Nói đến đây, Trần Mộng Dữ còn hạ thấp giọng:
- Điện hạ vốn là trưởng tử của Thái Thượng hoàng, huyết thống chính thống hơn bất cứ ai. Nếu luận tôn ti, ngôi báu vốn phải thuộc về điện hạ mới đúng. Chẳng lẽ điện hạ cam lòng để ngai báu rơi vào tay người khác sao?
Mấy lời ấy chẳng khác nào đổ dầu vào lửa.
Từ thuở nhỏ, Trần Húc vốn đã được nuôi lớn trong nhung lụa, sinh ra giữa cung vàng điện ngọc, quen nghe người ta tung hô mình là "kim chi ngọc diệp". Hắn đọc nhiều thi thư, yêu thơ phú, thích đàn sáo, quen cảnh mỹ nữ hầu hạ, gấm vóc phủ thân; trong mắt hắn, lê dân thiên hạ chẳng qua chỉ là đám tiện dân sinh ra để phụng sự hoàng tộc.
Năm xưa khi tiên đế nam chinh tuẫn quốc, Thái Thượng hoàng lập Trần Hiện lên kế vị, ngoài mặt Trần Húc vẫn giữ vẻ bình thản, nhưng trong lòng đã sớm chất chứa một mối oán hận khó nguôi. Hắn vẫn luôn cho rằng mình mới là trưởng tử của Thái Thượng hoàng, là người gần ngôi báu nhất. Xét về huyết thống, xét về danh phận, xét về lễ pháp, hoàng vị đáng lẽ phải truyền cho hắn, chứ không phải một đứa em con vua chú.
Huống hồ, trong mắt Trần Húc, Trần Hiện chẳng qua chỉ là một đứa trẻ từng lưu lạc giữa dân gian, lớn lên nơi đầu đường xó chợ, làm sao sánh nổi với mình - người từ nhỏ đã đọc đủ kinh sử, thông lễ nhạc, hiểu phép trị quốc của bậc đế vương?
Ý nghĩ ấy ngày một ăn sâu vào tâm trí hắn, giống như cỏ dại bén rễ, càng nhổ càng mọc. Bởi vậy, vừa nghe Trần Mộng Dữ nói xong, Trần Húc gần như không cần suy nghĩ.
Ngay trong đêm, hắn tự tay viết một bản tấu chương. Trong tờ biểu, từng câu từng chữ đều hết sức thống thiết. Nào là nhớ cha già ngày đêm không ngủ, nào là xa kinh thành nhiều năm, lòng luôn canh cánh chưa trọn chữ hiếu; lại tự nhận tài hèn đức mỏng, xin được giao lại việc trấn thủ Thuận Hóa để trở về phụng dưỡng song thân, hầu hạ dưới gối Thái Thượng hoàng những năm cuối đời.
Người ngoài đọc vào, ai cũng phải tấm tắc khen là một người con chí hiếu. Chỉ có Trần Mộng Dữ biết rõ, phía sau những lời lẽ thống thiết ấy là tham vọng ngự trị ngai vàng đang bốc cháy trong lòng Ngự Câu Vương.
Thái Thượng hoàng vốn là người trọng tình hơn trọng lý. Trong số các hoàng tử, người được ngài yêu thương nhất từ trước đến nay vẫn luôn là Trần Húc. Không chỉ bởi Húc là trưởng tử, mà còn vì mọi mặt của hắn đều rất giống Thái Thượng hoàng thuở thanh niên: khuôn mặt thư sinh, phong thái ung dung, tính tình ôn hòa, yêu văn chương hơn gươm giáo. Không như Trang Định Vương Trần Ngạc tuy dũng mãnh, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, nhưng tính khí nóng nảy, lời nói cộc cằn, quanh năm chỉ biết chuyện binh đao, không hợp với sở thích của Thái Thượng hoàng.
Bởi vậy, khi đọc xong tờ biểu của Trần Húc, Thái Thượng hoàng bất giác nước mắt lưng tròng. Ngài cầm tờ biểu rất lâu, khẽ thở dài:
- Đứa nhỏ này... cuối cùng cũng biết nhớ cha già rồi...
Ngay buổi chầu hôm sau, Thái Thượng hoàng liền tuyên bố trước bá quan rằng muốn triệu Ngự Câu Vương hồi kinh. Lê Quý Ly nghe xong, lập tức bước ra tán tụng. Lão cúi đầu, giọng đầy vẻ chân thành:
- Phụ tử đoàn viên vốn là chuyện vui của thiên hạ. Thần xin chúc mừng Thái Thượng hoàng.
