Vì Trần Hiện lưu lạc nhân gian sáu năm mới trở về, khi đi là một đứa trẻ mười tuổi, khi quay lại đã là một thanh niên trưởng thành nên trong bữa tiệc, chàng cũng làm lễ bái kiến một số nhân vật tiêu biểu, những trụ cột của hoàng tộc và triều đình Đại Việt lúc bấy giờ.
Đó là Cung Tín vương Trần Thiên Trạch. Cung Tín Vương là em ruột của Thái thượng hoàng, anh ruột của Quan gia nên Trần Hiện phải gọi một tiếng "Thái bá" (1). Vương người thanh thoát, trắng trẻo thư sinh, từ nhỏ hiếu học, rất giỏi thi ca từ phú. Tính Vương không ham quyền thế nên không tham gia vào việc triều chính, chỉ thích ngao du sơn thủy, kết bạn với các bậc cao sĩ trong thiên hạ để đàm luận văn chương.
---------------
1. Thái bá là tiếng mà người trong hoàng tộc gọi bác của mình
---------------
Đó là Ngự Câu Vương Trần Húc, Vương là con trai cả của Thái thượng hoàng, chừng hơn 20 tuổi, ngoại hình khá giống người chú Cung Tín Vương của mình. Tuy nhiên nhìn Vương toát ra vẻ xa xỉ kiêu ngạo của bậc vương giả. Khi Trần Hiện làm lễ bái kiến, Vương chỉ chắp tay đáp lễ, không nói một câu nào.
Đó là Trang Định Vương Trần Ngạc, em trai kế của Ngự Câu Vương. Vương thân hình cao lớn, đôi lông mày xếch như lưỡi kiếm, hai mắt sáng quắc tựa sao đêm, dáng đi hùng dũng, tiếng nói sang sảng, nhìn qua là biết người hiếu võ. Khi Trần Hiện bái kiến, Vương đáp lại khá hồ hởi, chuyện trò sảng khoái khiến chàng không khỏi có cảm tình.
Trong số các quan, người đầu tiên Trần Hiện bái kiến là Trung Tuyên quốc thượng hầu, Khu mật viện Lê Quý Ly. Ở trong hoàng tộc ông ta là anh họ đằng ngoại của Thái thượng hoàng và Quan gia, về phía triều đình ông lại là vị ái tướng được cả Thái thượng hoàng và Quan gia rất tin cậy, nên đương nhiên chàng phải đến gặp đầu tiên. Trần Hiện bái kiến Lê Quý Ly, cũng phải gọi là "Thái bá". Ông ta đáp lại rất nhã nhặn, lịch sự nhưng thiếu vẻ thân tình của một người bác với cháu của mình. "Có vẻ ông ta cũng đang đề phòng mình đây" - Trần Hiện nghĩ thầm.
Sau đó Trần Hiện cũng làm lễ tương kiến và đàm đạo với rất nhiều quan viên được mời đến dự tiệc như Hành khiển Phạm Huyền Linh, Hàn lâm học sĩ Đào Sư Tích, Triều phụng Lê Á Phu, Tả ty hành khiển Lê Dữ Nghị, Phiêu kị đô Thượng tướng quân Đỗ Lễ, Xa kị Thượng tướng quân Nguyễn Nạp Hòa, Thân vệ Tướng quân Nguyễn Bát Sách, Thần Vũ tướng quân Lê Lặc, Thị vệ tướng quân Nguyễn Vân Nhi... Chàng nhận ra rằng thời điểm này các bậc anh hào tuấn kiệt không hề thiếu, giá mà Đại Việt có được một ông vua anh minh, chính sách trị vì nhất quán thì vận nước vẫn có thể hưng vượng, không thể nào đi đến mức suy vi như lịch sử đã ghi.
***
Mấy hôm sau, Trần Hiện bắt đầu chuyển đến sống ở phủ của mình.
Mặc dù đã chuẩn bị tâm lý trước, nhưng khi nhìn thấy cổng chính của vương phủ, Trần Hiện vẫn không kìm được cảm giác sững sờ. Trước mắt chàng là một đại môn đồ sộ, oai phong, sừng sững như một tòa núi nhỏ, thoạt nhìn đã đủ sức chấn nhiếp tâm lý người đối diện.
Cổng chính rộng hơn ba mươi mét, cao vượt quá mười mét, xây bằng đá xanh nguyên khối, chân tường lát đá trắng nhẵn bóng, trên đỉnh lợp ngói hoàng lưu ly óng ánh dưới nắng vàng. Chính giữa cổng treo một bức hoành phi rất lớn, sơn son thếp vàng, khắc bốn chữ phóng khoáng, cứng cáp như rồng bay phượng múa: "Kiến Đức Vương Phủ". Ánh sáng vàng lấp lánh phản chiếu khiến người vừa ngẩng đầu nhìn đã thấy hoa mắt, trong lòng bất giác dâng lên một niềm kính sợ.
Hai bên cổng là hai con lân đúc bằng đồng đỏ đặt trên bệ đá cẩm thạch cao gần bốn mét. Thân lân uốn cong, cơ bắp nổi cuồn cuộn, miệng há rộng, nanh nhọn lóe sáng, đôi mắt trừng trừng như nhìn thấu tâm can người ta. Dưới chân đôi lân là những đường chạm khắc hoa văn sóng nước cầu kỳ, trên mình lân từng vảy đồng, từng nếp gân đều tinh xảo, rõ ràng sinh động.
Phía trước cổng trồng một cây cột cờ bằng gỗ rất cao, trên đỉnh phấp phới một lá đại kỳ ngũ sắc, nền xanh da trời, chính giữa thêu hai chữ "Kiến Đức" bằng chỉ đỏ viền vàng, mỗi khi gió nổi lên liền tung bay phần phật, càng khiến khung cảnh thêm phần uy nghi.
Tám tên võ tướng mặc giáp sắt, tay cầm trường kích, đứng thành hai hàng chỉnh tề trước đại môn. Tất cả đều đứng ở tư thế thẳng tắp, ánh mắt nghiêm nghị, khí tức trầm ổn, vừa nhìn đã biết là tinh binh trong cấm quân hoàng gia.
Bước qua đại môn, trước mắt Trần Hiện hiện ra một lối đi rộng lát đá xanh, chính giữa đặt một tấm bình phong bằng đá trắng cao quá đầu người, mặt trước chạm nổi hình sư tử hí cầu, mặt sau là đồ án long vân uyển chuyển. Bình phong vừa có tác dụng chắn gió, vừa mang ý nghĩa trấn trạch, xua tà, thể hiện sự chu đáo và tinh tế trong kiến trúc phủ đệ hoàng gia.
Vòng qua bình phong, một khoảng sân rộng mênh mông mở ra, đủ để trăm người cùng lúc đi qua đi lại mà vẫn thênh thang. Hai bên sân dựng đầy cờ quạt, tàn lọng, cán gỗ sơn đỏ, tua vàng rủ xuống, trong gió nhẹ lay động, tạo nên một khung cảnh vừa trang nghiêm vừa hoa lệ.
Cuối sân là một tòa điện hai tầng nguy nga, mái lợp ngói vàng, đầu đao cong vút, cột trụ sơn son đỏ thẫm, chân cột bọc đồng, nền lát đá trắng mịn như gương. Dưới ánh nắng ban mai, cả tòa điện như được phủ một lớp hào quang rực rỡ, quả thật xứng tầm một Vương phủ dành cho người giữ tước vị cao quý nhất nhì hoàng tộc nhà Trần.
Viên quan Công bộ làm nhiệm vụ dẫn đường cung kính tiến lên một bước, khom người bẩm báo:
- Bẩm Vương gia, phủ đệ này hiện có ba điện chính. Trước mắt ngài là điện Cư Trai, dùng để Vương gia đọc sách, tiếp khách, bàn việc. Phía sau là điện Dưỡng Tâm, nơi ngài nghỉ ngơi, dùng bữa. Còn một điện nữa là Khánh An, dành cho bộ thuộc, thị vệ và nô bộc thân cận. Toàn phủ có hơn một trăm gian phòng lớn nhỏ, ba mươi lối hành lang có mái che, sáu vườn hoa được chăm sóc để luôn tươi tốt bốn mùa, hai hồ nước nuôi cá chép vàng. Nếu Vương gia thấy còn cần thêm điều gì, xin cứ truyền lệnh, hạ quan lập tức lo liệu.
- Được rồi, không cần thêm gì nữa.
Trần Hiện đáp gọn, nhưng trong lòng không khỏi bật cười hài hước nghĩ thầm: "Nếu so với kiếp trước sáu thằng chen chúc trong một căn phòng ký túc xá mười bốn mét vuông thì... thế này cũng tạm gọi là ổn."
