còn có cao kiến nào không?
- Thưa tiên sinh – Trần Hiện bây giờ mới nói – Theo thiển ý của học trò, không những không nên hạn chế điền trang thái ấp, mà phải phát triển hơn nữa!
Cả lớp học ngạc nhiên nhìn chàng. Đào Tiên sinh mỉm cười:
- Vương gia có thể nói rõ hơn không?
- Mấy năm lưu lạc nhân gian khiến học trò thấy, có rất nhiều vùng đất còn hoang hóa. Dân chúng chủ yếu sống ở các vùng đồng bằng do ruộng đất ở đây phì nhiêu, các vùng trung du, miền núi nhiều nơi còn không có người ở. Mặt khác, nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa và rau, chăn nuôi rất ít và lẻ tẻ. Chúng ta không có các mục trường như người Mông Cổ hay người Hán. Vì vậy thịt chỉ là thức ăn của những nhà giàu và quý tộc, chứ bình dân bách tính có bao giờ được ăn thịt đâu? Theo học trò, chúng ta nên chiêu tập di dân cho đi khai phá những vùng đất hoang, mở ra nhiều đồn điền, thái ấp; chỗ nào đất tốt thì trồng lúa, chỗ nào đất xấu thì mở các mục trường nuôi các loại gia súc, gia cầm, kể cả voi và ngựa chiến. Như vậy sẽ giúp cho dân phú, quốc cường, không phải lo cái ăn nữa!
Đào Tiên sinh phân tích:
- Minh kiến của Vương gia thật đáng đưa ra nghị sự chốn triều đình! Nhưng để làm được điều đó phải mất hàng chục năm. Bởi để đến những nơi hoang vu đường sá đi lại rất khó khăn, nhiều nơi còn chưa hề có dấu chân người, do vậy cần phải mất rất nhiều tiền của, công sức để làm đường. Mặt khác ở đó có rất nhiều loại thú dữ, rắn rết, côn trùng độc... Nếu không đủ lực lượng, vũ khí thì các mục trường không tồn tại được. Ngoài ra để mở mục trường thì cần phải có rất nhiều con giống. Cái này chúng ta lấy ở đâu, vì dân gian chăn nuôi lẻ tẻ, mỗi nhà một con lợn, mấy nhà mới có một con trâu, nếu Vương gia yêu cầu một lúc hàng trăm con giống thì cũng không dễ dàng gì. Vì vậy biện pháp của Vương gia có thể làm được, nhưng còn cần một thời gian dài nữa!
- Tiên sinh dạy phải. Nếu vậy thời gian tới ta sẽ cho quân Thiết Bưu mở một mục trường ở vùng núi Vũ Ninh. Từ mục trường đó sẽ cung cấp con giống để mở các mục trường khác. Ta muốn hai mươi năm nữa Đại Việt ta sẽ có hàng trăm mục trường, nuôi thật nhiều ngựa, trâu, bò, lợn, gà, thậm chí có cả nơi nuôi voi, đủ cung cấp cho cả quân và dân trong cả nước!
Đào tiên sinh nghe vậy thì gật đầu tán thưởng, Trần Nguyên Dận vẫn giữ vẻ mặt lạnh nhạt cố hữu, đám Thúc Dao, Thúc Quỳnh có cảm giác không hiểu gì, hai vị công tử này còn quá trẻ tuổi, trước giờ lại chỉ quanh quẩn trong phủ của quan Tư đồ đọc sách, không biết chuyện đời. Chỉ có Trang Định Vương Trần Ngạc tỏ ra hào hứng:
- Hay lắm! Ta cũng sẽ mở mục trường giống đệ!
*
Ngoài học các môn ở Quốc Tử giám, Trần Hiện cùng các bạn học của mình còn được học võ ở Giảng Võ đường. Giảng Võ đường nằm ở phía tây của Cấm Thành, trong một khuôn viên rộng có tới tám sân tập võ, một trường đua ngựa, một trường bắn cung, một bãi đấu vật, bốn nhà giảng sách để học binh thư. Đối với các vương tôn quý tộc cũng như con cái một số quan lại được học ở đây thì binh thư là một môn bắt buộc và được dành nhiều thời gian hơn cả. Những vị đại tướng của triều đình được lệnh thay nhau đến đây để dạy binh thư cho các "học sinh" của Giảng Võ đường, vì vậy với tinh túy trận pháp từ trong "Binh thư yếu lược" của đức Hưng Đạo Vương, kết hợp với kinh nghiệm trận mạc thực tế của những vị tướng này, không khó để các vương tôn công tử trở thành những người rành binh pháp.