Kế sách vốn do chính lão bày ra, nay lại giả bộ như người ngoài cuộc, khiến không ít đại thần không hiểu đều lấy làm cảm động.
Tư đồ Trần Nguyên Đán xưa nay vốn kính thuận Thái Thượng hoàng, nghe vậy cũng bước ra chúc mừng. Giản Hoàng ngồi trên ngai vàng, chỉ lặng lẽ nhìn xuống điện, từ đầu đến cuối không phát biểu một lời.
Các đại thần thấy bốn người đứng đầu triều đình đều đã tỏ thái độ, còn ai dám phản đối? Đám nịnh thần vốn giỏi nhất là khoản xu phụ lập tức thi nhau bước ra, hết lời ca ngợi Ngự Câu Vương hiếu thuận, đức độ, nói đến mức tưởng như Trần Húc là bậc hiền vương hiếm có trong thiên hạ.
Không một ai còn nhắc tới việc chỉ ba năm trước, chính vị "hiền vương" ấy đã từng vì tham sống sợ chết mà cam tâm cúi đầu trước quân Chiêm, chịu sống mấy năm ở Đồ Bàn, thậm chí còn nhận chức Phò mã của Chiêm Thành.
Chẳng bao lâu sau, chiếu chỉ được ban xuống. Chức Thuận An Đại vương bị bãi bỏ, Trần Húc lập tức hồi kinh.
= = =
Đến nay, Ngự Câu Vương đã trở về Thăng Long gần hai tháng. Những ngày đầu, hoàng thất mở yến tiệc liên miên để đón người con xa xứ trở về. Vương công quý tộc, văn võ bá quan nối nhau đến chúc mừng, khiến Trần Húc ngỡ rằng vận hội của mình đã tới.
Nào ngờ, tiệc tan người tản, mọi chuyện lại trở về như cũ. Lê Quý Ly vẫn ngày ngày bận rộn với quốc chính. Những kẻ tâm phúc của lão cũng kẻ lo việc quân, người coi việc dân, chẳng ai buồn đoái hoài đến một vị vương gia chỉ có hư danh mà không nắm nổi lấy một binh một tốt trong tay.
Trần Húc lại càng không có chức vụ nào trong triều. Ngay cả quyền dự triều nghị chính cũng không có, chỉ có thể quanh quẩn trong phủ, ngày ngày chờ đợi. Mỗi lần vào cung vấn an Thái Thượng hoàng và Thục Từ Hoàng thái hậu(1), hai vị trưởng bối đều ân cần hỏi han chuyện ăn ở, sức khỏe, bảo hắn kể lại những tháng ngày nơi đất Thuận Hóa, rồi lại than thở thương con phải chịu nhiều gian khó mà cất tiếng an ủi.
----------------------
1. Hoàng hậu của Trần Nghệ Tông, mẹ của Trần Húc.
----------------------
Nhưng điều Trần Húc mong mỏi nhất không phải là những lời như vậy. Hắn mong từ kim khẩu của Thái thượng hoàng, hoặc ít nhất từ Thục Từ Hoàng thái hậu, một lời nhắc đến chuyện phế lập, một lời bóng gió về ngôi báu, hay chí ít là một ánh mắt ám chỉ.
Thì những điều đó tuyệt nhiên không có.
Điều ấy khiến ngọn lửa tham vọng trong lòng Ngự Câu Vương từ hy vọng dần biến thành sốt ruột, rồi từ sốt ruột hóa thành bực bội, nóng nảy. Bởi vậy chỉ trong mấy ngày gần đây, cả phủ Hàm Long đã có hơn chục nô bộc vô cớ chịu đòn, một người còn phải bỏ mạng dưới côn trượng vì cơn giận không biết trút vào đâu của vị vương gia đang ôm mộng đế vương.
Đinh Thế Ngọc vốn là tâm phúc theo hầu Trần Húc nhiều năm. Mấy hôm trước, y lặng lẽ dò hỏi khắp nơi, lại đem chút bạc vàng mua chuộc vài tên lại dịch trong các nha môn, cuối cùng mới nghe ngóng được ít tin tức để đem về bẩm báo.
Theo lời hắn, chỉ trong hơn một năm ngắn ngủi, thế lực của Quan gia đã khác hẳn trước kia. Bề ngoài triều đình vẫn do Lê Quý Ly thao túng, nhưng trong bóng tối, người của Quan gia đã âm thầm cắm rễ khắp nơi. Trong Hành khiển ty, trong Cấm quân, ngoài các lộ, ngay cả không ít tông thất và đại thần vốn giữ thái độ trung lập cũng bắt đầu ngả về phía nhà vua. Nghe nói ngay cả Lê Quý Ly cũng nhiều phen phải cau mày dè chừng, không còn dám coi vị thiên tử trẻ tuổi là kẻ có thể mặc sức bài bố như trước nữa.
Tin ấy đối với người khác có lẽ là việc đáng mừng, nhưng đối với Trần Húc chẳng khác nào một gáo nước đá dội thẳng xuống đầu.
Y vốn đặt tất cả hy vọng vào việc Lê Quý Ly phế bỏ Trần Hiện để đưa mình lên ngôi. Nay đối thủ ngày một lớn mạnh, còn bản thân lại bị bỏ mặc như món đồ vô dụng, trong lòng làm sao không nóng như lửa đốt?
Trong chốn thâm cung, hôm nay được sủng ái, ngày mai thất thế vốn là chuyện thường như cơm bữa. Người hôm qua còn ngồi trên ghế cao, sáng hôm sau đã trở thành tội nhân dưới ngục tối cũng chẳng phải hiếm. Huống hồ Trần Húc còn mang tiếng từng đầu hàng Chiêm Thành, trong triều không biết bao nhiêu người ngấm ngầm khinh ghét. Một khi Lê Quý Ly không còn cần đến y nữa, e rằng ngay cả thân phận một vị nhàn tản vương gia cũng khó giữ nổi.
Nghĩ đến đó, Trần Húc chỉ cảm thấy trong lòng tê tái.
Y bất giác nhớ lại những ngày còn ở Thuận Hóa. Tuy nơi ấy xa kinh thành ngàn dặm, biên cương gió cát, nhưng dầu sao y vẫn là Thuận An Đại vương, danh nghĩa thống lĩnh cả một vùng. Từ quan An phủ sứ, Tri phủ, Tri huyện cho đến đám võ tướng dưới quyền, mỗi lần y xuất hành đều phải quỳ hai bên đường nghênh đón. Công văn trong lộ, việc lớn việc nhỏ đều phải trình qua phủ Đại vương xin phê chuẩn. Muốn điều bao nhiêu quân, trưng bao nhiêu dân phu, chỉ cần một tờ lệnh ký tên đóng ấn là lập tức có người thi hành. Mỗi lần cưỡi ngựa tuần sát, cờ tiết mao phấp phới, tiền hô hậu ủng, uy phong lẫm liệt, thật chẳng khác một vị quân chủ cát cứ.
Thế mà, giờ đây trở về Thăng Long, tuy vẫn mang tước Ngự Câu Vương, song thực chất chẳng khác nào con chim bị nhốt trong chiếc lồng son. Không binh quyền, không chức vụ, không thuộc hạ, không một người nào thực sự coi trọng.
Mỗi ngày, việc duy nhất của y chỉ là đúng giờ vào cung vấn an Thái Thượng hoàng, thỉnh an Hoàng thái hậu, rồi lại lặng lẽ trở về điện Hàm Long. Bốn bề tường son ngói đỏ nhìn qua tưởng như vinh hiển, nhưng đối với Trần Húc lại chẳng khác nào một nhà lao được dát vàng.
Thỉnh thoảng có vài vị đại thần gặp y ngoài hành lang cung cấm, ai nấy đều dừng chân thi lễ, miệng xưng một tiếng "Vương gia" hết sức cung kính. Nhưng Trần Húc hiểu rõ, sự cung kính ấy chỉ là phép tắc của triều đình. Trong ánh mắt họ không còn nửa phần kính sợ như thuở y còn trấn giữ Thuận Hóa. Có người thậm chí còn chẳng buồn nán lại đôi câu, chỉ vừa hành lễ đã vội vàng bước đi, cứ như sợ đứng gần y thêm một khắc cũng sẽ chuốc lấy phiền toái.
Đó mới là điều khiến Trần Húc đau đớn nhất.
Một cơn gió bấc thốc qua hành lang. Lá trúc ngoài sân xào xạc va vào nhau, mấy cành lan trước cửa sổ khẽ lay động trong giá rét, hương thơm nhè nhẹ theo gió len vào điện.
Trần Húc khẽ rùng mình. Y kéo cao cổ áo hồ cừu, hai tay giấu sâu trong ống tay áo mà vẫn cảm thấy cái lạnh như thấm tận xương tủy. Không biết là vì tiết đông, hay bởi lòng người lạnh lẽo hơn gió bấc ngoài kia.