Trước đây học lịch sử, chàng từng đọc qua nhiều tài liệu miêu tả về kinh thành Thăng Long giai đoạn thời Lý - Trần. Bấy giờ sau mấy trăm năm tự chủ, quốc lực Đại Việt ngày càng được tích lũy, thành quách cung điện càng ngày càng xa hoa tráng lệ. Nhưng tất cả những gì chàng từng đọc, từng học vẫn chỉ là những con chữ khô khan. Đến hôm nay, tận mắt chứng kiến từ hoàng cung của Thái thượng hoàng, cung điện của Quan gia, tẩm cung của mẫu hậu, cho đến phủ đệ của chính mình, chàng mới thực sự hiểu thế nào là quyền lực và sự xa xỉ của một vương triều đang ở đỉnh cao.
Phủ của chàng có một viên hoạn quan tên là Trần Bình làm quản lý, kẻ hầu người hạ gần tám mươi người. Nói về Trần Bình, hơn hai mươi năm trước vốn là một thanh niên nhà nghèo, cha mẹ lâm trọng bệnh mà không có tiền chữa chạy, hoàn cảnh vô cùng túng quẫn. Quan gia(2) lúc đó còn là một hoàng tử thiếu niên phong lưu, tình cờ gặp được, liền vung tay cho y 30 lượng vàng để chữa trị cho song thân. Nhờ đó Bình chữa được bệnh cho cha mẹ, lại tu bổ nhà cửa, phụ giúp gia đình có cuộc sống khấm khá hơn. Sau này Bình cảm cái ơn ấy mà không biết làm thế nào báo đáp, liền tự nguyện tịnh thân vào cung làm thái giám hầu hạ Quan gia, mấy chục năm hết mực trung thành. Bây giờ Trần Hiện lập phủ riêng, Quan gia liền cho Bình tới làm tổng quản.
---------------
2. Tức là Trần Kính (Trần Duệ Tông), cha của Trần Hiện, trong thời điểm này đang ở ngôi vua nên gọi là Quan gia.
---------------
Bảo vệ cho phủ là bảy mươi lăm cấm quân, lấy ra từ chính đội quân chàng thu phục được. Nhà Trần cho phép vương tôn quý tộc tự chiêu mộ, tổ chức quân đội riêng của mình, gọi là "Vương hầu quân" nên Quan gia đồng ý cho chàng thu nhận ba trại Sơn Nam, biên chế thành quân Thiết Bưu. Đội quân này đóng ở bên kia sông Hồng, do Dương Trân quản lý, nhưng cho Phạm Kỳ dẫn 75 người thường xuyên trực ở Vương phủ bảo vệ cho Kiến Đức Vương. Dương Trân đã được triều đình phong chức Thân vệ Tướng quân, bọn Phạm Kỳ, Đỗ Thế Lâm, Lý Phi Long, Hoàng Phụng Thế... được phong chức Đô quản. Quân Thiết Bưu cũng được chia thành các Đô, các Ngũ như quân chính quy của triều đình.
Vốn trong buổi thiết triều ngay sau hôm tổ chức tiệc đón Trần Hiện, Khu mật viện đại sứ Lê Quý Ly đã liên danh với Cung Chính vương Trần Sư Hiền dâng tấu xin xử tội bọn Dương Trân, Đỗ Thế Lâm và Phạm Kỳ vì trước đây làm cướp phản lại triều đình. Nhưng Trần Hiện biết tin kịp thời, đã cùng Hoàng hậu vào cung xin với Thái thượng hoàng. Trần Hiện quỳ xuống xin nhận tội trong vụ cướp lương và vụ đánh tan đội quân của Hoàng Phụng Thế. Mặt khác, Phạm Kỳ lại chính là cháu nội của danh tướng Phạm Ngũ Lão, trước đây đã từng được triều đình tin tưởng giao cho bảo vệ hoàng thất, nên cuối cùng Thái thượng hoàng và Quan gia đã đồng ý xóa tội cho mấy người này.
Trong hành lý của Trần Hiện vẫn còn lá thư của ông đồ Nhân làng Vang gửi cho Vũ Huy tiên sinh, nguyên Thị lang Bộ Lễ. Trải qua thời gian ở Chiêu Anh trại, chàng chưa thể thực hiện được yêu cầu của ông đồ Nhân, nay đã về kinh thành, Trần Hiện liền sai người mang thư đến
Q1·Ch.16: Cuộc sống của một vương gia
📖 Quyển 1: Lạc tới thời Trần