Về võ thuật thì trong lớp học của chàng không ai không giỏi, mà giỏi nhất chính là Trang Định Vương Trần Ngạc. Vương tinh thông thập bát ban võ nghệ, loại vũ khí nào cũng có thể sử dụng thuần thục, binh thư binh pháp cũng là một đại cao nhân. Trần Nguyên Dận sở trường kiếm thuật và bắn cung, với một thanh trường kiếm Vương tử đã từng đánh bại hai anh em Nguyên Uyên, Nguyên Hãng; còn bắn cung thì trăm bước xuyên lá liễu không hề là nói quá. Nguyên Diệu giỏi dùng thương, Nguyên Uyên sở trường dùng kích, Nguyên Hãng quen sử một thanh siêu đao. Hai anh em Thúc Dao, Thúc Quỳnh thể trạng yếu hơn mấy người kia nên thường dùng kiếm, nhưng bù lại rất giỏi về binh pháp. Còn Trần Hiện từ kiếp trước đã giỏi võ tay không, kiếp này lại được sư phụ truyền cho môn Đại đao, ngoài ra chàng còn dùng được thương, song tiên, búa... cũng khá tốt. Tuy nhiên về binh thư thì chàng chưa được học nhiều nên không bằng các vương gia, vương tử khác. Vì vậy trong những tháng ngày đến Giảng Võ đường, chàng dành nhiều thời gian để nghiên cứu binh thư, và thường nhờ sư phụ cũng như Trang Định Vương chỉ bảo về môn này.
Thời Trần có truyền thống thượng võ, các quan văn trong triều cũng được yêu cầu đến học võ ở Giảng Võ đường. Nhiều vị xuất thân giỏi cả văn lẫn võ, nên lúc lên triều thì "mũ cao áo dài", mở miệng "chi hồ giả dã", nhưng tới đây lại thể hiện là một cao thủ võ thuật. Ngay cả Lê Quý Ly mặc dù văn cử xuất thân nhưng cũng học võ từ nhỏ. Các vương tôn quý tộc cùng quan lại trong triều, số văn võ song toàn như thế không ít.
Nhưng đáng ngạc nhiên nhất là trong học đường này còn có cả... học viên nữ. Một hôm Trần Hiện đang luyện cung, ba mũi tên chàng đều bắn trúng bia nhưng chệch khỏi hồng tâm chừng hai đốt ngón tay. Vừa tự an ủi trong lòng "Thế là tốt rồi" thì chợt nghe sau lưng có tiếng con gái cười khanh khách.
Trần Hiện ngạc nhiên quay lại thì thấy có ba thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần, thân mang nhung phục, tay cũng cầm cung tên đứng dưới một gốc cây, đang nhìn mình với ánh mắt giễu cợt. Chàng thấy vậy thì hết sức ngạc nhiên.
Thấy chàng cứ trố mắt nhìn, cô mặc áo đỏ đứng bên phải cất giọng chanh chua mắng lớn:
- Đồ đàn ông thô bỉ, có muốn ta chọc mù mắt đi không?
Thiếu nữ áo vàng đứng giữa vội cản lại:
- Hải Đường, không được vô lễ!
Đoạn nàng quay sang Trần Hiện nhún mình nhẹ một cái, động tác vô cùng đáng yêu:
- Ta dạy thị tì không tốt, mong công tử miễn chấp!
Trần Hiện từ hôm về cung đến giờ chỉ quen thấy người ta lạy lục mình, mà ít nhất cũng phải chắp tay khi diện kiến. Nay lại thấy cô áo vàng này thậm chí tay không thèm nhấc lên, chỉ hơi nhún đầu gối thì đoán chắc thân phận không phải vừa. Liền hành lễ rồi đáp:
- Không có chi, dám hỏi quý tính phương danh tiểu thư?
Cô áo xanh đứng bên trái thấy thế cười phá lên:
- Ngươi thật là ngu ngốc, không biết đường đường là Thiên Huy công chúa đây sao?
"Thiên Huy công chúa à, nghe quen quen nhỉ?" Trần Hiện nhíu mày lục lại kiến thức của một cựu sinh viên khoa Lịch sử. Chàng giật mình "Chết rồi, bà vợ của mình đây chứ đâu! Nhưng cũng là bà chị con ông bác ruột, ác thật!"
Trong lịch sử, đúng năm này, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông gả con gái của mình là Thiên Huy công chúa cho Trần Hiện, lúc đấy đã lên ngôi vua, phong hiệu là Quang Loan hoàng hậu..
Q1·Ch.18: Giảng Võ Đường, Trần Hiện gặp Thiên Huy công chúa
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần